Vai trò, mối quan hệ giữa nguồn vốn trong nước và ngoài nước
đối với sự tăng trưởng, phát triển kinh tế
Chương I : Những vấn đề lý luận chung về nguồn vốn đầu tư - Vai trò và
mối quan hệ của các nguồn vốn trong tăng trưởng và phát triển kinh tế.
I - Khái niệm về nguồn vốn đầu tư.
1. Khái niệm về đầu tư và vốn đầu tư.
Đầu tư là sự bỏ ra hoặc hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để thực hiện các
hoạt động nhằm đạt được các kết quả, thực hiện được các mục tiêu nhất định
trong trong tương lai
Vốn đầu tư là lượng tiền để đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế -
xã hội.Vốn đầu tư được đăc trưng bởi những điểm sau đây:luôn luon gắn với
một chủ nhất định,có giá trị về mặt thời gian,có khả năng sinh lời.
2. Khái niệm nguồn vốn đầu tư:
Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân
phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của Nhà nước và
của xã hội.
Về bản chất: nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích
luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuẩt xã hội
Nguồn vốn đầu tư bao gồm: nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn
đầu tư nước ngoài.
II - Phân loại
1. Nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn đầu tư trong nước của mỗi quốc gia được hình thành chủ yếu
từ: tiết kiệm của chính phủ, tiết kiệm dân cư, tiết kiệm của các doanh nghiệp và
vốn huy động thông qua các tài sản quốc gia.
1.1 Nguồn vốn Nhà nước
Nguồn vốn đầu tư Nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách Nhà nước,
nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát
triển của doanh nghiệp Nhà nước.
1.1.1.Nguồn vốn ngân sách Nhà nước
Nguồn vốn ngân sách Nhà nước là nguồn chi của ngân sách Nhà nước cho
Hiện nay ở nước ta chính phủ sử dụng vốn tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước nhằm tập trung hỗ trợ đầu tư cho những ngành, lĩnh vực hoặc sản
phẩm quan trọng, then chốt của nền kinh tế một cách có trọng tâm, trọng điểm;
giảm sự bao cấp và tách bạch tín dụng ngân sách và tín dụng thương mại trong
lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản.
*Vai trò:
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng trong
việc giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước.Với cơ chế tín dụng
nhằm tránh sự thất thoát và lãng phí nguồn vốn, các doanh nghiệp vay vốn sử
dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả hơn do phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn
vay.Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước là một hình thức quá độ chuyển
từ phương thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án
có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
- Vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước thường dùng để phục vụ công tác quản
lý và điều tiết kinh tế vĩ mô, thông qua nguồn tín dụng đầu tư, Nhà nước thực
hiện việc khuyến khích phát triển kinh tế xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo
2
định hướng chiến lược của mình. Điều này giúp tăng trưởng kinh tế và thực hiện
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
- Phân bổ và sử dụng vốn vay tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển
những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm
nghèo…
Và trên hết,nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn có tác
dụng tích cực trong việc chuyển dich cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa-hiện đại hóa
Cho đến năm 2001,nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
đầu tư vào ngành công nghiệp trên 60% tổng vốn đầu tư(gần 55% sồ dự án)đã
góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư vào cơ cấu kinh tế.
1.1.3. Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước.
Nguồn vốn này được xác định là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền
nước, đóng góp vai trò chủ yếu trong việc hình thành vốn đầu tư của các quốc
gia, đây là một bộ phận lớn, chiếm tỷ trọng ngày càng tăng.
1.2.2.Tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh:
Nguồn vốn bao gồm vốn chủ sở hữu và tiết kiệm (các khoản thu nhập của
doanh nghiệp sau khi trả thuế và trả cổ tức); từ vốn đi vay hoặc tăng vốn cổ
đông bằng cách phát hành cổ phiếu mới.
Phần tích luỹ của các doanh nghiệp này đóng góp đáng kể vào tổng quy mô
vốn của toàn xã hội.
Hoạt động của các doanh nghiệp dân doanh đạt hiệu quả, tạo doanh thu cao
hơn so với doanh nghiệp Nhà nước, hoạt động kinh doanh đa ngành với nhiều
lĩnh vực khác nhau, giải quyết công ăn vịêc làm cho hàng triệu người lao động,
đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
2.Nguồn vốn nước ngoài.
Nguồn vốn nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích luỹ cá nhân, các doanh
nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động được vào
quá trình đầu tư phát triển của nước sở tại.
Nó bao gồm: nguồn vốn hỗ trợ chính thức, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,
vốn tín dụng thương mại, vốn đầu tư gián tiếp, nguồn vốn từ thị trường vốn quốc
tế.
2.1.Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
2.1.1. Khái niệm chung.
* Nguồn vốn ODF (Official Development Finance ): là nguồn tài trợ phát
triển chính thức do các tổ chức quốc tế hoặc chính phủ cung cấp. Nguồn này bao
gồm: viện trợ phát triển chính thức ODA và các hình thức tài trợ phát triển khác
trong đó ODA chiếm tỉ trọng chủ yếu.
* Nguồn vốn ODA (Official Development Assistance ) là nguồn tài chính
do các cơ quan chính thức (chính quyền Nhà nước hay địa phương) của một
nước hoặc một tổ chức quốc tế viện trợ cho các nước đang phát triển nhằm thúc
đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội của các nước này.
* Nội dung viện trợ:
hạn nhất định, mà không phải xác định nó sẽ phải được sử dụng như thế nào.
- Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của viện trợ chính thức. Hỗ trợ dự án
thường liên quan đến hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kĩ thuật và trên thực tế thường
có cả hai yếu tố này: Hỗ trợ cơ bản thường chủ yếu về xây dựng (đướng xá, cầu
cống, trường học, bệnh viện ). Thông thường các dự án này có kèm theo một bộ
phận của viện trợ kĩ thuật, dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra
những hoạt động nhất định nào đó, hoặc để soạn thảo, xác nhận các báo cáo cho
các đối tác nhận viện trợ; hỗ trợ kĩ thuật thường chủ yếu chỉ tập trung vào
chuyển giao tri thức hoặc tăng cường lập cơ sở kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu
tình hình cơ bản, nghiên cứu trước khi đầu tư (quy hoạch, lập các luận chứng
kinh tế, kĩ thuật...). Chuyển giao tri thức có thể là chuyển giao công nghệ thông
thường, nhưng quan trọng hơn là đào tạo về kĩ thuật phân tích (kinh tế, quản lý,
thống kê, thương mại, hành chính Nhà nước, các vấn đề xã hội..
2.1.2. Đặc điểm của nguồn vốn ODA.
- ODA là nguồn vốn tài trợ ưu đãi của nước ngoài mà các nhà tài trợ không
trực tiếp điều hành dự án nhưng có thể gián tiếp tham gia dưới hình thức nhà
thầu hoặc chuyên gia. Danh mục các dự án ODA phải có sự thoả thuận với nhà
tài trợ.
5
- ODA gồm: viện trợ không hoàn lại và viện trợ có ưu đãi nhưng nếu quản
lý và sử dụng kém hiệu quả thì nó sẽ là gánh nặng nợ trong tương lai.
- Các nước nhận viện trợ ODA phải có đủ 1 số điều kiện nhất định thì mới
được nhận viện trợ. Điều này tuỳ thuộc vào quy định của từng nhà tài trợ.Ví dụ:
để nhận tài trợ ưu đãi của IMF nước chủ nhà phải có cổ phần đóng góp vào IMF
và số tiền vay sẽ phụ thuộc vốn cổ phần.
- Chủ yếu dành hỗ trợ cho dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng như: giao thông
vận tải, y tế giáo dục..
- Các nhà tài trợ là các tổ chức viện trợ là các tổ chức viện trợ đa phương
và các tổ chức viện trợ song phương...Các nước cung cấp viện trợ nhiều nhất
hiện này là Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Úc, Thuỵ Điển...
đó vốn bằng tiền mà còn chuyển giao cả vốn hiện vật như máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu...(Công nghệ cứng) và vốn vô hình như chuyên gia kĩ thuật -
công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, năng lực tiếp cận thị trường...
( công nghệ mềm)
- Nâng cao trình độ nguồn nhân lực, giải quyết công ăn việc làm cho người
lao động...vào các nước tiếp nhận.
2.4. Thị trường vốn quốc tế.
Trái phiếu quốc tế: là trái phiếu phát hành bằng đồng tiền không phải là
đồng tiền Nhà nước, có nhà phát hành để vay vốn các nhà đầu tư nước
ngoài.Việc phát hành các trái phiếu chính phủ ra thị trường vốn quốc tế của các
quốc gia nhằm huy động vốn cho đầu tư phát triển hoặc bù đắp thiếu hụt về cán
cân thương mại quốc tế. Trái phiếu chính phủ cho phép các quốc gia huy động
vốn với khối lượng lớn, kỳ hạn dài.. Ưu điểm của trái phiếu quốc tế cũng như
việc đi vay trong thị trường tài chính trong nước như nhà phát hành có khả năng
độc lập về tài chính, có thể chủ động sử dụng vốn vay mà không bị phụ thuộc
bởi những điều kiện đặt ra từ người cho vay. Tuy nhiên, việc phát hành trái
phiếu chính phủ ra thị trường vốn quốc tế có những đặc điểm riêng cơ bản như:
- Thị trường trái phiếu chính phủ chịu ảnh hưởng của sự biến động của thị
trường vốn quốc tế, chịu sự ảnh hưởng cuả nền kinh tế thế giới và nhất là sự
phát triển kinh tế của các nước có ngoại tệ được sử dụng để định giá trái phiếu
hoặc khu vực nơi phát hành trái phiếu..
- Trái phiếu chính phủ chịu sự biến động của tỷ giá ngoại tệ. Trái phiếu
quốc tế có thể mua bằng ngoại tệ, vay nợ và trả nợ bằng ngoại tệ nên khả năng
các quốc gia gặp rủi ro trong trả nợ bằng ngoại tệ là rất cao.
- Trái phiếu chính phủ không thể giãn nợ hoặc hoãn nợ, bắt buộc các quốc
gia phải bố trí vốn hoàn trả khi đáo hạn.
- Việc phát hành trái phiếu chính phủ phải tuân thủ những luật pháp và
thông lệ quốc tế, vậy nên yêu cầu phải có được sự bình đẳng về quyền lợi và
nghĩa vụ khi 2 bên ký kết hợp đồng.
Đối với trái phiếu của Việt Nam, những đặc điểm trên là những đặc điểm
thị trường tài chính tiền tệ và kinh tế của các nước trên thế giới. Với nguồn vốn
này chúng ta hoàn toàn có thể chủ động trong việc huy động và sử dụng mà
không bị phụ thuộc vào bất kì tổ chức, quốc gia nào, và nó cũng sẽ là nhân tố tạo
điều kiện cho việc thu hút nguồn vốn nước ngoài có hiệu quả. Tính quyết định
của nguồn vốn trong nước thể hiện ở những mặt sau:
1.1 Nguồn vốn trong nước là nhân tố góp phần ổn định đầu tư trong
nước, là cơ sở để thu hút đầu tư nước ngoài:
Hiện nay, trong xu thế hội nhập toàn cầu, mỗi 1 quốc gia không chỉ phát
triển đơn lẻ mà còn có sự tác động qua lại đối với các quốc gia khác. Chính vì
thế, nền kinh tế của mỗi quốc gia sẽ ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế
8
giới. Trong bối cảnh đó, nếu chúng ta phát huy được nội lực nguồn vốn trong
nước thì sẽ có được thế chủ động trong việc điều hành nền kinh tế và ổn định
các chính sách kinh tế.
Ngoài ra, việc tận dụng nguồn vốn trong nước cũng giúp chúng ta có được
sự phát triển bền vững. Để phát triển kinh tế có nhiều con đuờng khác nhau.
Nhiều nước đã chọn con đường đi vay và xin viện trợ nước ngoài nhằm phát
triển kinh tế đất nước. Thực tế đã cho thấy các nước này có thể đạt được mức
tăng trưởng cao nhưng là tăng trưởng nóng, không bền vững và có sự lệ thuộc
vào nước cho vay, bởi họ không thấy được cũng như không phát huy được tính
quyết định của nguồn vốn trong nước.
Mặt khác, nguồn vốn trong nước chính là cơ sở để thu hút vốn đầu tư nước
ngoài. Trước tiên, xét về nguồn vốn FDI: Thực tế những năm qua, dòng vốn FDI
trên thế giới chủ yếu di chuyển trong nội bộ các nước phát triển, chỉ có khoảng
25% - 30% di chuyển đến các nước đang và chậm phát triển. Điều đó chứng tỏ
tài nguyên thiên nhiên dồi dào, lao động rẻ không phải là nhân tố quan trọng
hàng đầu trong thu hút FDI. Khoảng 90% dòng vốn chảy vào một số ít quốc gia
có môi trường đầu tư hấp dẫn. Vì vậy cần quan tâm tới vấn đề sử dụng nguồn
vốn trong nước để tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn. Do đó, tự bản thân chúng
ta phải xây dựng cho mình một nền tảng kinh tế - chính trị - xã hội vững chắc và
triển.Với mỗi giai đoạn phát triển sẽ đặt ra những mục tiêu trọng tâm, ưu tiên
cho việc phát triển những ngành kinh tế phù hợp.Muốn xây dựng một đất nước
phát triển về mọi mặt thì các ngành, các vùng của chúng ta đều phải có một sự
phát triển nhất định với một cơ cấu hợp lí..Việc đầu tư vốn trong nước để xây
dựng cơ sở hạ tầng, mạng lưới thông tin liên lạc, giao thông…vào ngành, địa
phương nào sẽ tạo môi trường đầu tư thuận lợi, từ đó có thể thu hút các nhà đầu
tư nước ngoài. Vì vậy việc sử dụng vốn trong nước cho ngành nào, vùng nào cần
phải được cân nhắc kĩ theo sự định hướng đúng đắn của Nhà nước sẽ giúp nền
kinh tế phát triển nhanh chóng
2.Vai trò của nguồn vốn nước ngoài :là nguồn vốn quan trọng :
Các nước đang phát triển luôn có nguồn nhân lực dồi dào, nguồn tài
nguyên phong phú.Vậy tại sao họ vẫn mãi chỉ là “đang phát triển”? Thực ra vấn
đề lớn nhất hiện nay của những nước này là thiếu vốn đầu tư nên không thể phát
huy được hết những tiềm lực của bản thân. Trong hoàn cảnh như vậy, nguồn vốn
từ bên ngoài sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với bước phát triển ban đầu của các
nước này. Đặc biệt trong xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới như hiện
nay các nước đang phát triển bị đặt trong tình huống phải tạo ra tốc độ phát triển
nhanh để đuổi kịp và từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới.Có thêm sự hỗ
trợ từ bên ngoài sẽ rất có ích cho các nước nghèo trên con đường phát triển
.2.1. Nguồn vốn nước ngoài hỗ trợ nguồn vốn trong nước trong việc thực
hiện các mục tiêu kinh tế .
2.1.1 Góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng.
Thực trạng chung của những nuớc đang phát triển như Việt Nam là kết cấu hạ
tầng còn thiếu, lại quá tải và cũ kĩ: đường, cầu, sân bay, nhà máy điện, tàu biển,
cảng, viễn thông, trường học, bệnh viện… đều trong tình trạng yếu kém. Vì vậy,
để duy trì cho tăng trưởng và phát triển bền vững, Việt Nam nhất thiết phải đầu
tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản và đồng bộ. Trong khi đó ngân sách
nhà nước lại vô cùng eo hẹp. Chính vì thế, nguồn vốn nước ngoài đóng vai trò
vô cùng quan trọng. Thực tế cho thấy việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường đòi
hỏi vốn đầu tư lớn nhưng việc thu hồi vốn lại chậm, khả năng sinh lời thấp, nên
2.1.2 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Cơ cấu kinh tế của một quốc gia là tổng thể mối quan hệ hữu cơ giữa các
yếu tố cấu thành nền kinh tế. Một nước có nền kinh tế phát triển phải có một cơ
cấu kinh tế hợp lí.Muốn chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một đất nước thì cần rất
nhiều các yếu tố nguồn lực.Trong đó yếu tố vốn đóng vai trò quyết định.Nếu chỉ
dựa vào nguồn vốn trong nước sẽ không thể đáp ứng được, có thêm nguồn vốn
nước ngoài sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nguồn vốn nước ngoài làm thay đổi cơ cấu ngành của nước tiếp nhận đầu
tư: chuyển đổi từ ngành sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch
vụ và sau cùng là sang ngành sản xuất dịch vụ; thay đổi cơ cấu bên trong một
ngành sản xuất từ năng suất thấp, công nghệ lạc hậu, lao động nhiều sang sản
xuất có năng suất cao, công nghệ hiện đại, sử dụng lao động ít; Thay đổi cơ cấu
bên trong của một lĩnh vực sản xuất từ lĩnh vực có hàm lượng công nghệ thấp
sang ngành sản xuất áp dụng công nghệ tiên tiến, có hàm lượng khoa học công
nghệ cao.
2.1.3.Góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực:
11
Nguồn nhân lực có một vị trí hết sức quan trọng tác động đến sự phát
triển của mỗi quốc gia.Hiện nay việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngày
càng được chú trọng. Đặc biệt ở những nước đang phát triển như VN, nguồn
nhân lực dồi lực dồi dào nhưng chất lượng không cao, vấn đề này càng trở nên
cấp thiết.
Nguồn vốn ngoài nước tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp nhận
đầu tư liên quan đến cả số lượng và chất lượng lao động. Số lượng lao động ở
đây được hiểu là số lao động có việc làm. Còn đối với chất lượng, là sự thay đổi
cơ bản, nâng cao năng lực, kĩ năng lao động và quản trị doanh nghiệp thông qua
trực tiếp đào tạo lao động và gián tiếp nâng cao trình độ lao động.Thông qua các
dự án về huấn luyện đào tạo chuyên môn, các chương trình về cử chuyên gia,
các chương trình cử các đoàn khảo sát về phát triển …… giúp cho các nước
nhận viện trợ phát triển nguồn nhân lực.
doanh nghiệp trong nước tăng lên đáng kể. Bằng cách tuyển dụng lao động địa
phương vào trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trực tiếp tạo
việc làm cho người lao động hoặc gián tiếp tạo việc làm thông qua việc hình
thành các doanh nghiệp vệ tinh cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các doanh
nghiệp này và khi các doanh nghiệp vệ tinh này được hình thành và phát triển sẽ
tạo việc làm trong phạm vi toàn xã hội.. Ngoài ra điều kiện lao động và chăm
sóc về mặt sức khoẻ, y tế đối với người lao động tại các nước tiếp nhận đầu tư
tốt hơn so với các doanh nghiệp địa phương.Với nguồn thu nhập ngày càng
được cải thiện thì chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao.
2.2.2. Là công cụ quan trọng hỗ trợ các nước đang và chậm phát triển
thực hiện chiến lược xoá đói giảm nghèo.
Công cụ chủ yếu để thực hiện mục tiêu này chính là từ nguồn viện trợ
ODA. Đối với các nước nghèo ODA là một cơ hội nâng cao chất lượng cuộc
sống của những người nghèo. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2015 mục tiêu
của viện trợ ODA là giảm một nửa tỷ lệ người cực nghèo (mức thu nhập dưới 1
USD/ngày, giảm 2.3 lần tỷ lệ chết ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi, giảm 3/4 tỷ lệ
chết của sản phụ và mọi trẻ em đều được đến trường...
Chương II : Thực trạng huy động, sử dụng và mối quan hệ giữa nguồn
vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế Việt Nam
I. Vốn trong nước có ý nghĩa quyết định trong việc thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế, thực trạng nguồn vốn trong nước:
1.Vai trò quyết định của nguồn vốn trong nước với sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế VN:
1.1.Hiện nay trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nguồn vốn trong nước
luôn chiếm tỉ trọng lớn và giữ vai trò chủ đạo.
Theo số liệu thống kê ta có thể nhận thấy Vốn trong nước luôn chiếm tỉ
trọng trên 70% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội và có xu hướng tăng lên. Sự
tăng lên đó là có sự đóng góp đáng kể của nguồn vốn ngoài quốc doanh. Sở dĩ
nguồn vốn này gia tăng trong những năm gần đây là do sự xuất hiện ngày càng
duy trì ở mức 12% vốn đầu tư toàn xã hội. Đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách
chiếm khoảng 27,5% tổng nguồn vốn ngân sách. Đã tập trung đầu tư cho hệ
thống đường quốc lộ, đường trục quan trọng, hạ tầng giao thông nông thôn, đặc
biệt là ở vùng núi, vùng biên giới hải đảo. Đã hoàn thành một số đoạn đường
quan trọng trên các trục đường quốc lộ như Đường mòn Hồ Chí Minh, đồng thời
khởi công và tập trung đầu tư cho một số dự án lớn.
Đầu tư vào lĩnh vực xã hội: tỷ lệ đầu tư trong 5 năm đạt 28% tổng mức đầu
tư toàn xã hội và 43.5% vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, trong đó:
Về Giáo dục đào tạo, chúng ta đã tập trung đầu tư tạo bước chuyển biến về
giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo công nhân lành nghề,
thêm nhiều trường đại học ra đời, những trường đại học đầu ngành không ngừng
nâng cao đổi mới, đại học vùng, các trường cao đẳng và dạy nghề cũng đáp ứng
được nhu cầu lớn về học tập.
Về Khoa học và công nghệ: tập trung xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho
các cơ quan khoa học công nghệ, hạ tầng kĩ thuật về công nghệ thông tin và khu
vực công nghệ cao Hoà Lạc, khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh
viện gen Trung ương.Chúng ta đầu tư thêm nhiều trang thiết bị mới phục vụ cho
công tác nghiên cứu và ứng dụng với những ngành khoa học mũi nhọn.Cụ thể
nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm được xây dựng, hạ tầng kĩ thuật Internet, các
trung tâm phát triển phần mềm, tin học hoá hoạt đông thông tin quản lí hành
chính Nhà nước cũng được triển khai một cách sâu rộng.Tập trung vào các
14
ngành mũi nhọn như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật
liệu mới và công nghệ tự động hoá.
Như vậy với việc không ngừng hoàn thiện chính sách huy động vốn, hoàn
thiện cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng đã huy động được khối lượng vốn đầu
tư lớn; hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình quan trọng về cơ sở hạ
tầng kinh tế, xã hội.
Sự ra đời của các Quỹ ĐTPT đã tạo tiền đề cho việc chuyển hoá một phần
hoạt động đầu tư của Nhà nước sang cho toàn xã hội nhằm thực hiện chủ trương
tư cũng được đa dạng hóa.ví dụ như chúng ta có thêm các loại công ty liên
15
doanh liên kết,tập đoàn.đây đều là những hình thức mới nhằm thu hút vốn nước
ngoài và tăng hiệu quả nguồn vốn trong nước
Vì nguồn vốn trong nước có vai trò quyết định như vậy nên chúng ta đang
cố gắng thu hút ngày càng nhiều vốn trong nước đặc biệt là từ doanh nghiệp và
dân cư để tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hôi. Cụ thể tình hình thu hút vốn từ
các nguồn trong nước như sau:
2.Thực trạng huy động và sử dụng vốn ngân sách Nhà nước:
2.1.Ngân sách nhà nước:
Đối với nguồn vốn Nhà nước ta trong những năm gần đây chiếm gần 50%
vốn đầu tư toàn xã hội. Trên thực tế, đầu tư từ nguồn vốn Nhà nước đã góp phần
tạo dựng và phát triển nhanh, mạnh hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách tích cực theo
hướng CNH-HĐH, tăng đáng kể năng lực sản xuất mới; góp phần xoá đói giảm
nghèo và giải quyết vấn đề bức thiết của đất nước. Nguồn vốn từ Nhà nước đã
thực sự giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt và thu hút các nguồn vốn khác huy động cho
đầu tư phát triển ngày càng tăng và đa dạng hơn. Công tác quản lý Nhà nước về
đầu tư phát triển, về xây dựng đã có một số tiến bộ đáng kể.
Thực tế cho thấy, trong những năm qua, quy mô vốn Nhà nước đã giảm
dần trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế, nhưng giá trị tuyệt đối lại không
ngừng gia tăng. Đến nay, lượng vốn Nhà nước đầu tư vào kinh doanh lên đến
gần 340.000 tỷ đồng (báo cáo của Bộ Tài Chính) gấp 2 so với năm 2000. Nguồn
vốn đã được tập trung đầu tư vào những lĩnh vực quan trọng thiết yếu, tránh
được sự dàn trải.
Hiện nay đã thành lập tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước
(SCIC) với vốn điều lệ ban đầu là 5.000 tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách Nhà
nước cấp 1.000 tỷ đồng, còn lại là vốn tiếp nhận từ các công ty thực hiện chuyển
giao về Tổng công ty. Đây là một trong số 19 tổng công ty và tập đoàn kinh tế
trực thuộc Chính phủ, thuộc sở hữu 100% vốn Nhà nước và được tổ chức theo
chức tín dụng. Như vậy sẽ từng bước xoá bỏ sự chênh lệch về trình độ phát triển
và đời sống của nhân dân giữa các vùng, miền tạo đà cho các vùng kinh tế cùng
phát triển.
- Hỗ trợ phát triển một số lĩnh vực trọng điểm của nền kinh tế:
Về phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế: hàng nghìn km cầu đường giao thông
được làm mới và nâng cấp mở rộng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội trên từng địa bàn và trong phạm vi cả nước nhất là vùng miền núi,vùng biên
giới hải đảo.
Phát triển các ngành sản phẩm công nghiệp trọng điểm: vốn tín dụng phát
triển của Nhà nước đầu tư cho các nhà máy đóng tàu có khả năng đóng mới
hàng chục trọng tải từ 6500 tấn đến 53000 tấn mỗi năm; Ngành đường sắt được
đầu tư đóng mới , nguồn vốn này cũng có phần tăng thêm năng lực sản xuất xi
măng, thép…
Phát triển kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn: trên 800 dự án
trong lĩnh vực nông nghiệp-nông thôn được vốn tín dụng phát triển đầu tư,vì vậy
năng lực chế biến sản phẩm nông lâm thuỷ hải sản được tăng thêm, trồng mới
240 nghìn rừng nguyên liệu…Nhiều chương trình dự án vẫn đang được vốn tín
dụng phát triển của Nhà nước tiếp tục đầu tư.
- Tạo sự chuyển biến về lượng và chất trong việc khai thác các nguồn vốn
cho đầu tư, thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính: tổng nguồn vốn trong
nước của kênh tín dụng và phát triển của Nhà nước đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu
cầu giải ngân của các dự án đầu tư và hợp đồng xuất khẩu ..
- Giải quyết các vấn đề xã hội: vốn tín dụng đã đầu tư vào sử dụng hàng
trăm bệnh viện, trường học, trường dạy nghề, các khu nhà ở và đô thị mới. Các
17
dự án được đầu tư bằng vốn này góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng triệu
lao động, đào tạo nguồn nhân lực, bảo vệ sức khoẻ và nâng cao mức sốn cho
người dân, đặc biệt người dân ở khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng
Đồng Bằng sông Cửu Long.
Tình hình huy động vốn của quỹ ĐTPT tính đến hết năm 2004, nguồn vốn
máy thuỷ điện ở vùng sâu, vùng xa…góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
những vùng khó khăn.
Cùng với việc sắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước
thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp Nhà nước
(DNNN) là khâu quan trọng. Vốn đầu tư cho các DNNN do các ngân hàng
thương mại Nhà nước cho vay chiếm xấp xỉ đến trên dưới 50%.
Trong những năm vừa qua, phần lớn các DNNN được sắp xếp lại theo
hướng cổ phần hóa đã nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm đối với nền kinh
18
tế, sản xuất kinh doanh đã có lãi, nhiều DN đã mạnh dạn đầu tư đổi mới công
nghệ, máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, khắc
phục tình trạng lỗ và có vốn tích lũy để tái sản xuất mở rộng.
.4.Vốn tư nhân:
Mặc dù doanh nghiệp Nhà nước được xác định là giữ vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế, nhưng theo thực tế thì khu vực tư nhân lại là yếu tố quan trọng giúp
nước ta duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.
Điểm nổi bật về đầu tư trong 5 năm qua là sự tăng lên mạnh mẽ của đầu tư
từ khu vực kinh tế tư nhân. Do tác động của luật Doanh nghiệp năm 1999, từ
năm 2000 đến 2005 đã có trên 160 nghìn doanh nghiệp đăng kí thành lập mới
với số vốn đăng kí khoảng 321 nghìn tỷ đồng, số doanh nghiệp tham gia thị
trường tăng bình quân mỗi năm khoảng 23% về số lượng và tăng 51,7% về vốn
đăng kí; số lượng doanh nghiệp thành lập mới từ 2001-2005 bằng 2,6 lần so với
giai đoạn 10 năm từ 1991 đến 2000 cộng lại với số vốn đăng kí gấp 7,7 lần.Luật
đầu tư mới được áp dụng năm 2007 cũng tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi để
các doanh nghiệp tham gia.
Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp dân doanh trong nước liên tục tăng và
vượt cao hơn vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước. Vốn đầu tư của khu vực
dân cư và tư nhân năm 2001 chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, năm 2007
tăng lên 37%.
Doanh nghiệp dân doanh đã đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu,
tác xã là một trong những nội dung quan trọng trong phương hướng phát triển
kinh tế - xã hội của nước ta giai đoạn 2006-2010 mà Văn kiện Đại hội Đảng lần
thứ X đã đề cập. Trước hết phải kể đến việc nhiều HTX đã trở thành cầu nối
kinh tế giữa các hộ nông dân với doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp ngoài
quốc doanh, góp phần tăng cường năng lực sản xuất hàng hoá khu vực nông
nghiệp, nông thôn và kinh tế hộ sản xuất. Các hợp tác xã nông nghiệp trong thời
gian qua đã thực hiện tốt vai trò khuyến nông, dịch vụ thuỷ lợi, bảo vệ thực vật,
trông coi đồng ruộng và an ninh ở nông thôn…Nhìn chung các HTX nông
nghiệp đã đóng vai trò tích cực trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp,
đưa giá trị sản xuất bình quân ở phía Bắc từ 22 triệu đồng lên 37 triệu đồng/ha/
năm. Với định hướng phát triển mô hình hợp tác xã chủ yếu tập trung vào phát
triển công nghiệp, dịch vụ, đặc biệt là công nghiệp chế biến… yếu tố quan trọng
để thúc đẩy mô hình phát triển đó chính là chính sách về vốn.
Theo báo cáo của Cục HTX&PTNT, năm 2005, gần 4450 HTX hoạt động
có lãi, chiếm tỷ lệ 77% tổng số HTX, tăng 8% so với 2002. Mức lãi bình quân
của mỗi HTX là 24,5 triệu đồng. Tuy con số lãi còn hết sức khiêm tốn, nhưng
cho thấy hơn 2/3 số HTX đã hoạt động có lãi và bảo toàn được vốn.
Cũng trong thời gian qua số HTX tín dụng tiếp tục tăng và hoạt động có
hiệu quả, với hơn 900 quỹ tín dụng nhân dân hoạt động theo mô hình mới, vừa
hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng, vừa hoạt động theo Luật HTX.
Ngoài các nguồn vốn đã nói trên thì nguồn vốn có được từ sự đầu tư về
nước của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thời kỳ đổi mới cũng là một
nguồn vốn quan trọng tác động đến nền kinh tế - xã hội của nước ta.với Luật
Khuyến kích đầu tư trong nước, với số vốn của Việt Kiều đăng kí trên 5000 tỷ
đồng, trong đó có một số dự án được cấp giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. Để
triển khai dự án đầu tư, các chủ đầu tư đã thành lập doanh nghiệp dưới 3 loại
hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân. Lĩnh
vực đầu tư kinh doanh của doanh nhân Việt Kiều chủ yếu là thương mại dịch vụ
(chiếm 58% dự án), lĩnh vực sản xuất ( chiếm 25% dự án). Đối với ngành công
nghiệp xây dựng chỉ chiếm 5% do đòi hỏi vốn lớn, thời hạn thu hồi vốn dài. Các