Biến chứng tim mạch của tăng huyết áp - Pdf 17


Biến chứng tim mạch của
tăng huyết áp
Tăng huyết áp (THA) dẫn đến các biến chứng ở não, tim và thận
thông qua 2 cơ chế, cả hai cơ chế này đều do ảnh hưởng của tăng áp lực
trong động mạch. Thứ nhất là do ảnh hưởng của áp lực máu cao trên cấu trúc
và chức năng của tim và mạch máu; thứ hai là do sự tiến triển của vữa xơ
động mạch. Cơ chế đầu tiên là do hậu quả trực tiếp của huyết áp (HA), trong
khi cơ chế thứ hai là do sự tương tác với các yếu tố nguy cơ khác để gây ra
các bệnh tim mạch, quan trọng nhất là tăng cholesterol máu. Do vậy, đột qụy
liên quan chặt chẽ với các ảnh hưởng trực tiếp của huyết áp, trong khi bệnh
động mạch vành (ĐMV) liên quan với vữa xơ động mạch. Sự liên quan giữa
huyết áp với biến cố đột qụy chặt chẽ hơn là với biến cố ĐMV.
Biến chứng bệnh ĐMV
Phân tích tổng hợp 61 nghiên cứu cho thấy có sự liên quan chặt chẽ
giữa HA tâm thu và HA tâm trương với nguy cơ bị biến cố ĐMV ở 5 nhóm
tuổi từ 40-49, 50-59, 60-69, 70-79, 80-89. Nghiên cứu cho thấy cứ tăng mỗi
20mmHg HA tâm thu (khi HA tâm thu thay đổi từ 115-180mmHg) và/hoặc
tăng mỗi 10mmHg HA tâm trương (khi HA tâm trương tăng từ 75-
100mmHg) thì tăng gấp 2 lần nguy cơ. Có sự tương tác giữa các yếu tố nguy
cơ với nhau, do vậy mối liên quan giữa HA tâm thu và nguy cơ bệnh ĐMV
càng chặt chẽ hơn ở bệnh nhân có cholesterol máu cao hơn là các bệnh nhân
có cholesterol máu bình thường. Mặc dù đã xác định rõ ràng rằng HA là một
trong 3 yếu tố nguy cơ chủ yếu gây bệnh ĐMV (2 yếu tố nguy cơ kia là
cholesterol máu cao và hút thuốc lá), nhưng người ta thấy biến chứng bệnh
ĐMV thường xuất hiện ở các bệnh nhân không có đầy đủ cả 3 yếu tố nguy
cơ này. Nghiên cứu tiến cứu ngẫu nhiên cho thấy ở các bệnh nhân bị nhồi
máu cơ tim (NMCT) tử vong và không tử vong, một trong số ba yếu tố nguy

bệnh nhân trên 65 tuổi, và không giống như các biến chứng khác của THA,
tỷ lệ bị suy tim đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây. Với phụ nữ và
nam giới khoảng 40 tuổi, nguy cơ bị suy tim khoảng 20% trong những năm
còn lại của cuộc đời, một con số cao đáng ngạc nhiên. Nếu đối tượng có mắc
bệnh ĐMV được loại trừ thì tỷ lệ này là 11% ở nam giới và 15% ở nữ giới.
HA là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu. Nguy cơ tăng gấp 2 lần ở nam giới và gấp
3 lần ở nữ giới có THA so với những người có HA bình thường. 90% số
trường hợp mới bị suy tim có tiền sử bị THA. Nguy cơ này có liên quan chặt
chẽ với chỉ số HA tâm thu hơn là HA tâm trương. Điều trị bệnh THA ở
người lớn tuổi sẽ làm giảm tỷ lệ bị suy tim khoảng 50%.
Trong khoảng 10 năm gần đây, có khoảng gần ½ số bệnh nhân có
triệu chứng kinh điển của suy tim nhưng chức năng tâm thu thất trái bình
thường (EF > 50%) trên siêu âm tim. Những người này bị suy chức năng
tâm trương của tim. Suy tim tâm trương chiếm khoảng 74% các trường hợp
bị suy tim trong số các bệnh nhân THA. Nguyên nhân của suy tim tâm
trương là do sự thay đổi ở trong tim. Những thay đổi tiên phát trong THA
xuất hiện ở động mạch ngoại biên. Bệnh nhân THA xuất hiện phì đại thất
trái và suy tim là bởi vì tăng áp lực mạch gây tăng gánh nặng cho tim hay
tăng hậu tải. Vì sao điều này không áp dụng được cho suy tim tâm trương?
Bệnh nhân suy tim tâm trương có ĐMC cứng hơn bệnh nhân bình thường,
do vậy làm tăng nhanh phản hồi sóng mạch từ ngoại biên, kết hợp với tăng
áp lực tâm thu động mạch chủ trung tâm và giảm áp lực tâm trương. Yếu tố
thứ hai sẽ dẫn đến giảm tưới máu ĐMV trong thời kỳ tâm trương và do vậy
làm ảnh hưởng đến sự thư giãn của cơ tim.
Phình động mạch chủ bụng
Tỷ lệ bệnh nhân bị phình động mạch chủ (ĐMC) bụng ngày càng tăng
lên do số người già có mang các yếu tố nguy cơ tim mạch từ thời trung niên
ngày càng tăng. THA là một trong các yếu tố nguy cơ chính gây phình ĐMC
bụng. Có sự liên quan giữa chỉ số HA và tỷ lệ mắc phình ĐMC bụng:
khoảng 3% những người THA nhẹ có tuổi từ 60-75 bị bị phình ĐMC bụng

thần kinh vĩnh viễn ở người trưởng thành và là nguyên nhân quan trọng nhất
làm bệnh nhân phải nhập viện cũng như cần phải chăm sóc lâu dài tại nhà.
Tỷ lệ tử vong do đột qụy đã giảm đi trong những năm gần đây nhưng vẫn
còn rất cao, đặc biệt di chứng do đột qụy rất trầm trọng ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sức khỏe cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.
THA là nguyên nhân chủ yếu gây đột qụy. Khoảng 50% trường hợp
đột qụy là do THA, HA càng tăng thì nguy cơ bị đột qụy càng cao. Người bị
THA có nguy cơ bị đột qụy cao gấp 3-4 lần so với người có HA bình
thường, ngay cả những người có chỉ số HA ở giới hạn cao của bình thường
130/86mmHg cũng có nguy cơ bị đột qụy tăng gấp 1,5 lần.
Gần 80% người bị THA bị đột qụy là do thiếu máu não, do huyết khối
tại chỗ gây tắc mạch hay huyết khối từ nơi khác trôi đến gây thuyên tắc
mạch. 15% chảy máu trong não và 5% chảy máu dưới màng nhện. Thiếu
máu não thoáng qua (TIA) do sự cung cấp máu không đầy đủ gây thiếu hụt
thần kinh trong vòng 24 giờ thường do thuyên tắc mạch do các mảng xơ vữa
bong ra từ động mạch cảnh hay cục máu đông gây thuyên tắc có nguồn gốc
từ tim. Những người này có nguy cơ cao bị đột qụy thực sự.
Người ta thấy rằng các cơn đột qụy thường xảy ra vào lúc sáng sớm,
vài giờ sau khi ngủ dậy, khi mà HA đột ngột tăng cao. Mặt khác, những
người THA đang được điều trị có HA hạ xuống khi ngủ cũng rất dễ bị nguy
hiểm. Cần thận trọng khi sử dụng thuốc hạ HA trong giai đoạn cấp của đột
qụy để tránh làm giảm HA quá nhiều gây tổn thương não trầm trọng hơn.
Ngược lại, điều trị THA lâu dài là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa và
tránh tái phát đột qụy.
Biến chứng bệnh thận mạn tính
Có sự liên quan giữa HA với nguy cơ bị bệnh thận giai đoạn cuối, cho
dù người đó có chỉ số HA ở giới hạn cao của bình thường (HA tâm thu từ
130-139mmHg và/hoặc HA tâm trương từ 85-89mmHg) so với người có HA
tối ưu (dưới 120/80mmHg). Bệnh nhân THA không được kiểm soát tốt có
nguy cơ bị suy giảm chức năng thận nhiều hơn. Các bệnh nhân sau NMCT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status