Năng lực tư duy sáng
tạo trong thế kỷ 21
Trước tiên, ta hãy nói về năng lực tư duy trong triết học. Triết học chỉ có
thể ra đời khi năng lực tư duy trừu tượng của con người đạt đến trình độ
phát triển nhất định cho phép khái quát những hiểu biết riêng lẻ, rời rạc
thành một hệ thống những quan điểm và quan niệm chung về thế giới.
Do đó, nói đến lịch sử triết học không thể không đề cập tới vấn đề năng
lực tư duy của con người, vốn là điều kiện ra đời của triết học, song do
tác động trở lại, triết học cũng là khoa học về những quy luật chung nhất
của tư duy.
Vào thời cổ đại, Aristotle là người đầu tiên biến tư duy thành đối tượng
nghiên cứu của triết học. Ông cho rằng tư duy cũng có những nguyên tắc
tồn tại độc lập và con người chứng minh phải theo đúng quy tắc ấy. Bởi
vậy, ông đã xây dựng phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch,
đã tìm ta nguyên lý của sự chứng minh tam đoạn luận và phân loại 10
phạm trù nhằm mở rộng cả hình thức và nội dung của tư duy.
Đến thế kỷ 17, Décertes cũng đã có câu nói nổi tiếng về tầm quan trọng
của năng lực tư duy đối với sự tồn tại của con người trong vũ trụ: “Tôi
tư duy, vậy tôi tồn tại”. Nguyên lý cơ bản đó của ông mang ý nghĩa tiến
bộ trong lịch sử, bởi nó khẳng định được rằng mọi khoa học chân chính
đều phải xuất phát từ “sự nghi ngờ, nghi ngờ ở đây không phải là hoài
nghi chủ nghĩa, “mà là sự nghi ngờ về phương pháp luận, nghi ngờ để
đạt đến sự tin tưởng”, có nghĩa là tư duy.
Và đại biểu xuất sức của nền triết học cổ điển Đức thế kỷ 18, Heghen
cũng cho rằng, quá trình nhận thức thế giới là quá trình con người xây
dựng nên những khái niệm, tức là con người đã tư duy
Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi nhận thức của con người đã đạt
đến một trình độ cao hơn, thì năng lực tư duy không còn giữ nguyên
viên ở Nhật lại khác hẳn. Sinh viên chỉ sáng tạo sau khi tư duy đã chín
muồi. Nói cách khác, sinh viên Nhật phải tích lũy một khối lượng kiến
thức cần thiết trước khi có thể có những sáng tạo một cáhc đúng nghĩa.
Tuy nhiên, trên thực tế, khi bước vào quá trình sáng tạo theo kiểu ngẫu
hứng như sinh viên Mỹ, năng lực tư duy sáng tạo của họ rất bị hạn chế
và họ buộc phải tuân theo những điều thuộc về nguyên tắc và vốn là
truyền thống của đất nước mặt trời mọc.
Còn sinh viên Việt Nam thì sao? Không thể phủ nhận đây là tầng lớp
nòng cốt trong những chiến lược phát triển của xã hội chúng ta. Đó là
những thanh niên thông minh, can đảm, dám đương đầu với mọi thử
thách của cuộc sống, và đặc biệt là có năng lực tư duy sáng tạo không
thua kém bạn bè trên thế giới. Nhưng điều đáng quý là năng lực tư duy
sáng tạo của sinh viên Việt Nam luôn được thể hiện ở những đóng góp
về tri thức và sức lực vì sự độc lập của Tổ quốc hay sự phồn vinh của
đất nước.
Vào thời chiến, khi đất nước bị đế quốc phương Tây đô hộ, thì sinh viên
đã đóng góp công lớn vào sứ mệnh lịch sử giành lại độc lập cho đất
nước, có những sáng tạo đáng kể nhằm thúc đẩy nhanh quá trình kháng
chiến thắng lợi. Một cách trực tiếp, sinh viên đã tìm ra những cải tiến vũ
khí, hay có những nghiên cứu về việc ngắm bắn máy bay địch và việc
vận chuyển lương thực, đạn dược đến căn cứ cách mạng đúng hẹn và an
toàn. Hay một cách gián tiếp, các sinh viên đã đem lời ca tiếng hát làm
dịu đi các chiến trường nóng bỏng đạn bom trong phong trào “tiếng hát
át tiếng bom”. Những đóng góp ấy của sinh viên trên mọi mặt của đời
sống kháng chiến chính là kết quả của năng lực tư duy sáng tạo được thể
hiện rất phù hợp.
Vào thời bình, khi đất nước đang ngày một phát triển về mọi mặt kinh
tế- văn hoá – xã hội, sinh viên cũng luôn là tầng lớp có năng lực tư duy
quan đến hoạt động bán cầu não phải, nó có thể tạo nên hình ảnh, quan
niệm và trực giác. Viết chữ có liên quan đến bán cầu trái phụ trách tri
thức, chữ số logic. Theo dòng tư tưởng cứ để cho ngọn bút vẽ vung lên,
sẽ ra cái vấn đề anh suy nghĩ, từ nhiều góc độ miêu tả nó, sau đó não sẽ
điều khiển biến thành một bức tranh sinh động. Dần dần sau khi tạo
thành thói quen dùng thị giác và tri giác xử lý vấn đề, bạn sẽ ngạc nhiên
phát hiện ra rằng linh cảm sáng tạo cũng dễ thôi.
4. Thay đổi hoàn cảnh mới: Việc thay đổi hoàn cảnh mới có quan hệ
mật thiết với sức sáng tạo. Do vậy, thỉnh thoảng bạn nên đi bách bộ
trong công viên hoặc trên bãi biển để kích thích sức sáng tạo. Cuối tuần
lễ về sống vài ngày ở nông thôn cũng làm nảy sinh những ý tưởng mới
mẻ.
5. Suy nghĩ nhiều phương án: Những nhà quản lý giàu sức sáng tạo
luôn nói: “Phương pháp này hay đấy, nhưng thử nghĩ xem còn có
phương pháp nào tốt hơn nữa không”.
Muốn tìm được nhiều cách giải quyết thì phải dựa vào sự suy nghĩ, hễ
gặp vấn đề gì khó, cần phải ghi ngay lại và viết ra những sự việc liên
quan và cách giải quyết mà mình nghĩ ra được, sau đó tìm hỏi những
người mà mình cho là có thể góp cho những ý kiến hay.
6. Đặt mình vào lĩnh vực mới: Bằng mọi cách đặt mình vào lĩnh vực
mới hoặc bắt mình phải từ bỏ hoạt động cũ kỹ chây lười thì có thể bật ra
sức sáng tạo. Hoạt động tốt nhất là rèn luyện, đánh thức bán cầu não
bình thường ít khi sử dụng đến. Như vậy mới nảy sinh ra những sáng
kiến thần kỳ.
7. Thường xuyên tự hỏi mình: như vậy, bạn có thể khẳng định hay sửa
chữa, hoặc hoàn toàn vứt bỏ nếp nghĩ cũ. Bất kể sử dụng phương pháp