Mối quan hệ giữa kiểm toán nhà nước và kiểm toán độc lập potx - Pdf 17

Mối quan hệ giữa kiểm toán nhà
nước và ki
ểm toán độc lập trong điều
kiện thực hiện Luật KTNN

Hoạt động kiểm toán là công cụ của nền kinh tế thị trường và
ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết nhằm cung cấp thông
tin, số liệu có độ tin cậy cao phục vụ các nhà quản lý, điều hành
cũng như phục vụ việc hoạch định chính sách. Khi trình độ quản
lý được nâng cao thì hoạt động kiểm toán sẽ kéo theo để đáp
ứng yêu cầu phát triển.
Trong nền kinh tế, các phân hệ kiểm toán cấu thành nên h
ệ thống
kiểm toán để đáp ứng yêu cầu của các chủ thể khác nhau nhưng
đồng thời lại có mối liên hệ mang tính nghề nghiệp chặt chẽ, hỗ
trợ nhau cùng phát triển. Trong phạm vi bài viết này, tác giả xin
bàn luận một số nội dung xung quanh mối quan hệ giữa Kiểm
toán Nhà nước (KTNN) và kiểm toán độc lập trong điều kiện thực
thi Luật KTNN.
Như chúng ta đã biết, Luật KTNN được Quốc hội thông qua v
à có
hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2006. Đ ây là bước tiến quan
trọng trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Mặc
dù đây là luật chuyên ngành, điều chỉnh đối với hoạt động KTNN
xong có những quy định liên quan đến kiểm toán độc lập, kiểm
toán nội bộ. Chúng tôi cho rằng đây là vấn đề cần được bàn luận
nhằm làm rõ mối quan hệ này để có thể phát huy hết vai trò của
công cụ kiểm toán trong nền kinh tế. Điều 4 Luật KTNN quy định "

Hoạt động kiểm toán của KTNN là việc kiểm tra, đánh giá và xác

sử dụng và phát huy tối đa năng lực kiểm toán (cả kiểm toán độc
lập và KTNN) đòi hỏi phải thiết lập được mối quan hệ giữa hai
phân hệ mà KTNN sẽ giữ vai trò chủ đạo. KTNN có thể yêu cầu
(uỷ thác hoặc thuê) doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán
một số đối tượng nhất định thuộc phạm vi của mình nhưng vì m
ột
lý do nào đó mà chưa hoặc không thực hiện kiểm toán (có thể do
năng lực chưa đủ đáp ứng hoặc cho rằng việc thuê doanh nghi
ệp
kiểm toán sẽ hiệu quả hơn tuyển thêm nhân viên). Chẳng hạn
người ta sẽ phải đắn đo giữa việc tăng thêm một lượng nhân vi
ên
rất lớn với việc thuê các doanh nghiệp kiểm toán để thực hiện
kiểm toán một số đơn vị nhất định hoặc có những đơn vị quy mô
bé mà KTNN không nhất thiết phải tiến hành kiểm toán hoặc nếu
kiểm toán sẽ không hiệu quả bằng thuê kiểm toán độc lập. Để
giải quyết vấn đề này nhiều nước đã có các quy định về thuê
hoặc sử dụng các kết quả của kiểm toán độc lập để phục vụ cho
hoạt động của mình. Thậm chí một số nước còn coi việc thuê
kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán một số đối tượng thuộc
phạm vi kiểm toán của KTNN như là một hình thức nhằm nâng
cao chất lượng và hiệu quả hoạt động KTNN. Ở Việt Nam, khoản
8, Điều 16 Luật KTNN quy định, KTNN: “Được uỷ thác hoặc thuê
doanh nghiệp kiểm toán thực hiện kiểm toán cơ quan, đơn vị, tổ
chức quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước;
KTNN chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu, tài liệu và
kết luận kiểm toán do doanh nghiệp kiểm toán thực hiện và Điều
63 về đơn vị được kiểm toán, khoản 12 quy định đơn vị nhận
trợ giá, trợ cấp của nhà nước, đơn vị có công nợ được nhà nước
bảo lãnh mà không phải là doanh nghiệp nhà nước có thể thuê

các doanh nghiệp kiểm toán phải tuân theo sự hướng dẫn, chỉ
đạo của KTNN. Trước các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chính
phủ, các cơ quan nhà nước có liên quan khác ), KTNN ph
ải chịu
trách nhiệm về tính chính xác của số liệu và các kết luận của
doanh nghiệp kiểm toán. Đ ây là quy định nhằm ràng buộc trách
nhiệm pháp lý đối với KTNN trên cơ sở đó không ngừng nâng
cao chất lượng kiểm toán và cũng đòi hỏi KTNN phải có sự lựa
chọn khi KTNN uỷ thác hoặc thuê doanh nghiệp kiểm toán. Chỉ
những doanh nghiệp có đủ năng lực, có quy mô đủ lớn và đội
ngũ kiểm toán viên có chất lượng cao mới có thể đư
ợc KTNN lựa
chọn để thuê hoặc uỷ thác. Có như vậy chất lư
ợng kiểm toán của
các doanh nghiệp kiểm toán mới đảm bảo đáp ứng yêu cẩu. Một
vấn đề cần được lưu ý là trong quá trình kiểm toán theo hợp
đồng ủy thác hoặc thuê của KTNN, các doanh nghiệp kiểm toán
phải áp dụng theo quy trình, chuẩn mực kiểm toán của KTNN. Đ
ây là yêu cầu mang tính bắt buộc nhằm đảm bảo việc kiểm soát
của KTNN đối với các doanh nghiệp kiểm toán khi th
ực hiện kiểm
toán theo hợp đồng của KTNN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status