LỜI CÁM ƠN
Đề tài hoàn thành nhờ sự giúp đỡ snhiệt tình của các thầy cô khoa
hóa trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội , đặc biệt là nhờ sự giúp đỡ nhiệt
tình của PGS.TS Nguyễn Xuân Trường .
Với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cám ơn PGS.TS
Nguyễn Xuân Trường đã dành nhiều thời gian hướng dẫn , đọc bản thảo ,
bổ sung và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận
văn .
Tôi xin chân thành cám ơn ban giám hiệu , ban chủ nhiệm khoa
hóa , phòng quản lý khoa học và các thầy cô giáo của trường Đại học sư
phạm Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
học tập và hoàn thành luận văn .
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám hiệu , tập thể giáo viên và
học sinh các trường THPT Hoàng Hoa Thám , trường THPT Long Thới ,
THPT Bình Phú , THPT An Đông đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực
nghiệm sư phạm để hoàn thành luận văn .
Sau cùng tôi xin gởi lời cám ơn chân thành nhất đến gia đình ,
bạn bè và những người thân đã luôn luôn quan tâm , động viên giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn .
TP.Hồ Chí Minh , ngày tháng 11 năm 2006
Tác giả
Nguyễn Đức Chính .
1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU , CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT .
% : Phần trăm
BTKL : Bảo toàn khối lượng .
CNXH : Chủ nghóa xã hội
CTTQ : Công thức tổng quát
CTPT : Công thức phân tử
ĐC : Đối chứng
Đktc : Điều kiện tiêu chuẩn .
Để thực hiện nghò quyết số : 40/2000/QH10 của quốc hội và chỉ thò số
14/2001/CT-TTG của thủ tướng chính phủ về việc đổi mới nội dung chương trình , sách
giáo khoa phổ thông , đổi mới phương pháp dạy học , đònh hướng đổi mới cách đánh giá
kiểm tra môn học (có sử dụng 30 40 % trắc nghiệm khách quan ) thì ngành giáo dục
đã không ngừng phát triển về mọi mặt với mục tiêu và phương châm nâng cao hơn nữa
chất lượng dạy và học .Vì vậy ngành giáo dục đã luôn có sự đổi mới , tích lũy , cải tiến
phương pháp dạy học cho phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước .
Nhưng việc nâng cao chất lượng dạy và học đòi hỏi người giáo viên
phải luôn tự trao dồi kiến thức ,nghiên cứu các phương pháp tối ưu nhất
để truyền đạt cho HS khối lượng kiến thức cơ bản một cách chính xác ,
3
khoa học và sâu sắc , bên cạnh đó phải đào tạo học sinh trở thành những
con người có khả năng đáp ứng được những yêu cầu phát triển kinh tế xã
hội , biết vận dụng sáng tạo , giải quyết đựơc các vấn đề học tập mà thực
tiễn đặt ra và nhất là dễ hòa nhập với cộng đồng.
Nhằm đáp ứng được những yêu cầu trên trong những năm gần đây
,việc đánh giá kết quả học tập , thi cử của học sinh đã được ngành giáo
dục thực hiện bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan ở một số bộ
môn khoa học.Việc sử dụng TNKQ trong KT-ĐG và thi cử có rất nhiều
ưu điểm : kiểm tra đựơc nhiều nội dung kiến thức , kó năng của học sinh ,
đánh giá kết quả học tập của học sinh một cách khách quan .Đặc biệt
phương pháp này còn bồi dưỡngcho học sinh năng lực tự đánh giá kết quả
học tập của bản thân , tự giác chủ động tích cực học tập , tự tìm lấy kiến
thức cho bản thân , biết vận dụng sáng tạo linh họat và nhanh nhạytrong
mọi tình huống .
Việc sử dụng câu hỏi và bài tập TNKQ trong kiểm tra đánh giá là
một trong những biện pháp thiết thực nâng cao chất lượng giảng dạy nên
đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Nguyễn Xuân Trường ,
Trần Trung Ninh , Ngô Ngọc An ... Tuy nhiên việc xây dựng hệ thống các
bài toán hóa học hữu cơ có thể giải nhanh để làm câu TNKQ nhiều lựa
+ Bước đầu nghiên cứu việc sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm
khách quan .
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra , đánh giá chất
lượng và khả năng sử dụng các bài tóan hóa hữu cơ trên để dùng làm câu
TNKQ nhiều lựa chọn .
V. GIẢ THIẾT KHOA HỌC
+ Nếu như xây dựng được hệ thống bài tập hóa học hữu cơ đa dạng
phong phú và sử dụng hiệu quả hệ thống bài tập trắc nghiệm khách này
trong việc phối hợp chặt chẽ với các hình thức tổ chức trong quá trình
trong quá trình dạy học một cách hợp lí , thường xuyên thì đáp ứng được
đònh hướng đổi mới chủ động tích cực của học sinh nhằm góp phần nâng
cao chất lượng dạy và học .
+ Sử dụng bài tóan có cách giải nhanh làm câu TNKQ sẽ phát huy
năng lực tư duy sáng tạo , vận dụng linh hoạt của học sinh trong quá trình
giải bài tóan hóa học hữu cơ.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
VI.1. Nghiên cứu lí luận
+ Nghiên cứu các văn bản và chỉ thò của Đảng , nhà nước và
Bộ giáo dục – Đào tạo có liên quan đến đề tài .
+ Nghiên cứu các tài liệu liên quan về lí luận dạy học , tâm lí
học , giáo dục học và các tài liệu khoa học cơ bản liên quan đến đề tài
6
.Đặc biệt nghiên cứu kó về những cơ sơ lí luận của TNKQ và các phương
pháp giải nhanh một số bài toán hóa học hữu cơ trong chương trình THPT
.
VI.2 . Điều tra cơ bản và trao đổi kinh nghiệm
+ Điều tra tổng hợp ý kiến các nhà nghiên cứu giáo dục , các
giáo viên dạy hóa ở trường THPT về nội dung , kiến thức và kó năng sử
dụng các bài tóan hóa học hứu cơ để làm câu TNKQ nhiều lựa chọn .
+ Thăm dò ý kiến của học sinh sau khi được kiểm tra bằng
nghiệm về trí thông minh .Năm 1916 Lewis Terman đã dòch và soạn các
bài trắc nghiệm này ra tiếng anh từ đó trắc nghiệm trí thông minh được
gọi là trắc nghiệm Stanford-Binet.
Theo Giáo sư Trần Bá Hoành < 6 > vào đầu thế kỷ XX , E.Thorm
Dike là người đầu tiên đã dùng TNKQ như là phương pháp “khách quan
và nhanh chóng “để đo trình độ học sinh ,bắt đầu dùng với môn số học và
sau đó là một số môn khác .
Trongnhững năm gần đây trắc nghiệm là một phương tiện có giá trò
trong giáo dục.Hiện nay trên thế giới trong các kỳ kiểm tra , thi tuyển
một số môn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến .
Ở Mỹ , vào đầu thế kỷ XX đã bắt đầu áp dụng phương pháp trắc
nghiệm vào quá trình dạy học .Năm 1940 đã xuất bản nhiều hệ thống
trắc nghiệm đánh giá kết quả học tập của học sinh .Năm 1961 có 2126
mẫu trắc nghiệm tiêu chuẩn .Đến năm 1963 đã sử dụng máy tính điện tử
thăm dò bằng trắc nghiệm trên diện rộng .
Ở Anh thành lập hội đồng toàn quốc hàng năm quyết đònh các mẫu
trắc nghiệm tiêu chuẩn cho các trường trung học .
9
Ở Nga , trong những năm đầu của thế kỷ XX nhiều nhà sư phạm đã sử
dụng kinh nghiệm của nước ngoài nhưng thiếu chọn lọc nên bò phê
phán .Đến năm 1962 đã phục hồi khả năng sử dụng trắc nghiệm trong
dạy học .
Ở Trung Quốc đã áp dụng trắc nghiệm trong kỳ thi đại học từ năm
1985 .
Ở Nhật Bản cũng đã sử dụng phương pháp trắc nghiệm và có một trung
tâm quốc gia tuyển sinh đại học phụ trách vấn đề này .
Ở Hàn Quốc từ những năm 1980 đã thay các kỳ tuyển sinh riêng rẽ ở
từng trường bằng kỳ thi trắc nghiệm thành quả học tập trung học bậc cao
toàn quốc .
1.1.1.2 . Ở Việt Nam .
quản lý giáo dục .
1.1.2. Khái niệm về trắc nghiệm .
Theo GS Dương Thiệu Tống : “ Một dụng cụ hay phương thức hệ thống
nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời câu hỏi : thành tích của
11
các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh
với một lónh vực các nhiệm vụ dự kiến “ <19 > .Theo GS .Trần Bá Hoành
: “ Test có thể tạm dòch là phương pháp trắc nghiệm , là hình thức đặc
biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực , trí tuệ của học sinh ( thông
minh , trí nhớ , tưởng tưởng , chú ý ) hoặc để kiểm tra một số kiến thức ,
kó năng , kó xảo của học sinh thuộc một chương trình nhất đònh < 6 > .
Tới nay ,người ta hiểu trắc nghiệm là một bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có
kèm theo câu trả lời sẵn yêu cầu học sinh suy nghó rồi dùng một kí hiệu
đơn giản đã quy ước để trả lời .
1.1.3.Chức năng của trắc nghiệm .
Nhiều tác giả đề cặp tới chức năng của trắc nghiệm , chúng tôi chỉ
tập trung tới chức năng của trắc nghiệm đối với dạy học .
Với người dạy , sử dụng trắc nghiệm nhằm cung cấp thông tin ngược
chiều để điều chỉnh phương pháp nội dung cho phù hợp , nắm bắt được
trình độ người học và quyết đònh nên bắt đầu từ đâu , tìm ra khó khăn để
giúp đỡ người học , tổng kết để thấy đạt mục tiệu hay chưa , có nên cải
tiến phương pháp hay không và cải tiến theo hướng nào , trắc nghiệm
nâng cao được hiệu quả giảng dạy .
Với người học , sử dụng trắc nghiệm có thể tăng cường tinh thần trách
nhiệm trong học tập , học tập trở nên nghiêm túc . Sử dụng trắc nghiệm
giúp người học tự kiểm tra đánh giá kiến thức kó năng , phát hiện năng
lực tìm ẩn của mình ( bằng hệ thống trắc nghiệm trên máy tính , nhiều
chương trình tự kiểm tra và động viên khuyến khích người sử dụng tự
12
phát hiện khả năng của họ về một lónh vực nào đó ) .Sử dụng trắc nghiệm
Tự
trả
lời
Bài
toán
ngôn ngữ chuyên môn của chính mình trong một khoảng thời gian đã đònh
trước .
TNTL cho phép học sinh sự tự do tương đối nào đó để viết ra câu trả
lời tương ứng với mỗi câu hỏi hay một phần của câu hỏi trong bài kiểm
tra nhưng đồng thời đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức , phải biết sắp
xếp và diễn đạt ý kiến của mình một cách chính xác và rõ ràng .
Bài TNTL trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ
quan và điểm cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống
nhất .Một bài tự luận thường ít câu hỏi vì phải mất nhiều thời gian để viết
câu trả lời < 11 > , < 16 > .
* Ưu nhược điểm của trắc nghiệm tự luận .
- Ưu điểm :
+Câu hỏi TNTL đòi hỏi học sinh phải tự trả lời và diễn đạt bằng
ngôn ngữ của chính mình , nên nó có thể đo được nhiều mức độ tư duy ,
đặc biệt là có khả năng phân tích , tổng hợp ,so sánh .Nó không những
kiểm tra được độ chính xác của kiến thức mà học sinh nắm được , mà còn
kiểm tra được kó năng , kó xảo giải bài tập đònh tính cũng như đònh lượng
của học sinh .
+Có thể kiểm tra đánh giá các mục tiêu liên quan đến thái độ , sự
hiểu biết những ý niệm, sở thích và tài diễn đạt các tư tưởng .Hình thành
14
cho học sinh thói quen sắp đặt ý tưởng ,suy diễn , khái quát hóa , phân
tích , tổng hợp .... phát huy tính độc lập tư duy sáng tạo .
+ việc chuẩn bò câu hỏi dễ ít tốn thời gian so với câu hỏi TNKQ .
+ Tuy việc biên soạn câu hỏi tốn thời gian , song việc chấm bài nhanh
chóng, chính xác .Ngoài ra có thể sử dụng các phương tiện kó thuật để
chấm bài một cách rất nhanh chóng và chính xác .
+ Gây hứng thú và tích cực học tập cho học sinh .
+ Giúp học sinh phát triển kó năng nhận biệt , hiểu , ứng dụng và phân
tích .
+ Với phạm vi bao quát rộng của bài kiểm tra , học sinh không thể chuẩn
bò tài liệu để quay cóp .Việc áp dụng công nghệ mới vào việc ssoạn thảo
các đề thi cũng hạn chế đến mức thấp nhất hiện tượng nhìn bài hay trao
đổi bài .
16
-Nhược điểm :
+ Phương pháp TNKQ hạn chế việc đánh giá năng lực diễn đạt viết hoặc
nói , năng lực sáng tạo , khả năng lập luận , không luyện tập cho học sinh
cách hành văn , cách trình bày , không đánh giá được tư tưởng , nhiệt tình
thái độ của học sinh .
+Có yếu tố ngẫu nhiên , may rủi .
+ Việc soạn câu hỏi đòi hỏi nhiều thời gian và công sức
+ Tốn kém trong việc soạn thảo , in ấn đề kiểm tra và học sinh cũng mất
nhiều thời gian để đọc câu hỏi .
- Các lọai câu hỏi TNKQ và ưu nhược điểm của chúng .
* Loại đúng - sai hoặc co ù - không .
Lọai này được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và thí sinh phải
trả lời bằng cách lựa chọn đúng ( Đ ) hoặc sai ( S ) .Hoặc chúng có thể là
những câu hỏi trực tiếp để được trả lời là có hay không .Loại câu này rất
thông dụng vì loại câu này thích hợp với các kiến thức sự kiện , có thể
kiểm tra kiến thức trong một thời gian ngắn .Giáo viên có thể soạn đề thi
trong một thời gian ngắn .Khuyết điểm của loại này là khó có thể xác
đònh điểm yếu của học sinh do yếu tố đoán mò xác suất 50% , có độ tin
cậy thấp , đề ra thường có khuynh hướng trích nguyên văn giáo khoa nên
phần lựa chọn .Phần gốc là câu hỏi hay câu bỏ lửng ( chưa hoàn tất ) phải
đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho thí sinh hiểu
rỏ câu hỏi trắc nghiệm để chọn câu trả lời thích hợp .Phần lựa chọn gồm
nhiều cách giải đáp trong đó có một phương án còn lại là “ mồi nhữ “ hay
câu nhiễu .
Ưu điểm của loại câu hỏi nhiều lựa chọn :
- Giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này để kiểm tra đánh giá những mục
tiêu giảng dạy ,học tập khác nhau chẳng hạn như :
+ Xác đònh mối tương quan nhân quả .
+ Nhận biết các điều sai lầm .
+ Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau .
+ Đònh nghóa các thành ngữ .
+ Tìm nguyên nhân của một số sự kiện .
+ Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều vật .
+ Xác đònh nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ các sự kiện .
+ Xác đònh thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật .
+ Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm .
Độ tin cậy cao hơn , yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều so với các
loại TNKQ khác khi số phương án chọn lựa tăng lên.
HS buộc phải xét đoán ,phân biệt kó càng trước khi trả lời câu hỏi .
19
Tính giá trò tốt hơn , với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn
người ta có thể đo được các khả năng nhớ , áp dụng các nguyên lý ,đònh
luật ,tổng quát hóa rất hữu hiệu .
Có thể phân tích tính chất mỗi câu hỏi .Dùng phương pháp phân tích tính
chất câu hỏi , chúng ta có thể xác đònh câu nào quá dễ , câu nào quá
khó ,câu nào không có giá trò đối với mục tiêu cần trắc nghiệm , có thể
xem xét câu nào không có lợi hoặc làm giảmgiá trò câu hỏi .
Thật sự khách quan khi chấm bài , điểm số của bài trắc nghiệm khách
quan không phụ thuộc vào chữ viết , khả năng diễn đạt hoặc trình độ
mỗi phương án đúng trong các câu nhiều lựa chọn 5 phương án của bài
trắc nghiệm nên xấp xỉ bằng 20% , trường hợp thí sinh chỉ chọn một
phương án cố đònh thì khi tính điểm hiệu chỉnh thì sẽ có điểm theo công
thức :
Điểm số = -
21
Số câu trả lời sai
Số phương án -1
Số câu trả lời đúng
-Phải chắc chắn chỉ có một phương án trả lời đúng , còn các phương án
còn lại thật sự nhiễu .Không được đưa vào hai câu chọn cùng một ý nghóa
, mỗi câu kiểm tra chỉ nên viết về một nội dung kiến thức nào đó .
Thời gian để trả lời một câu hỏi ít từ 1 3 phút , do đó các môn khoa
học tự nhiên , đặc biệt là hóa học khi xây dựng các bài toán TNKQ nhiều
lựa chọn nên xây dựng và biên soạn các bài toán có thể giải nhanh giúp
học sinh phát triển tư duy , óc sáng tạo , khả năng phán đóan một cách
logic và khoa học .
1.1.5.Đánh giá chất lượng câu hỏi TNKQ .
Để đánh giá chất lượng của câu TNKQ hoặc của đề thi TNKQ ,người ta
thường dùng một số đại lượng đặc trưng .
Sau đây chúng tôi chỉ giới thiệu một số đại lượng quan trọng nhất , bằng
cách giải thích đònh tính đơn giản < 12 > .
1.1.5.1 .Độ khó hoặc độ dễ của câu hỏi .
Khi nói đến độ khó , ta phải xem xét câu TNKQ là khó đối với đối tượng
nào .Nhờ việc thử nghiệm trên các đối tượng học sinh phù hợp , người ta
có thể xác đònh độ khó như sau : Chia loại học sinh làm 3 nhóm
Nhóm giỏi : gồm 27% số lượng học sinh có điểm số cao nhất của kỳ kiểm
tra .
Nhóm kém : gồm 27% số lượng học sinh có điểm thấp của kỳ kiểm tra .
Nhóm trung bình : gồm 46% số lượng học sinh còn lại , không phụ thuộc
Nếu DV < 10% và DV > 90% không dùng .
1.1.5.2. Độ phân biệt :
23
Khi ra một câu hỏi hay một bài trắc nghiệm cho một nhóm học
sinh nào đó , người ta muốn phân biệt trong nhóm ấy những người có
năng lực khác nhau như : giỏi , khá , trung bình, kém … Câu TNKQ thực
hiện khả năng đó gọi là có độ phân biệt .Muốn cho câu hỏi có độ phân
biệt thì phản ứng của nhóm học sinh giỏi và nhóm học sinh kém đối với
câu hỏi đó hiển nhiên phải khác nhau . Thực hiện phép tính thống kê ,
người ta tính được độ phân biệt DI theo công thức :
N
G
- N
K
DI =
n
Thang phân loại độ phân biệt được quy ước như sau :
Tỉ lệ học sinh nhóm giỏi và nhóm kém là đúng như nhau thì độ phân biệt
bằng 0
Tỉ lệ học sinh nhóm giỏi làm đúng nhiều hơn nhóm kém thì độ phân biệt
là dương ( độ phân biệt dương nằm trong khoảng từ 0 -1)
Tỉ lệ thí sinh nhóm giỏi làm đúng ít hơn nhóm kém thì độ phân biệt là âm
.
Cụ thể như sau :
< DI < 0,2 : Độ phân biệt rất thấp giữa HS giỏi và HS kém .
0,2 < DI < 0,4 : Độ phân biệt thấp giữa HS giỏi và HS kém .
0,4 < DI < 0,6 : Độ phân biệt trung bình giữa HS giỏi và HS kém .
0,6< DI < 0,8 : Độ phân biệt cao giữa HS giỏi và HS kém .
0,8 < DI < 1 : Độ phân biệt rất cao giữa HS giỏi và HS kém .