Bàithi sáng mãi phẩm chất bộ đội cụ Hồ - Pdf 17

Câu 1: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiên thân của Quân đội
nhân dân Việt Nam thanh lập ngày, tháng, năm nào? ở đâu? Ai làm Đội tr-
ởng và chính trị đầu tiên? T tởng chỉ đạo của Bác Hồ khi thành lập đội Việt
Nam Tuyên truyền giải phóng quân là gì? Hãy nêu 2 trận đánh đầu tiên của
đội sau khi thành lập?
Trả lời:
Đội Tuyên truyền Giải phóng quân là đội quân chủ lực đầu tiên và một
trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đội đợc thành lập ngày
22 tháng 12 năm 1944 tại khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hng Đạo và Hoàng
Hoa Thám ( nay thuộc tỉnh Cao Bằng ). Quân số ban đầu gồm 34 ngời (có 3 nữ ),
chia thành 3 tiểu đội, trong đó Võ Nguyên Giáp chỉ huy chung; Hoàng Sam đợc
chọnh làm đội trởng; Xích Thắng, tức Dơng Mạc Thạch, làm chính trị viên,
Hoàng Văn Thái phụ trách tình báo và kế hoạch tác chiến; Lâm Cẳm Nh, tức
Lâm Kính, phụ trách công tac chinh trị; Lộc Văn Lùng tức Văn Tiên làm quản lí.
Vũ khí ban đầu có 2 súng thập (một loại súng ngắn ), 17 súng trờng, 14 súng kíp.
Sau khi thành lập đội đã đánh thắng 2 trận đầu tiên ở Phai Khắt và Nà Ngần
(Cao Bằng). Sau 2 trận này, quân số tăng lên thành đại đội, Hoàng Sam làm đại
đội trởng, còn Xích Thắng làm chính trị viên.
Đội đã tạo ra một khu vực có cơ sở cỏch mng lớn ở Hoà An, Nguyên Bình (Cao
Bằng), Ngân Sơn, Chợ Rã (Bắc Cạn)
Sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, Việt Nam Tuyên
truyên Giải phóng quân chia thành nhiều mũi, có mũi thọc xuống phía nam đánh
ciếm Ngân Sơn, Chợ Rã, Phủ Thông, Chợ Đồn, Na Rì (Bắc Cạn), Chiêm Hoá
(Tuyên Quang), có mũi tiến công Thất Khê, Bình Gia (Lạng Sơn), lại có mũi ng-
ợc lên biên giới Việt Trung hạ một loạt đồn trại ở Trung Khánh đến Bảo Lạc
rồi phát triển sang Hà Giang. Cuối tháng 3, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân đã gặp Cứu quốc quân ở Chợ Chu (Thái Nguyên ).
Ngày 15 tháng 5 năm 1945, tại Chợ Chu, Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân hợp nhất với Cứu quốc quânvà một số đơn vị du kích thành lực lợng
quân sự thống nhất, lấy tên là Việt Nam Giải phóng quân
Ngày thành lập Việt Nam tuyên truyên Giải phóng quân, ngày 22 tháng 12, sau

12 năm 1946 tới 1 tháng 8 năm 1954 giữa Quân đội viễn chinh Pháp và lực
lượng Việt Minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cùng các nhóm kháng chiến
khác của Lào và Cam-pu-chia.
Cuộc chiến diễn ra trên khắp Việt Nam và lan ra cả nước láng giềng Lào
và Cam-pu-chia, nhưng chiến sự chính diễn ra chủ yếu tại miền Bắc Việt Nam.
Pháp tham gia cuộc chiến này vì ý muốn tiếp tục giữ Đông Dương là thuộc địa,
sau khi ngườc Nhậtđã bại trận và mất quyền kiểm soát Đông Dương. Đây là lý
do chính trị và tâm lí hơn là kinh tế. Những người Pháp ủng hộ cuộc chiến cho
rằng nếu Pháp để mất Đông Dương, sở hữu của Pháp hải ngoại sẽ nhanh chóng
sẽ bị mất theo. Đa số lãnh đạo Pháp cho rằng so với cuộc xâm chiếm xâm thuộc
địa cổ điển với việc chiếm giữ các trung tâm dân số và mở rộng theo kiểu”vế
dầu loang” mà người pháp đã thực hiện rất nhanh ở Maroc và Algeria, cuộc
chiến này sẽ chỉ có quy mô hơn một chút. Tuy nhiên,mặc dù Pháp chiếm ưu thế
quân sự trong thời gian đầu lực lượng viềt minh dẫ phát triển ngày càng mạnh
và kiểm soát được nhiều vùng lãnh thổ ngày càng rộng. Mục tiêu của Việt minh
và các nhóm kháng chiến khác là giành độc lập cho các dân tộc của mình.
Sau đại chiến thế giới lần thứ 2, trên lãnh thổư của đế quốc Pháp đã bùng nổ
nhiều phong trào đòi độc lập, nhưng gây thiệt hại lớn nhất cho Pháp là chiến
tranh Đông Dương.Và trận đánh có ý nghĩa lịch sử là trận Điện Biên Phủ. Trận
điện Biên Phủ là trận đánh lớn nhất trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
diễn ra tại lòng chảo Mường Thanh, châu Điện Biên( nay là thành phố Điện
Biên Phủ), tỉnh Lai Châu( hiện nay đã tách thành tỉnh Điện Biên) ,Giữa quân đội
Pháp và quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong
cuộc kháng chiến chống Pháp 1945 của Việt Nam 1954.
Trên phương diện quốc tế, trận này có ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội
của một nước thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một
cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì thuộc địa
Đông Dương, các khu vực thuộc địa ở châu Phi của Pháp và buộc nước này phải
rút khỏi Đông Dương. Đến năm 1967 Pháp buộc phải trao trả quyền độc lập cho
các nước là thuộc địa của Pháp.

quân sự cuối cùng của quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam.
Chiến dịch bắt đầu từ ngày 04-01 và kết thúc ngày30-04-1975. Ngoài trận
Phước Long được coi là trận đánh trinh sát chiến lược, cuộc tổng tiến công này
gồm ba chiến dịch liên tiếp nhau: Chiến dịch Tây Nguyên (từ 4-3 đến 24- 3-
1975); Chiến dịch giải phóng Huế -Đà Nẵng( từ 21-3 đến 29-3); Cuối cùng là
Chiến dịch Hồ Chí Minh(từ 26-4 đến 30-4). Ngoài ra còn có những chiến dịch
nhỏ hơn diễn ra trên địa bàn chiíen lược như Long Khánh- Xuân Lộc, Trường sa
và các đảo trên biển Đông, các trận đánh trên các tuyến phòng thủ từ xa của
QLVNCH như Tây Ninh-An Lộc-Dầu Tiến, Phan Rang-Ninh Thuận. Những
chiến lược này được thực hiện sau khi Hoa Ki rút hẳn khỏi cuộc chiến, cán cân
lực lượng đã nghiêng hẳn sang phía Mạt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam
Việt Nam và quân đội nhân dân Việt Nam.
Kết quả thắng lợi quân sự của quân đội nhân dân Việt Nam trong chiến dịch
này đã dẫn đến sự kiện 30-4-1975 kết thúc chiến tranh Việt Nam.
Với ý nghĩa đại thắng mùa xuân năm1975- dấu son lịch sử, chúng ta thấy rõ
hơn những thành tựu đạt được, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. Với tìa
chí của quân ,dân và sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhất
định dân tộc ta, đất nước ta sẽ lập nên những kì tích vĩ đại trong thời kì đẩy
mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước.
Câu 3: “ Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo ,táo bạo hơn nữa” là mệnh lệnh
của Quân uỷ trung ương và Bộ tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ đạo
chiến dịch nào trong cuộc kháng chién chống Mĩ cứu nước? Hãy cho biết ý
nghĩa thắng lợi của chiến dịch lịch sử đó?
Trả lời :
“ Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo ,táo bạo hơn nữa” là mệnh lệnh của
Quân uỷ trung ương và Bộ tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ đạo chiến
dịch Hồ Chi Minh lịch sử có tên là chiến dịch giải phóng Sài Gòn- Gia Định là
chiến dịch cuối cùng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc tổng tấn công
và nổi dậy mùa xuân năm 1975 và cũng là chiến dịch cuối cùng của cuộc chiến
tranh Việt Nam. Đây cũng là chiến dịch quân sự có thời gian diễn biến ngắn

cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” diễn ra ở đâu? Ngày, tháng, năm nào?
Với đơn vị bộ đội nào?
Trả lời:
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn luôn tâm niệm cội
nguồn dân tộc. Người thường nhắc nhở toà đảng toàn dân ta phải phát huy
truyền thống con cháu Lạc Hồng, giữ gìn giang sơn gấm vóc, phấn đấu đưa
nước ta sánh ngang với các cường quốc năm châu ! Ngày 18-2-1946 hơn 5 tháng
sau ngáy đọc “Tuyên ngôn độc lạp” Hồ Chủ Tịch kí sắc lệnh số 22 CNV/CC do
công chức nhà nước được nghỉ ngày Giỗ tổ Hùng Vương mồng 10-3 âm lịch
hằng năm để tưởng nhớ tổ tiên. Ngày 18-9-1954, trước Đền Hạ thuộc Đền
Hùng, Phú Thọ, Bác Hồ đã nói chuyện với cácn bbọ, chiến sĩ đại đoàn quân
Tiên phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ Đô. Bác căn dặn: “Các vua Hùng đã có
công dựng nước, Bác cháu ta phải cung nhau giữ lấy nước”! Lời Bác dạy không
chỉ đối với Quân đội, mà còn đối với toàn Đảng, toàn dân. Ngày nay, càng suy
ngẫm lời dạy của Bác, chúng ta càng thấm thía tâm huyết của Người đối với đất
nước và dân tộc, cáng thấy tầm nhìn xa trông rộng của vị lãnh tụ thiên tài !
Bác Hồ khẳng định và tôn vinh “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”. “ Công
dựng nước của Vua Hùng thật là to lớn ! Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta
luôn luôn phải đấu tranh chống giặc ngoại xâm vô cùng hung hãn. Trong qua
trình dựng nước và giữ nước đầy gian khổ, hy sinh, dân tộc ta đã tạo nên một
truyền thống đoàn kết, anh dũng, kiên cường, thông minh, sáng tạo, và có tinh
thần độc lập, tự chủ. Vì thế dân ta đã làm nên biết bao chiến công oai hùng,
dựng nên đất nước, khẳng định chủ quyền và bồi đắp bản sắc dân tộc.
Các Vua Hùng là những người đầu tiên viết nên những trang sử vẻ vang ấy, và
truyền nối cho muôn đời con cháu đến hôm nay và cả mai sau. Vậy nên, tưởng
nhớ và biết ơn các Vua Hùng là đạo lí “Uống nước nhớ nguồn’’ của mỗi người
dân Việt Nam ta, thể hiẹn niềm tự hào và tự tôn dân tộc một cách chính đáng,
đồng thời để tăng thêm sức mạnhcho chúng ta, phấn đấu đưa đất nước tiến tới
văn minh và giàu mạnh.
Mỗi tấc đất này đều phải đổi bằng núi xương, sông máu và mồ hôi của các thế

Trả lời:
Theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự hiên hành, độ tuổi phải thực hiện
nghĩa vụ Quân sự đối với nam giới là từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi.
Tời gian phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ được rút ngắn từ 2 năm còn18
tháng. Riêng hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kĩ thuật do
quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân thời gian phục vụ tị ngũ
rút ngắn từ 3 năm còn 2 năm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status