Nội dung và phơng pháp sử dụng
tranh ảnh và lợc đồ trong Sách
giáo Khoa
lịch Sử
Bài 1
liên xô và các nớc đông âu
từ năm 1945 đến giữa những năm 70 của thế kỷ xx
1. Hình. Vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Liên Xô
-Nội dung
Cùng với việc khôi phục kinh tế (1945-1950), nhân dân Liên Xô lại
bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của chủ
nghĩa xã hội. Trong đó, việc nghiên cứu khoa học nhằm đuổi kịp và v-
ơn lên vợt Mĩ là một mục tiêu quan trọng, nhằm ứng dụng những
thành tựu của khoa học không những để phát triển kinh tế mà còn
trong lĩnh vực quân sự, vì Mĩ năm 1945 đã chế tạo thành công bon
nguyên tử.
Việc xây dựng cơ cở vật chất kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô diễn ra trong điều kiện cực kì khó khăn. Các nớc đế quốc do
Mĩ cầm đầu đã phát động cuộc chiến tranh lạnh nhằm bao vây kinh
tế, cô lập chính trị, tích cực chạy đua vũ trang, chuẩn bị một cuộc
chiến tranh tổng lực nhằm tiêu diệt Liên Xô và các nớc xã hội chủ
nghĩa khác. chính vì vậy, Liên Xô vừa phải chi những khoản tiền lớn
cho xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, cừa phải chi tiền cho củng cố
quốc phòng để bảo vệ tổ quốc, giúp đỡ phong trào cách mạng thế giới,
đồng thời là nớc đi tiên phong trong nhiều lĩnh vực khoa học kĩ
thuật và nghiên cứu vũ trụ.
Nhân dân Liên Xô đã thu đợc những thắng lợi to lớn trong các kế
hoạch 5 năm và 7 năm, đạt đợc những thành tựu về kinh tế, khoa học
kĩ thuât và vũ trụ.
Trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật. Ngày 4-10-1957 Liên Xô đã
phóng thành công vệ tinh nhân tạo lên khoảng không vũ trụ mang
Ga- Ri, Ru- ma- ni, Nam T, Bun- ga- ri và An- ba- ni ) là những nớc
t bản chậm phát triển lệ thuộc về cả kinh tế và chính trị vào các nớc
Anh, Pháp.
Mĩ.Trong chiến tranh thế giới thứ hai, họ bị các nớc đế quốc xâm
lợc, chiếm đóng và phong trào đấu tranh giải phóng do các Đảng cộng
sản lãnh đạo, Riêng nớc Đức là một bộ phận chủ nghĩa t bản phát
triển và phát xít thống trị.
Trong những năm 1944-1945, lợi dụng thời cơ Hồng quân Liên Xô
tiến quân truy quét công đội phát xít Đức qua lãnh thổ Đông Âu,
nhân dân và các lực lợng vũ trang Đông Âu đã nổi dậy phối hợp với
Hồng quân Liên Xô tiêu diệt bọn phát xít, giành chính quyền và
thành lập các nớc dân chủ nhân dân: Cộng hòa nhân dân Ba lan(22-
7-1944), Cộng hoà nhân dân Hung- ga- ri(4-4-1945), Cộng hoà Tiệp
Khắc(9-5-1945), Cộng hoà liên bang nhân dân Nam T(29-11-1945),
Cộng hoà nhân dân An- Ba- ni(11-12-1945) và Cộng hoà nhân dân
Bun- ga- ri(15-9-1946).
Đối với nớc Đức, năm 1949 có hai nớc Đức ra đời. Theo kết quả của
hội nghị Pốt-xđam, các nớc Mĩ, Anh, Pháp sẽ kéo quân vào Tây Đức,
Liên Xô sẽ vào Đông Đức làm nhiệm vụ tiêu diệt tận gốc chế độ phát
xít, làm cho nớc Đức đợc thống nhất, hoà bình, phát triển và dân chủ
thực sự. Tại Đông Đức Liên Xô đã chấp hành nghiêm chỉnh những
nhiệm vụ này. Nhng với âm mu chia cắt lâu dài nớc Đức, phục hồi chủ
nghĩa phát xít và gây thù địch với Liên Xô, tháng 9 -1949 các nớc Mĩ,
Anh, Pháp đã giúp đỡ các thế lực t bản thế lực phản động hợp nhất ba
miền tạm chiếm đóng của ba nớc này lại và thành lập nhà nớc Cộng
hoà liên bang Đức ( Tây Đức). Liền sau đó, thể theo nguyện vọng của
nhân dân Đông Đức, dới sự giúp đỡ của Liên Xô, ngày 7-10-1949, nớc
Cộng hoà dân chủ Đức cũng chính thức đợc thành lập. Thủ đô Béc-lin
cũng bị chia làm hai khu vực là Đông Béc-lin dới sự ảnh hởng của
Liên Xô và Tây Béc-lin dới sự ảnh hởng của Anh, Pháp, Mĩ.
lợng, nguyên liệu để duy trì hoạt động cho các cơ sở công nghiệp. Đầu
năm 1948, có 8,5 triệu binh lính đợc phục viên trở về với cuộc sống lao
động hoà bình. Đây là một nguồn nhân lực quan trọng, góp phần
tham gia vào xây dựng đất nớc sau chiến tranh.
Các nhà máy điện, khu công nghiệp than và luyện kim miền Nam
đợc tập trung xây dựng lại nh nhà máy thủy điện Đơ-nhép, Đu-ép-ca,
Ku-ra-khốp-xcai-a, ở Đôn-bát, Vít-xki ở Muốc-man-xcơ, Khác-kốp,
Ka-ri-vôi Rốc công việc khôi phục vùng Đôn-bát có quy mô lớn. Kỹ
thuật khai thác mới đợc áp dụng đã làm tăng sản lợng than. Năm
1949, khai thác than đã đạt mức trớc chiến tranh.
Kỹ thuật đợc nghiên cứu và ứng dụng để cơ khí hoá sản xuất. Lao
động chân tay trong công nghiệp luyện kim, khai khoáng dần dần
đợc thay thế bằng máy móc. Quy trình sản xuất mới và các hệ thống
tự động đợc lắp đặt ở các nhà máy cơ khí. Năng lợng điện tử đợc sử
dụng rộng rãi. Ngành điện tử bắt đầu phát triển. Công nghiệp quốc
phòng đợc nhà nớc đặc biệt chú trọng. Sau nhiều nghiên cứu và thử
nghiệm, các nhà khoa học Liên xô đã chế tạo thành công bom nguyên
tử vào năm 1949. Kế hoạch phát triển công nghiệp đợc hoàn thành
trong vòng 4 năm 3 tháng.
Về nông nghiệp: Mặc dù những hậu quả mà chiến tranh để lại cho
nông nghiệp rất nghiêm trọng, nhng Đảng và nhà nớc Liên Xô đã kịp
thời đề ra những biện pháp nhằm nhanh chóng khắc phuc hậu quả
chiến tranh và phát triển nông nghiệp.
Công tác quản lý và tăng cờng lực lợng lao động cho nông nghiệp
đợc chú trọng. Hàng ngàn đảng viên tình nguyện về nông thôn tham
gia lao động. Các nông trang đợc giao chỉ tiêu, kế hoạch chi tiết đến
từng sản phẩm.
Cơ sở vật chất và kỹ thuật nông nghiệp đợc mở rộng và tăng cờng
đáng kể. Hơn 900 trạm máy kéo và máy nông nghiệp đợc thành lập.
Tổng số máy kéo tăng 30%; máy liên hợp tăng 405%.
để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà khoa học phát huy khả
năng sáng tạo từ đầu những năm 50 của thế kỷ XX, các nhà khoa học
Liên Xô đã hợp tác với các nhà khoa học từ nhiều nớc để đẩy mạnh
nghiên cứu Bắc cực.
Nền khoa học kỹ thuật Liên Xô thời kỳ này đã đạt đợc những
thành tựu lớn. Các nhà khoa học N.Xê-mi-ô-nốp, I.Tamm, N.Lan-
đao, P.Che-ren-kốp, có nhiều phát minh quan trọng và đợc nhận
giải Nô-ben. Các chuyên gia Xô viết đã chế tạo thành công máy bay
hành khách siêu thanh và đạt một loạt giải thởng của nhà nớc. Các
nhà vật lý học tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ bí mật của nguyên
tử và ứng dụng năng lợng của nó cho mục đích hoà bình. Vào năm
1957, một máy gia tốc nguyên tử mạnh nhất thời đó đã đợc lắp đặt.
Năm sau, nhà máy điện nguyên tử với công suất 100.000 Kw bắt đầu
hoạt động và một nhà máy nguyên tử lớn khác đợc khởi công xây
dựng. Sự ra đời của tàu phá băng nguyên tử Lênin vào năm 1959 là
một thành công lớn trong việc sử dụng năng lợng nguyên tử cho mục
đích hoà bình ngành vật lý lý thuyết, toán học cũng có nhiều thành
tựu gắn với tên tuổi các nhà khoa học nh: N.bô-gô-liu-bốp, M.Lê-ô-
nô-vích, A. Ti-khô-nốp thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học
Liên Xô trong lĩnh vực lợng tử đợc thế giới công nhận. Các khoa học
ứng dụng nh sinh học , sinh hoá, y học cũng đạt đợc những thành tích
lớn, đóng gớp trực tiếp vào việc phát triển kinh tế, cải thiện chất lợng
cuộc sống và nâng cao tuổi thọ của ngời dân.
Kỹ thuật không ngừng phát triển. Các công cụ tự động và bán tự
động, các dụng cụ kiểm soát bằng chơng trình thúc đẩy trực tiếp quá
trình tự động hoá sản xuất. Nganh công nghiệp pôlime bắt đầu phát
triển đã sản xuất ra các loại vật liệu mới.
Nổi bật nhất trong các thành tựu khoa học kỹ thuật của Liên Xô
là những thành tựu thần kỳ trong công cuộc chinh phục vũ trụ. Liên
Xô là nớc đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo lên quỹ đạo của
nói của anh: trời, trái đất mới xanh làm sao! đã đi vào lịch sử.
Từ năm 1973, cứ vào tháng 3 hàng năm, ngời ta lại tổ chức những
cuộc hội thảo, những buổi liên hoan văn nghệ, thi đấu thể thao để kỷ
niệm ngày sinh của Ga-ga-rin. Còn ngay tại ngôi làng anh đã sinh
ra, ngời ta tiến hành nghi lễ uống nớc từ chính cái giếng trong vờn
nhà Ga-ga-rin thủa xa.
(Theo: Truyền hình Việt Nam, số 36+37 năm 2004)
Bài 2 Liên Xô và các nớc đông âu
từ giữa những năm 70 đến đầu những năm 90
của thế kỉ xx
1. Cuộc biểu tình đòi li khai và độc lập ở Lít- va
-Nội dung
Lit- va là một nớc nằm ở đông bắc Châu Âu, ven biển Ban Tích
một vùng đồng bằng thấp với các hồ xen kẽ, có diện tích 65 301km
2
và
dân số 3 620 756 ngời ( số kiệu thống kê năm 2001 ).
Trớc đây ngời Lit va đã có lịc sử của riêng mình, đất nớc đợc
thống nhất vào năm 1250. Năm 1795, họ bị sát nhập vào nớc Nga sa
hoàng. Theo Hiệp ớc không xâm lợc lẫn nhau năm 1939 kí kết giữa
Hít- le và Xta- lin, Lit- va đợc sát nhập vào Liên Xô. Năm 1940, Lít-
va trở thành một nớc cộng hoà của Liên bang Xô Viết.
Năm 1988, cùng với cuộc khủng hoảng và dần dần đi đến tan rã
của Liên Xô thì những ngời theo đờng lối của dân tộc chủ nghĩa Lít-
va tiến hành hoạt động công khai. Tháng 4-1990, cùng với hai nớc
vùng biển Ban Tích là Lat- vi- a và E-xtô-ni-a, Đảng Cộng Sản Lít-
va tuyên bố rút ra khỏi Đảng Cộng Sản Liên Xô và đòi độc lập. Sau
cuộc chính biến thang8-1991 không thành,Liên Xô đã công nhận nền
độc lập của Lít- va.
Bức ảnh trong SGK chụp đoàn ngời tham gia cuộc biểu tình của
liên bangNhà nớc Kiên bang Xô Viết nhà nớc liên minh của nhiều
quốc gia,dân tộc trớc đây đã đứng trên bờ vực của sự sụp đổ hoàn
toàn.
Ngày8-12-1991, các tổng thống ba nớc Nga, U- crai- na, Bê- nô-
rút ra tuyênbố chung: liên bang Xô Viết không còn tồn tại nữa và
quyết định thành lập một hình thức liên minh mới gọi là cộng đồng
các quốc gia độc lập ( viết tắt là SNG ). Ngay sau đó, tám nớc cộng hoà
nữa cũng tuyên bố tham gia SNG.
Ngày 21-11-1991, tại thủ đô An- ma A- ta ( Cadắc- xtan ), 11 nớc
cộng hoà đã kí kết hiệp định giải tán liên bang Xô Viết và chính thức
thành lập cộng đồng các quốc gia độc lập. Danh sách 11 nớc thành
viên của SNG tách khỏi liên bang Xô Viết năm 1991 gồm có:
Liên bang Nga: diên tích 17 057 400 km
2
;dân số 150 triệu ngời; thủ
đô là Mát- xcơ- va.
Cộng hoà U- crai- na: diện tích 603 700 km
2
; dân số 52 triệu ngời;
thủ đô là Ki- ép.
Cộng hoà Bê- lô- rút- xi- a: diện tích 207 600 km
2
;dân số 10,5 triệu
ngời; thủ đô là Min- xcơ.
Cộng hoà U- dơ- bê- ki- xtan: diện tích 447 440 km
2
; dân số 19,5
triệu ngời; thủ đô là Ta- sken.
Cộng hoà Ca- dắc- xtan:diện tích 2 717 300 km
2
giá lạnh ngày 25-12-1991, sau lời tuyên bố từ chức của tổng thống
Liên Xô M.Góoc- ba- chốp, lá cờ đỏ búa liềm trên nóc điện Cren- li đã
hạ xuống, đánh dâusự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa và tan vỡ
của liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết sau gần 70 năm tồn
tại.
Phơng pháp sử dụng
Đây là lợc đồ 11nớc trong cộng đồng các quốc gia độc lập ( SNG )
tuyên bố độc lập, tách ra khỏi liên bang cộng hoà xã hội Xô Viết năm
1991. GV sử dụng lợc đồ nàyđể dạy mục I- Sự khủng hoảng và tan rã
của liên bang Xô Viết.
Trớc khi khai thác kênh hình, GV cho HS quan sát toàn bộ lợc đồ,
giới thiệu với HS các kí hiệu trên lợc đồ (vùng các nứơc SNG, các nớc
cộng hoà Xô Viết của Liên Xô không thuộc SNG). GV có thể gợi mở
bằng một số câu hỏi sau:
- Sau cuộc đảo chính ngày 19-8-1991, tình hình Liên Xô nh thế nào ?
- Vì sao 11 nớc SNG đòi độc lập, tách ra khỏi liên bang Xô Viết ?
- Việc 11 nớc SNG tách ra khỏi liên bang Xô Viết để lại hậu quả
nghiêm trọng nh thế nào ?
Sau khi đặt câu hỏi cho HS trả lời GV tiến hành khai thác nội
dung của kênh hình, kết hợp với trình bầy kiến thức của mục I để các
em hiểu bài. Cuối cùng GV có thể gọi HS lên bảng chỉ trên lợc đồ 11
nớc SNG để các bạn cùng theo dõi.
3. Cuộc đảo chính lật đổ tổng thống Goóc-ba-chốp thất bại
và sự giải thể Liên Xô:
Ngày 18/8/1992, tổng thống Goóc-ba-chốp đang nghỉ ngơi tại một
thị trấn nhỏ xinh đẹp ở miền nam Liên Xô, định ngày hôm sau sẽ trở
về thủ đô Mat-xcơ-va để chủ trì một cuộc họp quan trọng. Chiều hôm
đó, tại biệt thự của tổng thống kéo đến mấy vị khách không mời. Đó là
Brê-kha-nốp, Cục trởng cục bảo vệ, Phun-kin, Chủ nhiệm văn phòng
tổng thống và Va-len-ni-cốp, Tổng t lệnh lục quân. Các vị khách nói
cuối cùng gửi G.Da-na-ép, lệnh cho ông ta thả M.Goóc-ba-chốp.
9 giờ tối ngày 21/8, M. Goóc-ba-chốp đợc trả lại tự do. 2 giờ sáng
ngày 22/8, dới bầu trời u ám, M. Goóc-ba-chốp lên chuyên cơ bay về
Mát-xcơ-va. Đến Mát-xcơ-va, ông ta lao ngay đến đài truyền hình
phát biểu trớc ống kính camera để chấn an d luận, ổn định tình hình
và tuyên bố bắt đầu thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Ngày
23/8, Tổng thống M. Goóc-ba-chốp tuyên bố bãi miễn toàn bộ nội các
Liên Xô.
Ngày 24/8, M. Goóc-ba-chốp tuyên bố thôi giữ chức Tổng bí th Ban
chấp hành trung ơng Đảng cộng sản Liên Xô và yêu cầu Ban chấp
hành trung ơng Đảng cộng sản Liên Xô tự giải tán.
Sau sự kiện 19/8/1991 (cuộc đảo chính lật đổ tổng thống Goóc-ba-
chốp) cha đầy 4 tháng, 12 nớc cộng hoà còn lại, chỉ trừ có Liên bang
nga, đã lần lợt tuyên bố độc lập. Liên bang nga dĩ nhiên không cần
phải làm chuyện đó nữa. Đến cuối năm 1991, Liên bang Xô viết (Liên
Xô) gồm 15 nớc cộng hoà thực tế đã không còn tồn tại.
Ngay 8/12/1991, tại Nin-xcơ (thủ đô của cộng hoà B-nô-rút-xi-a),
các nhà lãnh đạo 3 nớc cộng hoà B-nô-rút-xi-a, úc-rai-na và Liên
bang nga đã tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của liên bang cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) và thành lập cộng đồng các quốc gia
độc lập (SND).
Sự ra đời của cộng đồng các quốc gia độc lập làm cho liên bang
cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) thực tế không còn tồn tại
nữa. Ngày 25/12/1991, M. Goóc-ba-chốp phải tuyên bố từ chức tổng
thống. Lá cờ đỏ búa liềm của Liên Xô bị hạ xuống khỏi ngọn tháp của
điện K-rem-li. Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết đã chấm
dứt sự tồn tại.
(Theo: Đặng Đức An. Những mẩu chuyện lịch sử
thế giới
Nhà xb Giáo Dục, 2004 và SGK lịch sử Nga
quá nhanh và những kế hoạch đó tham vọng tới mức nó đe doạ tới
cuộc sống, miếng cơm manh áo của tất cả mọi ngời dân. Ngời công
nhân phải làm việc cật lực nhng có thể mất việc bất cứ lúc nào, các
ông chủ cũng có thể bị bỏ phiếu bất tín nhiệm mà mất việc, các văn
phòng Bộ, ngành có thể bị đóng cửa bất cứ lúc nào. Để làm đợc cuộc
cải cách đó, ngời dân thờng Xô viết sẽ phải trả những cái giá rất lớn
mà họ không thể nhìn thấy lợi ích nào trớc mắt. Nói đúng hơn, ông
Goóc-ba-chốp cũng không có đủ thời gian để gặt hái đợc những thành
quả từ những cải cách của mình. Bởi vậy mà công cuộc cải tổ của ông
đã nhận đợc sự ủng hộ rộng rãi đã không nhận đợc sự ủng hộ rộng
rãi của ngời dân Liên Xô trong khi bất cứ một cuộc cách mạng nào
cũng cần đến quần chúng.
Xã hội xô viết bớc vào cơn lốc thay đổi, đột nhiên những ngời dân
lâu nay sống dựa vào vòng tay nâng đỡ của nhà nớc đợc nền kinh tế
tụt dốc, hàng triệu ngời Xô viết mất việc làm, trở nên nghèo khổ và
cùng với tự do về chính trị, điều đó báo tớc sự sụp đổ của Liên bang xô
viết. Khi Goóc-ba-chốp còn đơng quyền, tham nhũng vẫn tồn tại nhng
sau khi Goóc-ba-chốp ra đi năm 1991, tham nhũng lại bùng phát với
sức sống mớ. Nghèo là chuyện bình thờng với thời Goóc-ba-chốp nhng
sau khi ông mất chức, nó lên tới mức đói. Dới thời Goóc-ba-chốp, hệ
thống bao cấp đã chói buộc cuộc sống của nhiều ngời dân nhng cùng
với sự nghỉ hu của Goóc-ba-chốp, hàng triệu ngời mất tài sản, mất
mái nhà che thân, phải đi lang bạt và trở lên giận giữ. Mặt khác,
chính sách này lại làm giàu cho một số nhân vật, khiến của cải của n-
ớc Nga đổ hết vào tay một vài chùm tài phiệt.
Hậu quả của chính sách này vẫn còn đến tận ngày nay, khi mà
một cuộc điều tra mới đây về cải tổ cho thấy, 56% ngời Nga cho rằng
cải tổ của ông Goóc-ba-chốp chủ yếu là mang lại kết quả tiêu cực,
trong khi chỉ có 22% ủng hộ. Cũng cuộc điều tra này cho thấy 48% ng-
ời Nga muốn đất nớc tốt hơn là giữ lại hệ thống trớc năm 1985 và 36%
, là châu lục lớn thứ ba trên thế giới,
sau châu á và châu Mĩ, châu Phi có nguồn tài nguyên vô cùng phong
phú và nhiều nông sản quý.
Phần lớn châu Phi có khí hậu nóng, khô, Hoang mạc Xa-ha-ra là
hoang mạc lớn nhất thế giới. Dân c đa phần thuộc chủng tộc Nê-gro-
ít, có nớc da nâu sẫm.Đầu thế kỉ XX. Hầu hết các quốc gia ở châu lục
này vẫn là thuộc địa của các nớc đế quốc. Cho đến giữa thế kỉ XX,
cuộc chiến tranh vì độc lập dân tộc của các nớc châu Phi mới giành đ-
ợc thắng lợi.
Sau khi thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, các nớc
châu Phi bắt tay ngày vào công cuộc xây dựng đất nớc, phát triển
kinh tế xã hội. Đây là cuộc đấu tranh cực kì gian khổ và lâu dài vì
các nớc này có nền tảng kinh tế và cơ sở xã hội lạc hậu hơn nhiều so
với các nơi khác trên thế giới.Hơn nữa, các nớc này đợc thành lập
trong khuôn khổ thuộc địa cũ, trớc đây vốn đợc phân chia theo sức
mạnh và sự thoả hiệp giữa các nớc đế quốc chứ không có đờng biên
giới tự nhiên và phân bố dân c theo sắc tộc. Vì thế, tình trạng xung
đột sắc tộc là khó tránh khỏi.
Sau một thời gian nỗ lực ổn định chính trị và phát triển kinh tế,
các nớc châu Phi đã đạt đợc những thành tựu đáng kể.Tuy nhiên,
những thành tựu ban đầu cha đủ dể thay đổi một cách căn bản tình
trạng kinh tế nghèo nàn, lạc hậu và lệ thuộc nặng nề của các nớc ở
châu Phi.Sự bùng nổ của dân số, sự phát triển của khoa học- kỹ thuật
thế giới cũng gây nên sự bất lợi cho châu Phi, giá nguyên liệu, nhiên
liệu và nhân công rẻ. Châu Phi đã nghèo lại càng nghèo thêm. Sự sụp
đổ của Liên Xô và Đông Âu càng làm cho nhiều nớc châu Phi khủng
hoảng cả về chính trị lẫn kinh tế.
Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, châu Phi
trở thành lục địa của sự hỗn loạn. Riêng năm 1993 đã xảy ra 13 cuộc
chiến tranh làm hàng vạn ngời thiệt mạng, hàng triệu ngời phải rời
địa này. Tuy nhiên, tình hình châu Phi vẫn cha có những cải thiện
cản bản.
(Theo:Nguyễn Anh Thái (Chủ biên),
Lịch sử quan hệ quốc tế và phong trào giải phóng dân
tộc
á-Phi-Mĩ La Tinh, NXB Giáo Dục, 1998, tr.85-86)
2. Chế độ A-pác-thai ở Nam phi.
Chủ nghĩa A-pác-thai là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc cực đoan
và tàn bạo, đợc thực hiện tại Nam Phí. Từ A-pác-thai (Apartheid) là
ghép hai từ tiếng Hà Lan nói ở Châu Phi: Apart là tách biệt, và heid
là chủng tộc. Những ngời theo chủ nghĩa A-pác-thai lập luận rằng
ngời da trắng và ngời da đen không thể bình đẳng đợc, phải sống tách
biệt nhau và chỉ có sự tách biệt theo màu da thì mới có thể đảm bảo
đợc sự phát triển của chúng tộc và quốc gia.
Đạo luật đầu tiên về chủ nghĩa A-pác-thai đợc ban hành ở Nam
Phi vào năm 1913 và tăng cờng mạnh mẽ từ năm 1948, khi chính
quyền này vẫn lấy chủ nghĩa A-pác-thai làm quốc sách của họ. Ngời
da trắng (Chủ yếu là ngời Hà Lan, Anh) chỉ chiếm 1/5 dân số, nhng họ
nắm trong tay 87% đất đai trồng trọt, 75% tổng số thu nhập và toàn
bộ hầm mỏ, xí nghiệp, ngân hàng, giao thông vận tải Chính quyền
da trắng ở Nam Phi còn gọi là chính quyền Prê-tô-ri-a Prê-tô-ri-a
là thủ đô của nớc cộng hoà Nam Phi) ban hành hơn 70 đạo luật phân
biệt chủng tộc nh Luật cách li chủng tộc, Luật trị an công cộng,
Luật giao thông, Luật giấy thông hànhtheo đó, những ngời da
đen và da màu (70% dân c là ngời da đen, 9% là ngời lai, còn lại là ng-
ời ấn Độ và các Kiều dân khác phải sống trong những khu riêng biệt,
chữa bệnh ở những bệnh viện riêng, đi học ở những trờng học riêng và
đặc biệt họ bị xét xử theo những luật pháp riêng. Trong lao động, ngời
da đen và da màu phải làm những công việc nặng nhọc, bẩn thỉu.
Trong khi đó lơng của họ chỉ bằng 1/10 lơng của công nhângời dân da
tộc ở châu Phi đã chải qua các giai đoạn sau:
- Từ năm 1945 1954, phong trào giải phóng dân tộc bùng nổ sớm
nhất ở Bắc Phi với thắng lợi mở đầu là cuộc chính biến cách mạng của
binh lính, sĩ quan ai cập (tháng 7/1952), lật đổ nền thống trị thực dan
Anh và vơng triệu Pha-rúc, thành lập nớc cộng hoà Ai Cập.
- Từ năm 1954 1960, phong trào giải phóng dân tộc phát triển
mạnh mẽ ở Bắc Phi, Tây Phi, Châu Phi Xích đạo. nhiều nớc Bắc phi
và Tây phi đã gình đợc độc lập.
- Từ năm 1960-1975, phong trào giải phóng dân tộc ngày càng
dâng cao.
Năm 1960, đợc gọi là năm Châu Phi, vì trong năm này 17 quốc
gia châu Phi đã giành đợc độc lập, trong đó có 8 quốc gia cùng giành
đợc độc lập trong tháng 8, đó là:
- Đa-hô-mây (Bê-nanh) giành độc lập ngày 1/8 với dân số 1,7 triệu
ngời, diện tích 112622km
2
.
- Cộng hoà Ni-giê giành độc lập ngày 3/8, với dân số 2,5 triệu
ngừơi, diện tích 1267000km
2
.
- Cộng hoà Thợng Vôn-ta (Buóoc ki-na Pha-xô) giành độc lập
ngày 5/8 với 3,3 triệu ngời, diện tích 247200km
2
.
- Bờ biển Ngà (Cốt-đi-voa) giành độc lập ngày 7/8 với 2,5 triệu ng-
ời, diện tích 322464km
2
.
- Cộng hoà Trung Phi giành độc lập ngày 13/8 với 1,1 triệu ngời,
nguồn lợi dầu mỏ và sáp nhập các lực lợng vũ trang. Sau thời kì quá
độ kéo dài 6 năm, ngời dân Su-đăng ở khu vực miền Nam có thể tiến
hành trng cầu dân ý về việc thành lập một nhà nớc độc lập.
Theo nhiều nhà phân tích, bản hiệp định hoà bình kết quả của
hai năm đàm phán giữa Chính phủ và lực lợng nổi dậy, rất có thể sẽ
mở ra lộ trình cho toàn bộ cuộc xung đột ở Su - đăng và bắt đầu một
giai đoạn mới trong quan hệ giữa đất nớc này với các nớc láng giềng
châu Phi, châu Âu và cả Mĩ, Lại một lần nữa, ngời ta thấy sự dàn xếp
của Mĩ. Một mặt, chính quyền Bu-sơ ủng hộ lực lợng nổi dậy ở miền
Nảmtong một thời gian dài và không ngừng gây sức ép lên Chính phủ
Su - đăng trong quá trình đàm phán. Mặt khác, Mĩ kêu gọi Chính
phủ Su - đăng và quân nổi dậy SPLM phối hợp chấm dứt cuộc khủng
hoảng Đác-phu và Mĩ sẽ nâng cấp quan hệ với Su-đăng một cách tích
cực khi nào việc này đợc thực hiện.
Về phần mình, là nớc đã từng phản đối việc Mĩ đe doạ áp đặt lệnh
trừng phạt với Su-đăng, Nga tập trung ca ngợi cố gắng của cộng đồng
quốc tế đặc biệtlà Liên hợp quốc, Liên minh châu Phi trong việc giải
quyết cuộc xung đột tại Su-đăng. Nga cũng sẵn sàng giúp đỡ Su-đăng
giữ gìn sự thống nhất và xây dựng kinh tế. Tổng th kí Liên hợp quốc
Cô-phi An-nan, ngời vừa kết thúc chuyến thâmccs nạn nhân sóng
thần trong 2 ngày tại Sri Lan-ka, cũng bày tỏ sự phấn khởi trớc nền
hoà bình đang mở ra ở Su-đăng sau khi hiệp định đợc kí kết.
Rõ ràng, cả thế giới đang hồi hộp theo dõi diễn biến tình hình tại
Su-đăng với hị vọng ngời dân tại đây có thể đạt đợc một nền hoà bình
thực sự. Tuy nhiên, trớc mắt họ còn vô vàn khó khăn. Cuộc xung đột
tại Su-đăng, vốn chỉ mang tính chất sắc tộc- tôn giáo giữa hai miền
Nam Bắc, tởng nh đã đợc giải quyết bỗng chốc bùng phát dữ dội
trong những năm1970 vì lí do phát hiện đợc mỏ dầu có sản lợng
khoảng 2 tỉ thùng.Liệu rằng một kịch bản tơng tự có thể tái diễn hiệp
định hoà bình quy định lợi nhuận từ dầu lửa sẽ đợc chia đều theo tỉ lệ
tháng t đó, đảng Dân tộc mới, di sản của chủ nghĩa A-pác-thai chính
thức giải tán và Ban lãnh đạo của đảng này đã gia nhập đảng ANC.
Tình bạn NamPhi Việt Nam ngày càng phát triển tốt đẹp kể từ
khi Việt Nam mở văn phòng Đại sứ quán tại Thủ đô Prê-tô-ri-a, nay
là Tơ-soa-nê. Hai chính phủ đã kĩ kết những văn bản quan trọng tạo
khuôn khổ cho việc tăng cờng quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh
vực.Kim ngạch thơng mại hai chiều đã tăng từ 19,2 triệu USD năm
1999 lên hơn 150 triệu USD năm 2004.
Nam Phi đang trong giai đoạn cuối cùng của quá trình đoạn tuyệt
với những di sản của chủ nghĩa thuộc địa và phân biệt chủng tộc. Trớc
khi những ngời định c da trắng buộc những ngời châu Phi bản xứ phải
từ bò mảnh đất nàu, tên của thủ đô là Tơ-soa-nê, một cái tên mang ý
nghĩa châu phi thực sự. Sau đó, đợc đổi là Prê-tô-ri-a. Thú vụ ửo chỗ
tên Tơ-soa-nê nghĩa là chúng ta giống nhau hay chúng ta là một vì
chúng ta cùng chung sống.
Sau gần 300 năm tồn tại dới chế độ thuộc địa và phân biệt chủng
tộc, chúng tôi muốn phục hồi bản sắc văn hoá và di sản của mình
bằng cách lấy lại những gì đã bị mang đi. Tuy nhiên chúng tôi vẫn
tôn trọng những quy định của Hiến chơng tự do là Nam Phi thuộc về
tất cả những ngời sống ở đó, bất kể là da trắng hay da màu
(Theo: Báo Quốc tế, tháng 4-2005)
6. Mĩ La-tinh - Lục địa bùng cháy
Mĩ La-tinh bao gồm hơn 20 nớc ở Bắc, Trung và Nam châu Mỹ, từ
Mê-hi-cô đến ác-hen-ti-na, chịu ảnh hởng sâu sắc của văn hoá La-
tinh, có diện tích trên 20 triệu km
2
. Mĩ La-tinh có nhiều tài nguyên,
phong phú về nông sản, lâm sản, khoáng sản.
Năm 1492, Cô-lông-bô tìm ra châu Mỹ và cho đến năm 1500, thực
dân Tây ban nha đã xâm chiếm hầu hết vùng đất này. Trải qua nhiều
Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Mỹ ở Mĩ La-tinh mang
một số đặc điểm sau:
- Sự thức tỉnh của giai cấp công nhân và nông dân dẫn đến sự
bùng nổ mạnh mẽ của các cuộ đấu tranh. So với châu Phi, giai cấp
công nhân Mĩ La-tinh phát triển hơn về số lợng và chất lơng. Tỉ lệ
giai cấp công nhân chiếm 12,2% dân c. Nhìn chung, các Đảng cộng
sản đã đi đầu và lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
- Nông dân chiếm hơn 70% dân số, nhng trên 2/3 nông hộ không có
ruộng đất. Chính vì vậy, yêu cầu xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất
lớn từ lâu đã trở thành yêu cầu cấp bách của nông dân.
- Chế độ thống trị tàn khốc đã buộc nhân dân ở các nớc này phải
sử dụng đấu tranh vũ trang để giành độc lập.
- Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới, mặt trận
dân tộc thống nhất đợc hình thành và phát triển ở hầu hết các nớc. ở
một số nớc, mặt trận đã giành đợc thắng lợi trong các cuộc tổng tuyển
cử, dẫn đến việc thành lập các chính phủ mặt trận nhân dân nh Goa-
tê-ma-ma, ác-hen-ti-na
- Từ sau thắng lợi của cách mạng Cu-ba, nhiều nớc Mĩ La-tinh đã
ủng hộ mạnh mẽ, kiên quyết những thành quả của cách mạng Cu-ba.
Đây là một trong những nhân tố quan trọng giúp Cu-ba đứng vững
trong cuộc bao vây, tấn công của Mĩ.
(Theo:Nguyễn Anh Thái (chủ biên),
Lịch sử Quan hệ quốc tế và phong trào giải phóng dân
tộc
á - Phi Mĩ la tinh, Nxb GD, H.199, tr.93-95)
Bài 4 các nớc châu á
1.Hình. Chủ tịch Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nớc
cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
Nội dung
Mao Trạch Đông (1893- 1976), quê ở Hồ Nam, xuất thân trong một
Đây là bức ảnh chụp chủ tịch Mao Trạch Đông đọc tuyên bố thành
lập nớc CHND Trung Hoângy 1-10-1949. Vì vậy, GV sử dụng bức ảnh
này để dạy mục II, ý 1- s ra đời của nớc cộng hoà nhân dân Trung
Hoa, GV cũng có thể sử dụng bức ảnh này để dạy cả ý 2- mời năm đầu
xây dựng chế độ mới (1949-1959).
Khi dạy đến nội dung này, GV cho HS quan sát bức ảnh, đặt một
số câu hỏi cho các em suy nghĩ và tập trung trả lời:
- Bức ảnh trong SGK chụp Mao Trạch Đông dang làm gì
- Sự kiện này diễn ra vào thời điểm nào ?
- Mao Trạch Đông có vai trò và ảnh hởng nh thế nào đối với lịch
sử phát triển của đất nớc Trung Hoa?
Cuối cùng GV tiến hàng khai thác nội dung bức ảnh nh đã giới
thiệu ở trên và đặt câu hỏi để HS nhận xét về vai trò của Mao Trạch
Đông đối với cách mạng Trung Hoa.