Một số vấn đề về chuẩn mực hoá ngôn ngữ - Pdf 17

Một số vấn đề về chuẩn mực hoá ngôn ngữ *
Chuẩn mực hoá ngôn ngữ và văn hoá mới, con người mới
• Hoàng Tuệ
• Chuẩn mực hoá ngôn ngữ và văn hoá mới, con người mới • Tiếp nhận từ của ngoại ngữ trong quá
trình tiếp xúc ngôn ngữ • Nhu cầu mượn từ • Đồng hoá từ mượn • Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết •
Nhất quán và không nhất quán
Qua các hội nghị chuẩn mực hoá chính tả và thuật ngữ
[1]
, có thể rút ra một số vấn đề chung, như các
vấn đề trình bày dưới đây.
Chuẩn mực hoá ngôn ngữ và văn hoá mới, con người mới
Đây là vấn đề về quan điểm tư tưởng và quan điểm chính sách trong công tác chuẩn mực hoá ngôn
ngữ nói chung. Thiết tưởng vấn đề này đáng được suy nghĩ nhiều nhất.
Trước tiên, cần chú ý tới một sự tổng kết của lịch sử: kẻ bành trướng tràn tới đâu là đem theo ngôn
ngữ của chúng tới đó làm công cụ thống trị; và kẻ bị thống trị đấu tranh bảo vệ bảnn ngữ là góp phần
rất quan trọng vào cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của đất nước. Tiếng Việt là một chứng minh cho
thực tế lịch sử đó và cho tinh thần đấu tranh của dân tộc ta. Cho nên, hiện nay cũng như trong tương
lai, “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” là một công tác luôn luôn có ý nghĩa chính trị sâu sắc, vì
bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc là nhiệm vụ lâu dài của nhân dân ta.
Nhưng trong ngôn ngữ học, cũng đã đi tới một sự tổng kết như sau: ngôn ngữ tồn tại, hành chức, và
do đó phát triển trên cái nền xã hội của nó là nơi đã diễn ra, trong những điều kiện lịch sử nhất định,
các quá trình tiếp xúc dân tộc, văn hoá và ngôn ngữ phức tạp và phong phú trên cái thế có thể là bất
bình đẳng mà cũng có thể là bình đẳng giữa các dân tộc.
Cho nên, thực quả không có dân tộc nào là một cộng đồng ngôn ngữ và văn hoá thuần khiết, tự túc,
tự mãn; và không có ngôn ngữ nào phát triển chỉ với chất liệu của mình mà còn với chất liệu tiếp
nhận của ngôn ngữ khác trong quá trình tiếp xúc.
Lịch sử của tiếng Việt cũng rõ là như vậy. Trong những điều kiện lịch sử trước kia của đất nước,
tiếng Việt đã trải qua cả nghìn năm tiếp xúc với tiếng Hán; rồi sau đó, lại tiếp xúc với tiếng Pháp.
Hậu quả là trong trạng thái hiện nay, nó có ba thành phần chất liệu: chất liệu vốn của nó
(1)
, chất liệu

đất nước ta.
Thiết nghĩ, bản lĩnh ấy là phần rất quý báu trong cái mẫu về con người Việt Nam, trên đất nước Việt
Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển, trong sự tiếp xúc ngôn ngữ và tiếp xúc văn hoá ngày
càng rộng mở, một cách sinh động hơn, phong phú hơn với thế giới, với loài người, trên thế bình
đẳng và hợp tác. Thiết nghĩ phải với quan điểm về hướng phát triển đó của xã hội mới, văn hoá mới,
con người mới Việt Nam, mà suy nghĩ về hướng phát triển của tiếng Việt và từ đó về các nguyên tắc
chuẩn mực hoá tiếng Việt, tiếng Việt ở một giai đoạn mới của sự nghiệp cách mạng.
_________________
(1)
Trong chất liệu nói là vốn của tiếng Việt, tất nhiên có cả những yếu tố gốc ở các tiếng Môn-
Khơme, Thái…, nhưng ở đây, không nói đến những nguồn gốc xa xưa đó.
Một số vấn đề về chuẩn mực hoá ngôn ngữ
Tiếp nhận từ của ngoại ngữ trong quá trình tiếp xúc ngôn
ngữ
• Hoàng Tuệ
• Chuẩn mực hoá ngôn ngữ và văn hoá mới, con người mới • Tiếp nhận từ của ngoại ngữ trong quá
trình tiếp xúc ngôn ngữ • Nhu cầu mượn từ • Đồng hoá từ mượn • Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết •
Nhất quán và không nhất quán
Tiếp nhận từ của ngoại ngữ trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ
Chất liệu ngôn ngữ bao gồm chất liệu hình thức và chất liệu nội dung.
Chất liệu nội dung là những sự vật, những khái niệm, những tư tưởng, tình cảm… Những cái đó, làm
nên văn hoá vật chất và tinh thần của mỗi dân tộc, không phải và không thể là do mỗi dân tộc tạo ra
tất cả. Có những cái, có cả những bộ phận, do tiếp nhận tự ngoài vào mà có, và cùng với sự tiếp nhận
chất liệu nội dung là sự tiếp nhận chất liệu hình thức. Đó là lí do chính vì sao trong một ngôn ngữ có
thể có những từ vốn của ngoại ngữ. Yêu cầu chuẩn mực hoá thường được đặt ra chủ yếu đối với
những từ này. Vì thế, thiết tưởng cần phải tìm hiểu hiện tượng tiếp nhận từ của ngoại ngữ, phân loại
những trường hợp khác nhau, mới có thể xác định giới hạn đối với yêu cầu nói trên.
Sự thực, tiếp nhận từ của ngoại ngữ vào bản ngữ là một quá trình và ý thức của người bản ngữ là một
nhân tố rất quan trọng đối với quá trình ấy. Cho nên có thể căn cứ vào ý thức đó mà phân thành
những trường hợp khác nhau.

Trước tiên, nội dung của từ mượn không phải ngoại, mà chung hay, đã trở thành chung. Đó là cái
khác cơ bản giữa từ ngoại và từ mượn. Thí dụ, xét về nội dung thì “Chicago”, “gangster”… là từ
ngoại, còn công-tây-nơ, a-xít… là từ mượn. Nhưng về hình thức, từ mượn vẫn giống từ ngoại. Và
người bản ngữ thế nào cũng nhận ra được hình thức ngoại của từ ngoại và từ mượn qua các đặc điểm
về âm, hay về cách dùng, từ là về khả năng hành chức của chúng trong bản ngữ.
Chính sự đối lập giữa hình thức và nội dung như vừa nói là sự xung đột bản ngữ – ngoại ngữ tập
trung ở từ mượn và làm thành vấn đề của nó. Có thể phát biểu vấn đề ấy như sau: tại sao nội dung
không phải hay không còn là ngoại mà hình thức lại vẫn là ngoại? Trước vấn đề ấy, nếu cách xử lí
của người bản ngữ là vẫn cứ chấp nhận, cứ hoan nghênh hình thức ngoại, mặc dù nội dung không là
ngoại, thì cách xử lí ấy là hành động mượn từ và những từ xuất hiện trong bản ngữ do hành động ấy
là từ mượn. Như vậy, mỗi hành động mượn từ là một giải pháp có ý thức của người bản ngữ đối với
một trường hợp xung đột bản ngữ – ngoại ngữ.
Giải pháp ấy đúng hay sai? Câu hỏi này lại là vấn đề của sự chuẩn mực hoá, một vấn đề quan trọng
trong sự chuẩn mực hoá ngôn ngữ về mặt từ vựng. Vì lẽ đó, cần nói riêng về từ mượn.
Một số vấn đề về chuẩn mực hoá ngôn ngữ
Nhu cầu mượn từ
• Hoàng Tuệ
• Chuẩn mực hoá ngôn ngữ và văn hoá mới, con người mới • Tiếp nhận từ của ngoại ngữ trong quá
trình tiếp xúc ngôn ngữ • Nhu cầu mượn từ • Đồng hoá từ mượn • Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết •
Nhất quán và không nhất quán
Nhu cầu mượn từ
Hành động mượn từ có thể chẳng có lí do gì chính đáng, chẳng đáp ứng một nhu cầu thực sự nào về
ngôn ngữ, mà nhiều khi, chỉ là biểu hiện của ý thức không tôn trọng, không nghiêm túc đối với ngôn
ngữ của dân tộc. Ở đâu cũng có sự tình này. Ở ta, rõ ràng là có khi đã như như thế. Thực ra, cái cớ
lúc đầu là chưa có sẵn từ trong bản ngữ để đáp ứng ngay một nội dung mới, còn có tính chất ngoại.
Thí dụ, chừng nửa thế kỉ trước, cái xe đạp là một trường hợp như thế và có người đã gọi nó là tự
hành xa! Thí dụ này đáng chú ý, vì trước đây có lắm người thông tiếng Hán hễ gặp một nội dung
mới từ phương Tây đến (đặc biệt là khái niệm trừu tượng về văn hoá, chính trị… nhưng cả khi là sự
vật cụ thể cũng thế) thì một mặt, cự tuyệt chất liệu Pháp; mặt khác cũng không chịu tìm chất liệu
Việt mà sẵn sàng dùng ngay chất liệu Hán, tức Hán Việt. Sự tình này, như đã nói, có nguyên nhân

nào đó không gọi là can được. Cái khác nhau là: chuyện can, chuyện đời sống bình thường, còn
chuyện công-tây-nơ quan trọng hơn nhiều; đây là chuyện vận tải hàng hoá, theo tiêu chuẩn quốc tế
của một ngành hoạt động kinh tế. Từ mượn công-tây-nơ là một thuật ngữ khoa học, một danh từ
chuyên môn hay chuyên danh.
Thiết nghĩ đối với thuật ngữ thì giá trị định danh chính xác mà nó phải có là một yêu cầu cần để lên
hàng đầu. Điều mà các nhà khoa học trong các ngành khoa học tự nhiên, khoa học kĩ thuật và khoa
học xã hội đều muốn tránh, là tình trạng một khái niệm được định danh bằng những từ khác nhau, và
một từ dùng để định danh những khái niệm không giống nhau. Cho nên, một mặt, nhà khoa học
không thể không thấy yêu cầu của xã hội là chớ làm cho ngôn ngữ khoa học trở thành một thứ ngôn
ngữ quá tách biệt khỏi ngôn ngữ chung của dân tộc; nhưng mặc khác, xã hội cũng không thể không
thấy yêu cầu của nhà khoa học là chớ gây ra, bằng một quan niệm quá dễ dãi về thuật ngữ, những sự
hiểu lầm có thể ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của khoa học. Trong tình hình hiện nay, ngành
khoa học nào cũng có trình độ chuyên môn hoá sâu của nó cho nên tiếng nói quyết định trong việc
xây dựng hệ thống thuật ngữ của mỗi ngành nói chung, và nói riêng, việc nên hay không nên dùng từ
mượn, thay thế hay không thay thế từ mượn bằng từ của bản ngữ cần được dành cho các nhà khoa
học của mỗi ngành. Tất nhiên, các nhà khoa học nên có sự cố gắng nhìn đến các nguyên tắc chuẩn
mực hoá ngôn ngữ, trong khuôn khổ chuẩn mực hoá từ vựng.
Giá trị định danh chính xác của thuật ngữ, hiện nay, cũng có ý nghĩa quốc tế. Một trong các hoạt
động của “Hội thuật ngữ học quốc tế” là thu thập thuật ngữ mới, của một số thứ tiếng trên thế giới
(trong đó có tiếng Việt) để so sánh và phát hiện những hiểu lầm có thể sinh ra giữa các nhà khoa học
ở những nước khác nhau nhưng hoạt động trong cùng một ngành. Tuy vậy, ở diện quốc tế, vấn đề
thống nhất hoá hay quốc tế hoá thuật ngữ lại có một khía cạnh tư tưởng đáng chú ý là một số nước đã
đi những bước trước trong một ngành khoa học nhất định, có ý muốn dùng thuật ngữ của nước mình
là cái cơ sở cho thuật ngữ của những nước khác. Thí dụ, không ít người cho rằng các khái niệm của
điều khiển học đã sinh ra và được hoàn chỉnh hoá trước ở Mĩ, cho nên đồng bộ thuật ngữ của ngành
này ở bất cứ nước nào cũng nên mượn của Mĩ. Quan điểm ấy không phải đã được tán thành một cách
dễ dàng, và cũng không ít người ở những nước khác, những nước có vai vế như Mĩ về mặt khoa học,
cho rằng sự tràn lan của những “americanisme” ấy là vô lối, và cần phải nhìn lại. Những quan niệm
như thế ở góc độ này hay ở góc độ kia, ở góc độ nào cũng thể hiện quan điểm tư tưởng, với ít hay
nhiều màu sắc dân tộc chủ nghĩa, thậm chí sô-vanh chủ nghĩa. Vì thế, một nước đang phát triển về

của ta là quyền con người, là làm dịu căng thẳng…
Một số vấn đề về chuẩn mực hoá ngôn ngữ
Đồng hoá từ mượn
• Hoàng Tuệ
• Chuẩn mực hoá ngôn ngữ và văn hoá mới, con người mới • Tiếp nhận từ của ngoại ngữ trong quá
trình tiếp xúc ngôn ngữ • Nhu cầu mượn từ • Đồng hoá từ mượn • Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết •
Nhất quán và không nhất quán
Đồng hoá từ mượn
Một từ mượn, nếu không bị thay thế, thì còn trải qua một quá trình chịu những tác động của người
bản ngữ mới có vị trí vững vàng. Quá trình ấy là sự đồng hoá từ mượn. Nói chung, nó biểu thị mặt
tích cực, sáng tạo, của người bản ngữ đối với từ mượn để nhằm tạo nên tính chất thuần nhất trong
bản ngữ. Cho nên, trong sự chuẩn mực hoá ngôn ngữ, đồng hoá từ mượn là một yêu cầu rất được chú
ý. Nếu ta nói đến sự Việt hoá từ mượn trong tiếng Việt thì chẳng hạn, người Pháp cũng nói đến sự
Pháp hoá những từ mượn trong tiếng Pháp…
Nhưng như thế nào là đồng hoá thì hình như không phải không có lúng túng trong quan niệm, và do
đó, trong các quy định chuẩn mực hoá, thí dụ, ở tiếng Pháp có từ mượn pull-over quen thuộc, gốc
tiếng Anh: về chính tả thì trong tiếng Pháp bắt viết hoàn toàn như tiếng Anh; về ngữ âm, lại bảo phát
âm theo tiếng Pháp (âm tiết cuối phát âm “ve”, không phát âm phát âm “vơ”). Một sự Pháp hoá như
vậy là chưa rõ lẽ! Nếu dẫn những thí dụ về sự Anh hoá từ mượn gốc Pháp, cũng có thể nhận thấy
tình hình như thế. Chẳng hạn, trong tiếng Anh có từ debt (là nợ) vốn gốc Pháp là dette, mà về phát
âm chẳng khác gì nhau mấy, nhưng về chính tả, bên tiếng Anh buộc phải có chữ b, chẳng qua là
muốn Anh hoá, nhưng lại Anh hoá bằng các truy tới gốc Latinh là debitum!
Tình hình đó ở các ngôn ngữ không cho phép ta, trong sự Việt hoá từ mượn, viện dẫn một cái mẫu
nào để theo. Vả lại, đồng hoá có ý nghĩa dân tộc hoá, cho nên thường bao hàm, trong các quy định
chuẩn mực hoá theo hướng đồng hoá, một quan điểm dân tộc nào đó, ở một nước nào đó, vào một
thời điểm nào đó, mà ta không thể nghĩ là chân lí rồi!
Cho nên, yêu cầu nghiêm chỉnh là xem xét lại các tiêu chuẩn mà theo đó, từ mượn có thể được coi là
đồng hoá.
Thường có sự chú ý nhiều đến tiêu chuẩn ngữ âm. Quả nhiên, trong các ngôn ngữ đều có thể nhận
thấy hiện tượng một từ mượn khi đã được chấp nhận, thì cái chất liệu ngữ âm ngoại của nó chuyển

Do tính chất không xa, lại có vẻ gần ấy về ngữ âm của từ Hán-Việt mà sinh ra trong tiếng Việt cái xu
hướng quá trọng chất liệu ngữ âm Hán-Việt, so với chất liệu ngữ âm tiếng Pháp, tiếng Anh. Xu
hướng ấy thể hiện rất rõ ở hiện tượng tên riêng của tiếng nước ngoài nào, phương Tây hay phương
Đông, cũng đến Hán-Việt hoá đi cả, vì như vậy dễ nghe hơn. Xu hướng ấy sản sinh ra những cái kì
quái như: “Mạnh đức tư cưu”, “Ái nhĩ lan”,… song vẫn được chấp nhận, hoan nghênh trong cái tâm
lí của thế hệ những người song ngữ văn hoá Việt-Hán ở đầu thế kỉ này. Nhưng đến những thế hệ sau,
với lớp người song ngữ văn hoá không phải Việt-Hán nữa, là sinh ra phản ứng chống đối. “Mông tét
ki ơ”, “Iếclăng” hoặc “Ai len”, dù thế nào, cũng thể hiện một tâm lí mới, ở một thời đại mới. Tâm lí
ấy đòi hỏi một giải pháp khác, theo nguyên tắc khác; chính vì đến nay chưa chưa định nên giải pháp
chưa rõ. Nếu nguyên tắc về “từ ngoại” nói trên được chấp nhận, và cái thói quen “dễ nghe” được coi
là một tiêu chuẩn không thể quyết định tất cả thì giải pháp “Montesquieu”, “Ireland”, thiết tưởng
mới rõ lẽ; cũng là cái lẽ cố gắng văn hoá, và là cái lẽ thuận theo sự phát triển của con người, của
ngôn ngữ, của thời đại.
Xu hướng nói trên còn thể hiện ở hiện tượng coi từ vựng Hán-Việt như một nguồn cung ứng tự nhiên
của từ vựng tiếng Việt, đặc biệt ở phạm vi thuật ngữ. Chất liệu nội dung mới, tự phương Tây đến với
ta, đặc biệt trong phạm vi tư tưởng, chính trị, văn hoá, kinh tế… đều phải thông qua, thực vậy, cái
cửa Hán-Việt hoá. Chính thế, philosophie = triết lí, triết học; république = cộng hoà; culture = văn
hoá… Những sự đối chiếu, những đẳng thức như vậy chỉ có mặt tiện lợi về hình thức, trong đó mặt
ngữ âm là quan trọng, chứ không phải là tất yếu về nguyên tắc, đặc biệt khi xem xét mặt nội dung.
Cho nên, những thuật ngữ như o-xy-gen thay dưỡng khí, hi-dro-gen thay khinh khí, lô-gích thay luận
lí… và những câu hỏi như nên là điều khiển học hay nên là xi-béc-nê-ltic hoặc cybernelique… đều
có ý nghĩa là những phản ứng, băn khoăn có lí do và đã xuất phát tự góc độ khác, nguyên tắc khác.
Có lẽ cũng nên chú ý rằng khi nói năng, các cán bộ khoa học ở ta vẫn dùng xen vào lời nói rất nhiều
thuật ngữ như cybernetique, génetique, culture, philosophie… và những ngôn ngữ khác như tiếng
Thái, tiếng Indonisia… vẫn có khả năng giải quyết vấn đề thuật ngữ bằng cách mượn thẳng, chứ
không mượn vòng qua ngôn ngữ trung gian. Hiện nay, cách xử lí chuẩn mực hoá của ta rõ là không
nên cực đoan, tức là thay thế tất cả các thuật ngữ Hán-Việt, nhưng chắc là phải dựa trên cơ sở thừa
nhận, về mặt hình thức, vai trò của chất liệu Hán-Việt cũng như chất liệu Pháp hoặc phương Tây, để
đối xử với chúng một cách ngang nhau, và dựa trên nguyên tắc coi trọng sự đối xứng giữa chất liệu
hình thức với chất liệu nội dung, để đạt yêu cầu chính xác trong sự định danh, nhất là các khái niệm

Anh: phlegm; nhưng ở tiếng Anh, tiếng Pháp, thì chỉ có nghĩa như trong “nó phớt tỉnh” mà không có
cái nghĩa sinh ra ở tiếng Việt, như trong: “nó phớt tôi”.
Tuy vậy, trong tiếng Việt, hiện tượng đồng hoá về ngữ nghĩa là chủ yếu ở những từ Hán-Việt. Những
thí dụ như sau thường được dẫn: tử tế vốn có nghĩa là cẩn thận, nhưng hiện nay được dùng theo
nghĩa khác; lịch sự vốn có nghĩa là từng trải, như lịch duyệt, nhưng hiện nay không còn được dùng
theo nghĩa ấy nữa. Về những trường hợp như trên thì ai cũng thấy và chấp nhận sự biến đổi nghĩa.
Nhưng có rất nhiều trường hợp tế nhị ít được chú ý hơn, thường là những từ đơn, vào tiếng Việt cũng
đã lâu và hay được dùng làm những yếu tố cấu tạo từ. Thí dụ: yếu tố lạc trong những từ siêu lạc,
lệch lạc, lạc lõng… của tiếng Việt là đã chuyển đi khá xa về ngữ nghĩa tự cái gốc lạc Hán-Việt, cho
nên đối với những trường hợp như lạc đề, lạc đơn vị dùng trong tiếng Việt hiện nay cũng không còn
cái nghĩa là cái sai phạm lớn (bỏ đề, bỏ đơn vị) giống như lạc đề, lạc ngũ trong tiếng Hán… Nếu trở
lại trường hợp yếu tố hoá nói trên, cũng có thể thấy là có sự biến đổi nghĩa tế nhị: yếu tố hoá trong
hoá xanh, hoá thành axít… không nên xem là giống hoàn toàn về ngữ nghĩa với yếu tố hoá trong
xanh hoá, axít hoá… Ở những trường hợp sau, nên thấy cái ý nghĩa ngữ pháp của hoá rất quan trọng
và rất có lợi về mặt hình thức hoá chất liệu nội dung, trong tiếng Việt.
Cuối cùng là hiện tượng đồng hoá về chính tả. Ở ta, hiện tượng này rất được chú ý và đề cao. Quả
vậy, khi yêu cầu viết a-xít,đừng viết a xít hay axít… thì có người cho rằng như thế dễ đọc hơn,
nhưng cũng có người nói đến cái lẽ về tính cách dân tộc, đến sự cần thiết phải Việt hoá cách viết
những thuật ngữ hoá học đó. Thực ra, mặt chữ viết vẫn tất nhiên phải có quy tắc riêng và yêu cầu
đồng hoá từ mượn về chính tả vẫn là có lí do. Tuy vậy, sự đồng hoá về chính tả không thể làm thay
đổi được tính cách của từ mượn khi nó được đồng hoá ở các mặt ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Ngoài ra, thiết tưởng còn phải thấy ở mặt chữ viết những đặc điểm của nó và đây cũng là vấn đề
được xem xét riêng.
Một số vấn đề về chuẩn mực hoá ngôn ngữ
Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
• Hoàng Tuệ
• Chuẩn mực hoá ngôn ngữ và văn hoá mới, con người mới • Tiếp nhận từ của ngoại ngữ trong quá
trình tiếp xúc ngôn ngữ • Nhu cầu mượn từ • Đồng hoá từ mượn • Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết •
Nhất quán và không nhất quán
Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

tức là nói ra. Một mục đích hết sức quan trọng của chữ, của ngôn ngữ viết là truyền lại những thông
điệp cho tương lai, vì thế tuy chỉ là mặt hình hức, chữ viết cũng mang ý nghĩa di sản của những đời
trước để lại cho những đời sau.
Mục đích cơ bản và khái quát ấy của chữ viết làm cho nó trở thành một thực thể được coi là tồn tại
riêng, chứ không phải chỉ là cái chuyển thân tự mặt âm mà có. Thái độ quý trọng, chăm sóc đến chữ
viết, chứ không phải quá tuỳ tiện với nó, cũng từ đó mà hình thành trong một xã hội có truyền thống
văn hoá. Tuy vậy, trong thái độ ấy, có những màu sắc khác nhau và rõ ràng là có những màu sắc
không thể nào nói khác hơn là sai lệch, ở nhà tu hành chỉ thấy chữ viết trên bản kinh linh thiêng, ở
nhà học giả chỉ thấy chữ viết trên văn bản cổ điển, ở nhà pháp luật chung và nhà pháp luật ngôn ngữ
chỉ thấy những quy chế đã ban hành và cần được giữ vững (có khi đó là quy chế của chính mình đã
làm ra), và ở cả nhà nghệ sĩ có quá nhiều tưởng tượng và nghĩ ngợi kiểu Rim-bô về chữ viết… Thực
tế là trong lịch sử vẫn có những dân tộc đã chấp nhận một sự li khai gian khổ với truyền thống và
cương quyết tiến hành cải cách chữ viết. Dân tộc ta là một trường hợp như vậy. Và phải thừa nhận
rằng đối với dân tộc ta, cũng như đối với những dân tộc đã cải cách chữ viết của mình theo chữ La
tinh, sự kiện ấy đều có tác dụng hết sức quan trọng. Điều này cho thấy là còn phải nhìn tới mục đích
thiết thực của chữ viết. Nhằm vào mục đích ấy là phải làm cho chữ viết trở thành một công cụ văn
hoá dễ học, dễ dùng đối với quần chúng nhân dân. Sự La tinh hoá chữ viết của các dân tộc thuộc địa
đã có một tác dụng dân chủ hoá, ngoài ý muốn của các vị giáo sĩ và các vị toàn quyền!
Nhìn lại lịch sử của “chữ quốc ngữ” ở nước ta, có thể thấy rằng nhân dân ta, sau một thời gian do dự,
đã nhận ra cái lợi mà thứ chữ này có thể đem lại cho đất nước và đã chấp nhận nó. Quả nhiên, trong
cuộc đấu tranh của nhân dân ta trên các mặt chính trị, văn hoá, “chữ quốc ngữ” là một công cụ lợi
hại, và đúng thế, thực là ngoài ý đồ của những người làm ra nó và khuyến khích dùng nó lúc đầu.
Nhưng đối với nhân dân ta, vấn đề lại còn là làm cho nó trở thành một công cụ hoàn hảo hơn, có hiệu
lực hơn. Cho nên, từ trước Cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương, một mặt, triệt để sử
dụng và truyền bá chữ quốc ngữ; mặt khác, chuẩn bị cải tiến nó. Những cách viết như “kách mệnh”
mà đồng chí Hồ Chí Minh đã viết là nhưng gợi ý về một nhiệm vụ chính trị và văn hoá mà nhân dân
ta phải hoàn thành, vì lợi ích lâu dài, lớn lao của đất nước, của những thế hệ mai sau. “Chữ quốc
ngữ” cần được cải tiến là vì thế; đó là nhiệm vụ mà ngày nay, chúng ta phải thực hiện. Công lao của
những người làm ra nó là rất đáng kể, và cũng rất đáng kể, phương pháp của họ. Tuy vậy, từ bấy giờ
tới nay, trải qua một thời gian sử dụng, đặc biệt từ khi được sử dụng rộng rãi, nó đã có phần biến đổi,

nhất quán, thí dụ: nous lisons thì vous lisez, nhưng nous disons thì lại vous diles.
Quả nhiên, đối với việc sử dụng ngôn ngữ, cái nhất quán có phần thuận tiện. Nhưng nên thấy rằng đó
là cái thuận tiện đối với một trình độ phát triển của ý thức. Trẻ con nước Pháp vẫn thường phạm lỗi
“vous disez” vì đã từng nói vous lisez, vous visez. Và trẻ con ta có em đã nói “rửa áo quần” vì quen
nói rửa mặt, và rửa bát. Trong sự chuẩn mực hoá ngôn ngữ xưa nay ở các nước, kể từ thời cổ Hi lạp-
La mã, cũng có quan điểm chỉ thấy, chỉ tìm ra cho cái nhất quán và loại bỏ các không nhất quán. Đó
là quan điểm của phái nhất quán luận. Nhưng từ xưa tới nay, vẫn có một quan điểm khác, quan điểm
thừa nhận, chấp nhận và tôn trọng cái thực tế không nhất quán trong ngôn ngữ, trong bất kì ngôn ngữ
nào. Đó là quan điểm của phái dị biệt luận. Trong ngôn ngữ học hiện đại, cấu trúc luận là rất gần gũi
với nhất quán luận.
Sự thực, cái nhất quán vẫn là cơ bản nhất của ngôn ngữ. Ngôn ngữ không thể nào là một sự hỗn loạn.
Cái hỗn loạn chỉ là cái chi tiết và cái nhất thời ở một giai đoạn nhất định. Và trong nhiều trường hợp,
người ta chứng minh được rằng trong cái nhất quán hiện nay vốn có thể là cái không nhất quán trước
đây, và cái không nhất quán hiện nay sẽ có thể là cái nhất quán trong tương lai. Có thể, rất có thể, là
người Pháp sẽ nói “vous disez”! Và trong tiếng Việt, nếu ta đổi Ý thành Italia; Úc thành Australia…
thì sẽ thấy đổi Pháp thành France; Mĩ thành America cũng được cả và sẽ càng nhất quán. Đó là lẽ
biện chứng của sự phát triển. Trong ngôn ngữ, lại cần thấy rằng cái nhất quán không phải chỉ là cái
bày ra trước mắt ta trên văn bản. Cái nhất quán trong ngôn ngữ hiện ra là thông qua ý thức của con
người. Và có người nhìn mà không thấy, nhưng cũng có người nhìn mà thấy cái nhất quán đó. Nhìn
mà thấy được chính là nhờ có ý thức ngôn ngữ chung, và ý thức về bản ngữ của mình, do học tập mà
thành. Cũng như vậy, cách nhìn của ta đối với xã hội, đối với con người, trong cái đa dạng nhất quán
mà không nhất quán, không nhất quán mà nhất quán, của xã hội, của con người.
Cho nên, trong sự chuẩn mực hoá chính tả và thuật ngữ, tưởng không nên quá ngại rằng viết
Shakespeare viết axit hoặc acid là không nhất quán với cách viết các từ thuộc loại khác trong tiếng
Việt. Sự thực quả có không nhất quán, xét về một mặt nào đó, nhưng cũng có thể cho là nhất quán
trong ý thức biết phân biệt các loại, các lớp từ khác nhau như đã trình bày. Cũng chính nhờ có ý thức
đó, một ý thức được trau giồi, rèn luyện từ lứa tuổi học sinh nhỏ mà cách đọc, phát âm những tên
riêng như Shakespeare, những thuật ngữ như acid, phénol… cũng trở thành không khó, vì cái khó do
cái không nhất quán đó sẽ được phân biệt trên cơ sở đã có ý thức về cái nhất quán. Thực vậy, đọc và
phát âm không phải là “đánh vần” theo cách hiểu đơn giản, mà đó là một hoạt động tổng hợp của trí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status