nang luc tu duy sang tao - Pdf 17

MỤC LỤC
Nội dung Trang
A. Đặt vấn đề 3
B. Nội dung nghiên cứu 5
I. CÁC NĂNG LỰC TƯ DUY SÁNG TẠO 5
1. Khái niệm 5
2. Các trường phái tư duy sáng tạo trên thế giới 5
3. Những rào cản của sự sáng tạo 5
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRÍ TUỆ VÀ NĂNG LỰC TƯ DUY 6
1 Lý thuyết đa trí tuệ 6
2 Tổng quan về 8 năng lực tư duy 8
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC NĂNG LỰC TƯ DUY
SÁNG TẠO NỔI TRỘI 11
1 Năng lực tư duy sáng tạo qua Logic Toán học 11
2 Năng lực tư duy qua ngôn ngữ 13
3 Năng lực tư duy qua Giao tiếp 14
4 Năng lực tư duy qua nội tâm 16
5 Năng lực tư duy qua nhạc điệu 19
6 Năng lực tư duy qua tự nhiên. 21
7 Năng lực tư duy qua không gian. 23
8 Năng lực tư duy qua vận động 24
IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP SÁNG TẠO CƠ BẢN 25
1 Phương pháp tư duy dịch chuyển 25
2 Phương pháp lựa chọn đối tượng tiêu điểm 31
3. Các phương pháp thông dụng 33
4. Các công cụ tư duy 36
D. KẾT LUẬN 40

Trang 1
Tài liệu tham khảo 42
Trang 2

các lời giải từ một phần đến toàn bộ cho các vấn đề nan giải. Các vấn đề
này không chỉ giới hạn trong các ngành nghiên cứu về khoa học kỹ thuật
mà nó có thể thuộc lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội, nghệ thuật
hoặc trong các phát minh, sáng chế. Một danh từ khác được giáo sư
Edward De Bono (1933 -) sử dụng để chỉ ngành nghiên cứu này và được
dùng rất phổ biến là Tư duy định hướng.
Ở các trường trung học của các nước phát triển, một số phương pháp
quan trọng như tập kích não, giản đồ ý cũng đã được áp dụng cho học sinh
biết cách áp dụng dưới dạng thô sơ; đồng thời cũng đã có nhiều cơ sở giáo
dục tư thục giảng dạy các chuyên đề về phương pháp tư duy sáng tạo cho
học viên mọi lứa tuổi.
Việc nghiên cứu có hệ thống và trình bày lại một cách đầy đủ cho
từng phương pháp thì mãi đến đầu thế kỷ thứ 20 mới xuất hiện. Đặc biệt là
sau việc chính thức phát minh ra phương pháp Tập kích não vào năm 1941
của Alex Osborn thì các phương pháp tư duy sáng tạo mới thực sự được
các nhà nghiên cứu nhất là các nhà tâm lý học chú ý tới. Kể từ đó, rất nhiều
phương pháp tư duy sáng tạo đã ra đời.
Hiện nay, một số khuynh hướng chung là tìm ra các phương pháp để
sử dụng kết hợp khả năng tư duy của các cá nhân vào trong một đề tài lớn
cùng với sự hỗ trợ của ngành tin học.
Trong tương lai, khi mà thành tựu của việc liên lạc trực tiếp các tín
hiệu của các con chip điện tử với não người được hoàn thiện hơn thì chắc
chắn nó sẽ tạo ra một cuộc cách mạng mới về các phương pháp tư duy sáng
tạo. Lúc đó, việc khó khăn là làm sao cho bộ não của từng cá nhân điều
khiển và tận dụng được mọi khả năng của các hệ thống máy tính, cũng như
làm sao quản lý việc nối các hoạt động tư duy cá nhân thành một mạng tư
duy khổng lồ với thời gian truy cập thông tin là thời gian thực.
Trang 4
Với những nội dung đã nêu trên cũng chính là lí do để tôi chọn vấn
đề “” làm vấn đề nghiên cứu.

tạo của mình. Willis Harman, trong một cuốn sách của mình đã từng viết
“Tiền năng sáng tạo của con người là vô hạn, chỉ có chúng ta bằng những
suy nghĩ của mình làm cho chúng bị thui chột mà thôi”. Lâu nay chúng ta
thường tự bó hẹp mình trong tư duy 9 điểm. Chúng ta thường nghĩ rằng
mình không có khả năng sáng tạo hay sáng tạo là một việc rất vĩ đại và việc
đó không phải của mình.
Sức ỳ tâm lý chính là kẻ thù số một của tư duy sáng tạo. Tâm lý sợ
sai của người Việt và đôi khi chính những kinh nghiệm sách vở mà chúng
ta được học trong nhà trường lại trở thành kẻ thù của tư duy sáng tạo, tư
duy đổi mới. Có một nghịch lý mà chúng ta thấy rất rõ là, trong khi các nhà
khoa học, các viện nghiên cứu hàng năm được nhà nước đầu tư hàng ngàn
tỷ đồng nhưng lại rất ít những công trình khoa học mang lại giá trị cho xã
hội. Trong khi đó những bác nông dân như Hai Lúa, Lũy Thần đèn mặc dù
không được học hành nhiều nhưng vẫn tạo ra những sản phẩm, phát minh
thực sự hữu dụng phục vụ cho cuộc sống và sản xuất. Vậy đâu là sự khác
biệt? Sáng tạo phải xuất phát từ nhu cầu thực sự của thực tế. Mọi sáng tạo
chỉ dựa trên những kinh nghiệm sách vở lại trở thành rào cản và sự vô
dụng.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRÍ TUỆ VÀ NĂNG LỰC TƯ DUY
1 Lý thuyết đa trí tuệ
Nếu câu hỏi chúng ta thông minh cỡ nào được đặt ra thì nhiều khả
năng câu trả lời của nhiều người trong tình huống này chỉ căn cứ vào các
bài kiểm tra và điểm số trong các trường học. Nhưng tất cả điều đó chỉ
chứng minh phần nào khả năng học tập của chúng ta tại trường còn trong
Trang 6
cuộc sống chúng ta có thể thành công hay không vẫn là một dấu hỏi.
Những khái niệm về trí thông minh, về chỉ số thông minh IQ đã ảnh hưởng
không nhỏ đến tư duy và nhận thức của nhiều hế hệ người Việt. Nhận thức
đó đã phần nào làm thui chột nhiều tài năng trong các lĩnh vực khác. Và
thực tế thế giới đã chứng minh hàng năm vẫn có 30% số người có chỉ số

3 NLTD qua không gian, thị giác
4 NLTD qua ngôn ngữ cơ thể
5 NLTD qua hiện sinh – Tâm linh
Ai cũng có đầy đủ các năng lực tư duy. Song điều quan trọng là mỗi
người phải xác định được nhóm năng lực của mình sau đó khai quật tiềm
năng và đánh thức người khổng lồ trong chính chúng ta. Những NLTD này
sẽ thay đổi khi môi trường học thay đổi. Chúng có thể mất đi hay được
nâng cấp.
2 Tổng quan về 8 năng lực tư duy
NLTD qua lôgic: hay còn gọi là NLTD qua toán học, nó sử dụng
những phân tích trình tự để rút ra 1 kết luận nào đó. Nhà khoa học, kế toán,
hay nhà kinh tế tập trung vào NL này.
NLTD qua ngôn ngữ: là trí thông minh mang tính chất phổ quát nhất
trong 8 năng lực tư duy được đề cập. Trí thông minh ngôn ngữ là kĩ năng
sử dụng từ ngữ. Nhà văn hay những nhà giới thiệu chương trình chuyên
nghiệp nhấn mạnh vào những NL này. Điểm mấu chốt làm căn cứ cao nhất
để đánh giá về loại trí thông minh này là các bài kiểm tra về chỉ số IQ của
chúng ta. Những bài kiểm tra này đều được xây dựng dựa trên những thành
phần có tính chất thiên về ngôn ngữ và từ vựng. Trí thông minh về ngôn
ngữ bao gồm nhiều thành phần như âm tiết, cú pháp, ngữ nghĩa và tính ứng
dụng của nó. Những cá nhân có khả năng tư duy qua ngôn ngữ tốt thường
có khá năng nhạy cảm sắc bén với âm thanh hoặc âm tiết của từ ngữ,
thường vận dụng sự chơi chữ, sự dụng giai điệu, cách uốn lưỡi, dùng điệp
Trang 8
âm, cấu tạo từ tượng thanh và những âm thanh đan xen khác nhau để trêu
đùa, nghịch ngợm. Một ví dụ điển hình là James Joyce, ông đã sáng tạo ra
hàng ngàn trò chơi chữ với những thứ tiếng khác nhau.
Những người giỏi về tư duy qua ngôn ngữ cũng thường tinh thông và
thành thạo các kỹ năng vận dụng cấu trúc hoặc cú pháp của các câu và cụm
từ. Những thiên tài về ngôn ngữ có thể cho chúng ta thấy sự nhạy cảm ngôn

DUY SÁNG TẠO NỔI TRỘI
1 Năng lực tư duy sáng tạo qua Logic Toán học
Như chúng ta đã nói, học tập là một quá trình đa nhiệm. Không
những thế, nó còn rất đa dạng, thể hiện ở những phương pháp học khác
nhau. Người học cần và thường thích những cách khác nhau để khám phá 1
vấn đề nào đó. Khi chỉ có 1 phương pháp học học sinh sẽ bị gò bó trong
một giới hạn nào đó và sẽ rất khó khăn để tiếp thu kiến thức. Biết cách tiếp
nhận thông tin, sắp xếp và liên kết chúng rồi sử dụng những NLTD sẽ giúp
người học tạo ra 1 mạng lưới kiến thức chặt chẽ. Thông tin sẽ được lưu trữ
1 cách hiệu quả hơn ở những phần khác nhau của bộ não và kết quả là ta sẽ
gợi lại thông tin dễ dàng hơn và áp dụng chúng 1 cách có trình tự.
Điều quan trọng bây giờ là làm sao để sử dụng được NLTD này.
Trước hết ta cần đánh số và sắp xếp những kiến thức đã học. Việc này đòi
hỏi chúng ta phải xem xét rất cẩn thận những gì đang học. Sẽ rất khó để sắp
xếp chúng mà không so sánh những điểm giống và khác. Và cũng sẽ rất
khó để so sánh mà không xem xét ý nghĩa thực sự của những thông tin mà
mình vừa thu nhận.
Tiếp theo là phải phân tích cụ thể những gì đang học. Không bao giờ
chấp nhận những thông tin ở giá trị bề ngoài. Khi chúng ta sử dụng 1 hệ
Trang 10
thống phân tích hợp lí chúng ta sẽ nâng cao được NLTD qua lôgíc của
mình.
Sau đây là hệ thống A.E.I.O.U._những câu hỏi mà chúng ta cần luôn
đặt ra cho mình khi tiếp cận 1 vấn đề.
A(Assumption): Việc ngầm định này được tạo nên như thế nào?
Đây có phải là ý kiến duy nhất không? Còn có cái gì chưa được đề
cập đến không? Những trường hợp cá biệt đã được nói đến để có cái nhìn
tổng thể chưa?
E(Evidence): Bằng chứng cho vấn đề này là gì?
Thông tin mình nhận được có phù hợp với lập luận và các nhận định

10 Thăm các bảo tàng về khoa học và tìm hiểu các phát minh khoa học
loài người mà chúng ta có thể.
11 Xem các phim tài liệu, các sách báo khoa học.
12 Đánh dấu các khái niệm khoa học mà chúng ta không quen thuộc
hoặc không hiểu nó rõ ràng.
13 Tự chúng ta ghi lại những lời nói kể lại chuyện làm cách nào để
chúng ta giải được một bài toán khó.
14 Thường xuyên làm các bài trắc nghiệm mới về IQ.
15 Hãy sự dụng cái đầu và bộ óc của chúng ta trong việc học về các
khái niệm toán học mới.
16 Hãy dạy toán học hoặc các khái niệm khoa học khác cho chúng ta bè
hoặc người khác để chúng ta hiểu sâu sắc hơn về những khái niệm này.
Trang 12
2 Năng lực tư duy qua ngôn ngữ
Cách sử dụng NL này rất đơn giản, chúng ta hãy viết lại những thông
tin mà chúng ta có được theo ý mình. Có 1 điều mà chúng ta dễ dàng nhận
ra là rất khó để đọc những thứ mà người khác viết. Khi những kiến thức
chúng ta cần tiếp thu được viết bởi chữ của người khác chúng ta sẽ gặp khó
khăn trong việc hiểu được chúng. Khi chúng ta chuyển những kiến thức
chúng ta nghe hay đọc thành ngôn ngữ của riêng chúng ta, chúng ta buộc
phải hiểu nó. (EXPLAIN)
Những cách để chúng ta phát triển trí thông minh qua ngôn ngữ
1 Hãy động não từ những thứ mà chúng ta đã học, những cái mà chúng
ta nhớ được, viết lại chúng và nếu có thể, hãy ghi âm.
2 Đọc lướt qua những trang sách mà chúng ta đã học và thêm vào
những ý nghĩ chợt đến. Nhớ là hãy viết theo cách của riêng chúng ta.
3 Trong lúc đọc, dừng lại khi đọc xong 1 phần chính, suy nghĩ và ghi
vào đầu những ý chính bằng ngôn ngữ của chính chúng ta.
4 Hãy ghi chép bằng cách riêng của chúng ta, kèm theo những câu hỏi
phát sinh từ những vấn đề đó.

ta vừa dạy.
Việc dạy học đòi hỏi chúng ta phải thu thập thông tin, sắp xếp ý nghĩ
theo 1 trình tự có tính lôgíc và sử dụng ngôn ngữ của chính mình để diễn
đạt ý nghĩ đó.
Trang 14
Một lợi ích nữa của việc dạy lại này là sự giao thoa. Khi chúng ta
chia sẻ thông tin với 1 người khác, họ có thể có những thông tin chúng ta
cần để lấp chỗ hổng. Phần này có thể có trong bài của chúng ta hoặc có thể
không. Đó chính là phần thưởng dành cho chúng ta.
Một cách khác nữa để sử dụng NL này là việc so sánh những ghi
chép. Hành động đơn giản của việc so sánh những ghi chép với 1 người
chúng ta sau giờ học hay với sách là 1 cách để việc cùng dạy nhau diễn ra.
Chúng ta của chúng ta có thể nhớ những cái mà chúng ta không nhớ và
ngược lại. Lí do của việc này rất đơn giản, vì cách tiếp nhận thông tin, tổ
chức và tạo mạng lưới kiến thức của họ khác với của chúng ta.
Ứng dụng của việc sử dụng NLTD này là tổ chức học theo vòng
tròn. Hãy chọn 1 nhóm học sinh với những môn chuyên khác nhau, có thể
là toán, khoa học, lịch sử, sư phạm, quản lí, tầm 5 đến 7 người là đủ.
Chọn thời gian cụ thể trong tuần để tổ chức họp nhóm. Mỗi tuần sẽ
có 1 chủ đề khác nhau để thảo luận. Ta sẽ có những ý kiến từ những quan
điểm khác nhau nhưng hãy để chúng tự phát triển. Khi có ai đó thách thức
niềm tin của chúng ta, đừng quá bảo thủ nhưng cũng đừng thờ ơ hay vội vã
chấp nhận ý kiến của họ. áp dụng cách học này, chúng ta không chỉ học
được cách mới để tiếp cận thông tin mà còn cả cách lắng nghe và tìm hiểu
vấn đề. 1 khi chúng ta đã rút ra được kết luận sau mỗi nghiên cứu thì các
thông tin sẽ được tiếp nhận vào bộ nhớ 1 cách có hiệu quả hơn.
Các phương pháp phát triển trí thông minh giao tiếp.
1 Mua một cuốn sổ nhò và ghi lại vào đó những cá nhân và đối tượng
mà chúng ta thường xuyên giao tiếp với họ.
2 Mỗi ngày chúng ta thực hiện tiếp xúc mọt người mới.

Một khi ta tìm ra sự hứng thú của mình thì niềm đam mê thực sự sẽ
đến. Lúc đó ta sẽ tìm thêm được những sự khác biệt, những mối liên kết bất
ngờ, tạo nên sự hấp dẫn cho vấn đề đó.
Ngoài ra chúng ta cũng phải tìm hiểu những thông tin cơ bản về vấn
đề mình đang nghiên cứu. Nếu đề tài đó là hội hoạ thì người nghệ sĩ đã
định hình gì trong đầu khi sáng tác nên tác phẩm? Anh ta đã có những gì
đổi mới so với những người tiền nhiệm? Có kĩ năng mới nào được sử dụng
không?
Một điều quan trọng nữa mà chúng ta cũng phải chú ý, đó là phải
dành thời gian để xem xét lại vấn đề. Hãy từ từ nhìn lại vấn đề đó. Thông
tin này có phù hợp với những thứ chúng ta đã biết hay không? Lợi ích của
chúng trong tương lai là gì? Thông tin mà chúng ta có được càng xác thực
bao nhiêu thì cơ hội để chúng ta tiếp nhận lượng thông tin đó 1 cách có
hiệu quả càng lớn bấy nhiêu.
Các phương pháp phát triển năng lực tư duy qua nội tâm
1 Nhờ các chuyên gia tư vần giúp tư vân the cá nhân hoạc vật lý trị
liệu.
2 Tìm hiểu kỹ về yếu tố bản ngã trong Triết học phương Đông và
phương Tây.
3 Học cách thiền định.
4 Nghe đài và băng đĩa có các nội dung liên quan.
5 Viết tự truyện hoặc nhật ký cá nhân hàng ngày cảu mình.
6 Thường xuyên ghi lại và làm sáng tỏ giấc mơ của mình.
7 Đọc những sách báo về chủ đề tự lực cá nhân.
8 Tạo một không gian yên tĩnh trong nhà dành cho việc kiểm nghiệm
nội tâm.
Trang 17
9 Bắt đầu công việc kinh doanh của mình.
10 Phát triển các mối quan tâm và sở thích khác với những người xung
quanh.

Âm nhạc kích thích trung khu tình cảm của bộ não vì thế mà nghe
nhạc trong lúc đang học được coi là một công cụ đắc lực. Khi tự học ta có
thể nghe nhạc theo 2 cách: 1 cách thụ động-tiếp nhận và 1 cách chủ động-
sáng tạo. Ta chỉ nên nghe nhạc không lời vì lời bài hát sẽ cản trở việc học
của chúng ta. Dựa vào việc ta định làm gì với vấn đề đó mà thay đổi nhạc
điệu. Những loại nhạc ồn ào, ầm ĩ không phù hợp với việc học vì các
nghiên cứu đã chỉ ra rằng sau khi nghe những loại nhạc naỳ thì kết quả học
tập của học sinh bị giảm sút.
Nhạc chủ động-sáng tạo được sử dụng khi ta làm những công việc
mang tính sáng tạo. Nên sử dụng những loại nhạc có tiết tấu nhanh, thúc
giụcvới nhiều nhạc cụ chơi cùng lúc, nó sẽ kích thích cả bộ não.
Nhạc thụ động-tiếp nhận nên được nghe khi chúng ta muốn thư giãn
trước khi học hay khi đang ôn bài. Sử dụng những loại nhạc khoảng 60
nhịp 1 phút của 1 dòng nhạc cụ (ví dụ như đàn dây). Loại nhạc này được sử
dụng khi thu thập thông tin.
Nếu thấy âm nhạc làm phiền chúng ta khi học, tắt nó đi hoặc vặn nhỏ
xuống. Nhạc được tạo ra để kích thích, nếu nó làm phiền chúng ta thì hãy
điều chỉnh hoặc tắt đi. TV và đài rất ảnh hưởng đến quá trình thu nhận
thông tin.
Loại nhạc rất quan trọng. Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối
liên hệ trực tiếp giữa âm nhạc và sinh lí của cơ thể. Âm nhạc có thể thay
Trang 19
đổi tâm trạng của chúng ta và nó sẽ giúp cho quá trình học của chúng ta
bằng cách gợi nên những tình cảm tích cực.
Các phương pháp phát triển tư duy qua âm nhạc
1 Hát ca khi chúng ta đang làm việc hoặc đi trên đường.
2 Đến tham dự các buổi hòa nhạc hay các buổi biểu diễn âm nhạc.
3 Tích cực sưu tầm những bản nhạc chúng ta thích và cố gằng nghe
chúng hàng ngày.
4 Tham gia vào các đội văn nghệ của lớp, cơ quan.

Để phát triển NLTD này, chúng ta có thể áp dụng nhiều phương
pháp như: thu thập thông tin về những hiện tượng tự nhiên, tham gia các
chương trình du lịch sinh thái, chăm sóc vật nuôi, thăm sở thú hay vườn
thực vật, thăm bảo tàng tìm hiểu nguồn gốc tự nhiên, tập phân loại thông
tin. Những người có NLTD này phù hợp với các ngành địa lý, địa chất,
chiêm tinh, đại dương học, khí tượng học và những hiện tượng tự nhiên
khác.
Các phương pháp khác phát triển thông minh tự nhiên.
1 Tìm hiểu thế giới tự nhiên trong chính mảnh vườn nhà chúng ta.
2 Đề nghĩ những người xung quanh chia sẻ về những điều họ biết về
thế giới tư nhiên xung quanh.
3 Điều tra, tìm hiểu những trang Web trên mạng với chủ đề về thiên
nhiên.
4 Xem các chương trình ti vi, các bộ phim về khám phá thế giới tự
nhiên.
Trang 21
5 Than gia các hoạt động chính trị xã hội liên quan đến hoạt động bảo
vệ môi trường tự nhiên, bảo vệ trái đất.
6 Đi tham các khu sinh thái, các bảo tàng về tự nhiên học.
7 Tập sở thích làm vườn hoặc làm đẹp phong cảnh.
8 Đặt mua dài hạn các tạp chí liên quan đến tự nhiên.
9 Đọc tiểu sử hoặc tự truyện của các nhà tự nhiên học.
10 Đi cám trại, du lịch và dành thời gian quan sát thiên nhiên mỗi ngày.
11 Liệt kê các loài động vật và thực vật mà chúng ta biết.
1 Viết cuốn nhật ký về chủ đề tự nhiên học của chúng ta trong đó bao
gồm những điều chúng ta quan sát được, các kết quả mà chúng ta rút ra
được từ những sự quan sát đó của chúng ta.
7 Năng lực tư duy qua không gian.
Con người chúng ta tiếp nhận thông tin phần lớn là qua mắt(75%),
do đó NL này rât dễ phát triển. Song không vì thế mà chúng ta lơ là việc sử

sân khấu, truyền hình.
11 Học các ngoại ngữ có nhiều hình tượng như tiếng Trung, Nhật, Hàn.
12 Học cách sử dụng biều đồ và sơ đồ tư duy trong công việc va học tập
hàng ngày của mình.
8 Năng lực tư duy qua vận động
Sử dụng năng lực ngôn ngữ cơ thể cũng là 1 cách để học hiệu quả.
Việc liên quan 1 cách vật lý vào quá trình học cho phép chúng ta đưa lý
thuyết trở thành thực tiễn, dễ nhớ hơn.
Trang 23
Việc nhập vai giúp ta khám phá 1 bước tiến hay kĩ thuật mới trong 1
môi trường an toàn và trong tầm kiểm soát. Đóng những vai khác nhau sẽ
cho chúng ta cái nhìn từ những quan điểm và cách nghĩ khác nhau. Ví dụ
như khi muốn biết tầm quan trọng của việc hoà nhập với mọi người của
những người tàn tật, ta cần thử ngồi xe lăn hay bịt mắt đi từ lớp này sang
lớp khác.
Diễn tả bằng hành động những từ hay cụm từ khi học 1 ngoại ngữ là
1 phương pháp hiệu quả vì chúng ta ghi nhớ thứ ngôn ngữ đó vào bộ nhớ 1
cách át tự nhiên.
Các cách phát triển.
1 Tham gia những nhóm cùng làm việc hoặc các đội thể thao của lớp,
trường và cơ quan làm việc.
2 Tập luyện các môn thể thao như bơi, chạy bộ, bóng đá, bóng bàn,
cầu lông.
3 Học các môn võ đối kháng như Akido, Judo hoặc Karatedo.
4 Tập luyện thường xuyên và giữ lấy những ý tưởng nẩy sinh trong
quá trình tập luyện.
5 Học và thực hành những nghề thủ công đòi hỏi sự khóe léo đôi tay
như đan thêu, mộc và điêu khắc
6 Học Yoga để rèn luyện sức khỏe và giúp cơ thể mềm dẻo.
7 Học các lớp khiêu vũ rèn luyện sự khéo léo của cơ thể.

qúa trình hình thành sản phẩm mới.
Trang 25

Trích đoạn Các công cụ tư duy
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status