LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu ,em đã nhận được rất nhiều sự giúp
đỡ, hướng dẫn tận tình của các Thầy cô giáo và các cán bộ trong ban tổ chức
cán bộ lao động của Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam.Qua đây em xin
chân thành cảm ơn những người đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này. Đặc
biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Trần Thị Phương Hiền là
người trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình viết đề tài.Em xin cảm ơn anh
Phạm Duy Đức là cán bộ trong ban tổ chức cán bộ lao động - Tập đoàn đã
giúp đỡ em nghiên cứu, học hỏi trong thời gian thực tập tại Ban.
1
LỜI MỞ ĐẦU
Ở bất cứ thời đại nào trong lịch sử ,cái quyết định đến sự phát triển của
lực lượng sản xuất nói riêng và xã hội nói chung là nhân tố con người .Vì thế
coi trọng nhân tố con người và phát triển nguồn lực con người là bí quyết
thành công của mỗi quốc gia. Với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì môi
trường cạnh tranh ngày càng gay gắt thì các doanh nghiệp phải tự đổi mới
mình lớn mạnh hơn, vững vàng hơn tạo tiếng nói riêng cho mình. Thành công
hay thất bại của doanh nghiệp phần lớn là do con người, trong tổ chức đó
quyết định ,vì người lao động quyết định trực tiếp tới chất lượng sản phẩm,kết
quả sản xuất kinh doanh.Với lí do đó các doanh nghiệp ngày càng chú trọng
vào việc nâng cao trình độ cho người lao động, để họ thực hiện công việc một
cách hiệu quả nhất hay nói cách khác, công tác đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực là một công việc không thể thiếu trong mọi tổ chức.
Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam là một doanh nghiệp có quy
mô lớn.Trong quá trình phát triển Tập đoàn đã có nhiều chuyển đổi quan
trọng. Ngoài những thay đổi về nguồn vốn, cơ sở vật chất ,kĩ thuật công nghệ
thì chiến lược quản lí nhân sự cũng được quan tâm chú trọng,trong đó công
tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ,với mục đích tạo ra đội ngũ lao động
có tay nghề trình độ cao đáp ứng yêu cầu công việc đưa nghành công nghiệp
tàu thuỷ Việt Nam có những bước đi đột phá trong quá trình hội nhập tập
đoàn đã tập trung tiềm lực thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng lao
PHẦN I
TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP
TÀU THUỶ VIỆT NAM
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của tập đoàn
Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam là một doanh nghiệp nhà
nước có quy mô lớn được thành lập tại quyết định số 69/Q-TTG ngày 31-1-
1996 của thủ tướng chính phủ hoạt động theo điều lệ được phê chuẩn tại nghị
định số 33/CP ngày 27-5-1996 của chính phủ.Tại thời điểm thành lập tập
đoàn có 23 đơ vị thành viên (21 đơn vị thành viên hạch toán độc lập và 2 đơ
vị liên doanh với nước ngoài) Qua hơn 10 năm xây dựng và phát triển đến
nay đơn vị đã có 87 đơn vị thành viên nằm trải dài trên địa bàn cả nước từ
Quảng Ninh đến mũi Cà Mau,trong đó có 37 đơn vị thành viên hạch toán độc
lập,17 đơn vị hạch toán phụ thuộc ,26 công ti cổ phần ,7 công ty liên doanh
với nước ngoài, 3 văn phòng đại diện tại Hải Phòng ,Đà Nẵng ,TP Hồ Chí
Minh,7 văn phòng đại diện ở nước ngoài tại Đức,Ba Lan ,úc,Nga,Irac,Hàn
Quốc ,Mỹ.
Trước năm 1995 nghành công nghiệp tàu thuỷ chưa được quan tâm phát
triển nên rơi vào tình trạng khủng hoảng thiếu việc làm .Số lao động tuổi đời tuổi
nghề cao chiếm tỉ lệ lớn ,do đó cần phải có một lực lượng mới thay thế.
Ngày nay ,tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam đã có bước phát
triển mới ,có những chuyển biến sâu sắc và toàn diện,có thế và có lực mới ,có
điểm xuất phát cao hơn để bước vào giai đoạn phát triển nhanh,bền vững hiệu
quả góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá,
khai thác tiềm năng về biển phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế biển .Với tốc
độ phát triển trên 30%/năm,tập đoàn phải có đội ngũ lao động đông đảo có
4
trình độ chuyên môn cao đáp ứng cả về số lượng và chất lượng ,đặc biệt là
công nhân kĩ thuật với nhu cầu rất lớn.
1.2. Các đặc điểm kinh tế- kỹ thuật chủ yếu
1.2.1. Các ngành nghề kinh doanh chính của tập đoàn
diện pháp nhân và có quyền hành cao nhất trong tập đoàn.
Phó tổng giám đốc:thực hiện công việc theo sự phân công của tổng
giám đốc,chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc về các công việc được giao
Các đơn vị thành viên của tập đoàn: gồm có các đơn vị hạch toán độc
lập, đơn vị phụ thuộc, các công ti cổ phần, các đơn vị nghiên cứu ,đào tạo
thực hiện các hoạt động theo sự chỉ đạo của tổng giám đốc.
6
Các công ty
thành phần
Hội đồng quản trị
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc
Ban kiểm soát
Cơ quan tập đoàn
Các đơn vị Hạch toán
phụ thuôc
Các Công
ty Liên
doanh
Các Công
ty Hạch
toán độc
lập
Công ty
tài chính
Các nhà
máy hạch
toán độc
lập
Viện
3985 41 18.3
4 Lực lượng công nhân kĩ
thuật
15843 39 72.9
Nguồn :ban tổ chức cán bộ lao động _Tập đoàn
Qua trên ta thấy lực lượng công nhân kĩ thuật chiếm tỉ lệ lớn nhất với tỉ
lệ tới 72.9%.Đây chính là đội ngũ nòng cốt tạo ra giá trị sản lượng và doanh
thu cho tập đoàn ,do đó cần duy trì và đảm bảo về mặt chất lượng .Hiên nay
tập đoàn có tới hơn 30 nghành nghề dành cho công nhân kĩ thuật ,mỗi nghành
nghề đòi hỏi những yêu cầu là khác nhau ,do đó nội dung đào tạo cũng rấ
phong phú và đa dạng.
7
Bảng 1.2: Phân loại lao động theo trình độ(30-6-2006)
Đơn vị tính:Người
Nguồn :Ban tổ chức cán bộ lao động tập đoàn
* Cán bộ lãnh đạo :282 người chiếm 1.3%.Đại đa số cán bộ lãnh đạo
quản lí biết tổ chức bộ máy quản lí phù hợp với cơ chế quản lí mới ,được đaò
tạo có hệ thống về khoa học kĩ thuật chuyên nghành ,được trưởng thành từ
thực tế sản xuất .Ngoài trình độ chuyên môn còn được trang bị kiến thức về
ngoại ngữ và tin học.Số người thông thạo một thứ tiếng thông dụng như Nga,
Anh, Trung, Ba Lan…chiếm 29.5%số sử dụng ngoại ngữ được trong chuyên
môn chiếm 45%.Về tin học thì số sử dụng được công nghệ thông tin trong
công việc hằng ngày khoảng 50%.Hầu hết các nhà lãnh đạo quản lí đã biết
phát hiện những khâu trọng tâm lãnh đạo trong tong thời kì,góp phần tạo ra
những kết quả to lớn trong sản xuất kinh doanh.Bên cạnh những mặt mạnh đó
thì cũng còn một số tồn tại .So với yêu cầu phát triển thì đội ngũ này vẫn còn
thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng ,số người thông thạo tiếng Anh không
nhiều, khả năng ứng dụng tin học trong quản lí còn hạn chế .Vì vậy khả năng
Năm
Chỉ tiêu
luyện vươn lên trong thực tế sản xuất .Tuy nhiên một số bộ phận do chủ quan
và khách quan chưa được đào tạo lại ,bổ sung kiến thức mới ,trình độ ngoại
ngữ và tin học còn hạn chế ,ít được giao lưu tiếp xúc làm quen với trình độ
công nghiệp tàu thuỷ trong khu vực và thế giới.
* Lực lượng công nhân kĩ thuật :tổng số 15843 người trong đó nữ có
2015 người chiếm 12.7%,lao động nữ chiếm tỉ lên rất thấp vì đây là nghành
công nghiệp đóng tàu nặng nhọc độc hại ,ít thích nghi với lao động nữ.
9
*Trong đó những năm gần đây nhu cầu về công nhân kĩ thuật là rất
lớn ,đây là lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất vì thế bên cạnh
đáp ứng về số lượng thì cần đảm bảo về mặt chất lượng .
Bảng1.3:Phân loại công nhân kĩ thuật theo độ tuổi (30-6-2006)
Độ tuổi Số lượng người Tỉ lệ %
<30 tuổi 3961 25
31-40 tuổi 5228 33
41-50 tuổi 4673 29.5
51-55 tuổi 1189 7.5
>55 tuổi 792 5
Nguồn :ban tổ chức cán bộ lao động tập đoàn.
Tuổi đời bình quân của lực lượng công nhân kĩ thuật là 39 tuổi .Số
người nằm trong độ tuổi 31-40 chiếm tỉ lệ cao nhất.Hiện nay đội ngũ này
đang có xu thế trẻ hoá ,hàng năm bổ xung gần 3000 người có sức khoẻ có tay
nghề từ các trung tâm dạy nghề và trường nghề.Trong thực tế sản xuất ngày
càng mở rộng ,cùng vơí quy trình công nghệ hiện đại thì đội ngũ này cần
được đào tạo một cách chuyên sâu và thực tế hơn ,tạo điều kiện cho người
lao động được sử dụng điều khiển các thiết bị công nghệ mới ,tiên tiến ,tham
gia đóng và sửa chữa những con tàu có trọng tảI lớn đạt tiêu chuẩn quốcb tế.
1.2.4. Sản phẩm dịch vụ của tập đoàn
Sản phẩm của tập đoàn là các con tàu có trọng tải từ nhỏ đến lớn.Từ
trăm tấn đến hàng ngàn tấn.Đóng mới và lắp ráp được cácloại tàu công trình,
Năm
Chỉ tiêu
Đơn vị tính 2001 2002 2003 2004 2005 2006
1.Tổng sản lượng.
Tốc độ tăng trưởng
Tỷđồng
%
1895
149
3251
172
5330
164
7525
142
11024
147
13500
130
2.Doanh thu
Tốc độ tăng trưởng
Tỷđồng
%
1303
129
2515
193
3815
152
5660
tính chất đột phá như tàu hàng 6500T,ụ nổi 8500T,tàu khách cao tốc K99-100
chỗ, tàu hải quan vỏ hợp kim nhôm cao tốc V59,tàu tuần tra cao tốc ,tàu chở
khí hoá lỏng LPCtừ 1200-2500…
Để hội nhập thị trường khu vực và quốc tế ngoài việc mở rộng và hợp
tác trên nhiều lĩnh vực với các đối tác Hàn Quốc ,Nhật Bản ,Singapore,Ba
Lan…tập đoàn còn tiếp tục đẩy mạnh quan hệ với các nước có công nghiệp
đóng tàu phát triển Tây Bắc âu và Đông á như Thuỵ điển ,CHLB Đức,Đan
mạch ,TRung quốc…Để tranh thủ các nguồn vốn ,kĩ thuật công nghệ và đào
tạo đội ngũ lao động tập đoàn đã có sản phẩm thương mại cho các nước
Nga,Pháp ,Lào,Campuchia,Trung Quốc ,Nhật .Irac….
Các sản phẩm công nghiệp của tập đoàn được đánh gía cao ,có uy tín
và có khả năng cạnh tranh tốt ,qua đó có thể khẳng định được sự phát triển
của nghành công nghiệp tàu thuỷ ,khả năng vươn ra thị trường khu vực và
quốc tế.
Như vậy với những đặc điểm kết quả sản xuất kinh doanh như trên thì
công tác đào tạo và phát triển công nhân kĩ thuật càng phảI chú trọng, quan
tâm hơn nữa để chất lượng sản phẩm làm ra ngày càng cao giúp tăng trưởng
vững mạnh.
13
PHẦN II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO PHÁT TRI ỂN CÔNG NHÂN
KỸ THUẬT CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP TÀU THUỶ VIỆT NAM
2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triển công nhân
kĩ thuật trong tổ chức .
2.1.1. Nhân tố khách quan
-Tình hình kinh tế chính trị của đất nước :Đây chính là xu hướng phát
triển của các nghành nghề sản xuất kinh doanh .Liệu các nghề đào tạo cho
công nhân kĩ thuật có phù hợp với sự phát triển của xã hội không ? Một nền
kinh tế biến động ,luôn có sự thay đổi đột xuất sẽ khó khăn cho việc xác định
nhu cầu đào tạo công nhân kĩ thuật .Ngược lại một nền kinh tế ổn định ,có thể
hoàn thành kế hoạch.
-Đặc điểm sản xuất kinh doanh :Mỗi tổ chức có đặc điểm sản xuất kinh
doanh là khác nhau ví dụ như nghành xây dựng ,nghành điện ,nghành công
nghiệp cơ khí …bao gồm nhiều loại công việc khác nhau do đó đội ngũ công
nhân kĩ thuật ở các nghành này có kiến thức nghề nghiệp chuyên môn là hoàn
toàn khác nhau .Vì thế đặc điểm sản xuất kinh doanh sẽ quyết định các yêu
cầu trong đào tạo .
-Đội ngũ công nhân kĩ thuật:nếu đội ngũ này có trình độ tay nghề kém,
còn nhiều hạn chế thì công tác đào tạo và phát triển trở nên quan trọng hàng
đầu cần tập trung nguồn lực để nâng cao chất lượng .Ngược lại nếu đội ngũ
này có trình độ lành nghề tương đối cao thì hướng đào tạo sẽ được nâng lên ở
mức cao hơn ,nhằm khai thác tiềm năng của người lao động ở mức cao nhất.
15
-Khả năng tài chính của doanh nghiệp :một chương trình đào tạo lập ra
theo kế hoạch được đánh giá là tốt nhưng chi phí lại quá lớn ,doanh nghiệp
không có khả năng thực hiện thì kế hoạch đó sẽ bị loại bỏ vì không có tính
khả thi .Do đó khi lập kế hoạch đào tạo các doanh nghiệp luôn phảI tính toán
các chi phí sẽ phát sinh trong đào tạo .Kinh phí cấp cho đào tạo hạn hẹp thì sẽ
rất khó khăn trong việc đảm bảo số lượng và chất lượng của học viên ,ngược
lại kinh phí dồi dào sẽ tạo điều kiện cho công tác đào tạo .
-Hiệu quả hoạt động và sự ổn định của tổ chức:doanh nghiệp hoạt động
hiệu quả cao sẽ tạo động lực cho người lao động tham gia học hỏi trau dồi
thêm kiến thức .Mặt khác sự ổn định của tổ chức quyết định đến các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ,do đó nó cũng tác động đến đào
tạo và phát triển công nhân kĩ thuật .Doanh nghiệp ổn định thì quá trình đào
tạo người lao động sẽ được diễn ra một cách suôn sẻ ,dễ dàng ,và ngược lại.
Ngoài các nhân tố trên còn một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến
công tác đào tạo .Như vậy ta they có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác
đào tạo và phát triển công nhân kĩ thuật trong tổ chức .Vì vậy khi xây dựng
chương trình đào tạo doanh nghiệp cần xem xét phân tích kĩ lưỡng từng nhân
đây là rất lớn. Năm 2005 nhu cầu tâng 23,5% so với năm 2004 và đến năm
2006 nhu cầu càng cao hơn, nên đã tăng lên 31,06% so với năm 2005. Sở dĩ
như vậy là do các ngành nghề kinh doanh trong công nghiệp tàu thuỷ đang
ngày càng phát triển và mở rộng quy mô thị trường.
Việc xác định nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật của Tập đoàn được
xác định theo quy trình sau:
Nguồn: Ban tổ chức cán bộ lao động - tập đoàn
Khi xác định nhu cầu đào tạo thường phải căn cứ vào rất nhiều yếu tố,
từ việc phân tích doanh nghiệp, phân tích công việc, phân tích người lao
17
Các đơn vị thành
viên căn cứ vào
tình hình sản xuất
thực tế tại đơn vị
mình lập danh
sách ĐT gửi lên
Ban CB – LĐ Tập
đoàn
Ban CB –LĐ
tổng hợp các
phiếu yêu cầu,
xét các điều
kiện để duyệt
cho các đơn vị
Trình lên Tổng
giám đốc xem
xét và phê
duyệt để đưa ra
quyết định đào
tạo
- Xác định nhu cầu đào tạo chưa được thường xuyên, liên tục, nhiều khi
bị động. Khả năng cung ứng công nhân kỹ thuật còn thiếu cả về số lượng và
chất lượng, nhiều khi còn tuyển cả những công nhân không đúng chuyên
ngành.
Nguyên nhân:
- Tập đoàn có quy mô tương đối lớn, các đơn vị thành viên đóng trên
địa bàn 25 tỉnh, thành phố ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam nên có nhiều khó
khăn trong việc nắm bắt các tình hình phát sinh trong sản xuất.
- Nhu cầu công nhân kỹ thuật được cả cơ quan Tập đoàn tổng hợp từ
các đơn vị thành viên gửi về nên nhiều khi dự đoán, tính toán các chỉ tiêu
chưa sát với thực tế.
- Tập đoàn không có khả năng kiểm soát chặt chẽ các yếu tố làm biến
động lực lượng lao động.
2.2.2- Xác định mục tiêu đào tạo
Khi xây dựng chương trình đào tao, cán bộ quản lý đào tạo phải đề ra
những mục tiêu cần đạt được để sau khoá đào tạo sẽ tạo ra đội ngũ lao động
có phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn… hoàn thành tôt công
việc được giao cụ thể là:
- Nâng cao tỷ lệ công nhân kỹ thuật bậc cao từ bậc 5 trở lên chiếm 47%
vào năm 2007
- Nâng cao chất lượng, trình độ công nhân để đạt mục tiêu tổng giá trị
sản lượng kế hoạch đề ra năm 2007 là 17 500 tỷ đồng.
- Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế sản xuất làm tăng năng
suất lao động, duy trì đội ngũ công nhân kỹ thuậ tay nghề cao.
19
- Tăng chỉ tiêu đào tạo công nhân kỹ thuật tại các trường thuộc Tập
đoàn để đáp ứng trên 80% nhu cầu.
- Sau khoá đào tạo công nhân sẽ được phân bổ vào đúng các ngành
nghề đã học, đảm bảo thực hiện tốt các công việc được giao.
Như vậy việc xác định mục tiêu đào tạo là rất quan trọng, nó sẽ định
một số hạn chế cần khắc phục như hiện tượng đào tạo tràn lan. Chỉ có số
lượng mà không có chất lượng, nhiều khi cứ đối tượng đào tạo không đúng
nên sau khi đào tạo không sử dụng được làm ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo.
Nguyên nhân của hiện tượng này là do nhu cầu về công nhân kĩ thuật của tập
đoàn rất lớn mà khả năng đáp ứng của các trường là có hạn.
2.2.4. Xây dựng chương trình đào tạo cho công nhân kĩ thuật
Căn cứ vào nhu cầu, các mục tiêu và đối tượng được đào tạo, Tập đoàn
tiến hành xây dựng chương trình đào tạo, tính toán số lượng lớp học, người
học, nội dung học, cơ sở vật chất kĩ thuật và các vấn đề liên quan khác phục
vụ cho công cuộc đào tạo.
Đa số công nhân kĩ thuật của Tập đoàn được đào tạo ở các trường công
nhân kĩ thuật trong nước, trong quá trình làm việc đào tạo chủ yếu dưới hình
thức kèm cặp, chỉ bảo. Nội dung chương trình học chủ yếu giống nội dung
đào tạo chung của các trường công nhân kĩ thuật, tuân theo quy định của Bộ
Lao động Thương binh xã hội và Tổng cục dạy nghề. Hiện nay tập đoàn có 4
trường đào tạo nghề chính. Đây là các thường trực thuộc Tập đoàn chỉ đào tạo
đội ngũ công nhân kĩ thuật phục vụ cho Tập đoàn. Trước đây ngành công
nghiệp tàu thuỷ chưa được quan tâm phát triển nên công tác đò tạo công nhân
kĩ thuật chưa được chú trọng các ngành nghề đào tạo còn hạn chế. Ngày nay
việc đào tạo các ngành nghề chính cho công nhân kĩ thuật tập trung chủ yếu ở
21
4 trường trực thuộc Tập đoàn là: Trường CNKT Bạch Đằng, Trường Kĩ thuật
và nghiệp vụ CNTT I tại Hải Phòng, Trường Kĩ thuật và Nghiệp vụ CNTT II
tại TP Hồ Chí Minh, trường kĩ thuật và nghiệp vụ CNTT III tại Đà Nẵng, nội
dung đào tạo bao gồm:
- Khoa hàn: hàn tàu thuỷ
- Khoa lắp ráp tàu thuỷ: phóng dạng, thợ sắt hàn, kích kéo…
- Điện tàu thuỷ
- Thợ máy tàu thuỷ
- Thợ gia công cơ khí: thợ nguội, thợ rèn, thợ đúc, thợ phay…
nghề và không được cung ứng kịp thời như: phóng dạng, giàn giáo tàu thuỷ,
lái cẩu…
- Trình độ tay nghề của công nhân kĩ thuật mới chỉ đạt ở cấp quốc gia
chưa đạt đến trình độ quốc tế.
- Số công nhân kĩ thuật bậc cao không nhiều.
Nguyên nhân của tồn tại trên:
- Do nhu cầu về số lượng quá lớn, nên để giải quyết nhu cầu công nhân
kĩ thuật trước mắt thì việc đảm bảo chất lượng là rất khó khăn.
- Phương tiện trang thiết bị giảng dạy còn lạc hậu, công nhân kĩ thuật
không có điều kiện tiếp xúc với công nghệ hiện đại.
- Số công nhân được đào tạo tại nước ngoài là rất ít, liên kết đào tạo
quốc tế vẫn còn hạn hẹp.
- Chương trình đào tạo công nhân kĩ thuật vẫn còn một số hạn chế như:
Nội dung đào tạo chưa thích hợp, chưa chuyên sâu chỉ mang tính công nghiệp
cơ khí nói chung, hiệu quả giảng dạy chưa cao. Nhiều khi đào tạo tràn lan có
số lượng mà không có chất lượng.
23
- Tập đoàn chưa chủ động và có kế hoạch cụ thể theo từng giai đoạn để
thực hiện công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, mà hoàn toàn bị động
chạy theo yêu cầu cấp bách của sản xuất trước mắt đòi hỏi, nên có về số
lượng nhưng chất lượng không cao.
- Các hình thức đào tạo của Tập đoàn còn chắp vá manh mún, nặng về
hình thức, số lượng chưa quan tâm sâu sắc đến chất lượng đào tạo.
2.2.5. Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho đào tạo
Cơ sở đào tạo công nhân kĩ thuật của Tập đoàn bao gồm các Trường và
Trung tâm dạy nghề. Hiện nay Tập đoàn có 4 trường công nhân kĩ thuật lớn
phân bổ ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Đây là các trường nghề chỉ đào tạo
công nhân kĩ thuật phục vụ cho Tập đoàn.
* Tại khu vực phía Bắc:
- Trường Đào tạo kĩ thuật và nghiệp vụ công nghiệp Tàu thủy I tại Hải
* Tại khu vực phía Nam
Trường kĩ thuật và nghiệp vụ công nghiệp tàu thuỷ II tại thành phố Hồ
Chí Minh: Tuy mới thành lập còn gặp nhiều khó khăn trong công tác tuyển
sinh, do đặc thù của địa bàn hoạt động nhưng trường đã khai giảng theo đúng
kế hoạch đề ra, năm 2006-2007 trường đã chiêu sinh được 120học sinh hệ dài
hạn gồm các nghề Hàn tàu thuỷ và điện tàu thuỷ.
* Tại khu vực miền Trung
Trường Kĩ thuật nghiệp vụ công nghiệp tàu thuỷ III tại Đà nẵng: là
trường mới thành lập tháng 7/2004 nhưng trường đã rất chủ động trong công
tác tuyển sinh, khoá đầu trường đã tuyển được 400 học sinh, năm học 2006-
2007 trường đã tuyển được 520 học sinh các ngành công nghiệp tàu thuỷ và
các ngành công nghiêp khác. Bên cạnh đó Trung tâm đào tạo và dịch vụ của
25