ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TẠ ĐỨC TRỌNG
Thái Nguyên - 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnLỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong
một công trình nào khác.
Thái nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả Tạ Đức Trọng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnLỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Tô Văn Bình, người
đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, Ban
chủ nhiệm Khoa Vật lý trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên; Ban
giám hiệu trường THPT chuyên Thái Nguyên, đã tạo điều kiện cho tôi trong
suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
1.1.1. Khái niệm về tư duy sáng tạo 4
1.1.2. Đặc điểm và các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo 6
1.1.3. Những phẩm chất của người nghĩ sáng tạo 7
1.1.4. Điều kiện của tư duy sáng tạo 7
1.2. Mối liên hệ giữa tư duy sáng tạo với các phẩm chất trí tuệ khác 10
1.2.1. Mối liên hệ giữa tính tự giác, tích cực, tính tự lực và tư duy
sáng tạo 10
1.2.2. Mối liên hệ giữa tri thức và tư duy sáng tạo 12
1.2.3 Mối quan hệ giữa năng lực giải quyết vấn đề và tư duy sáng
tạo 12
1.2.4. Mối quan hệ giữa tự học và tư duy sáng tạo 13
1.3. Năng lực sáng tạo của học sinh 14
1.3.1. Năng lực sáng tạo 14
1.3.2. Những quan niệm về năng lực sáng tạo ở học sinh 15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1.6.4. Luyện tập giải các bài toán sáng tạo 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36
Chương 2. THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN
THỨC CHƯƠNG “CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT LÝ 10
NÂNG CAO THEO HƯỚNG PHÁT HUY NĂNG LỰC TƯ DUY
SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRƯỜNG CHUYÊN 37
2.1. Nội dung kiến thức và kĩ năng cần hình thành trong chương “Các
định luật bảo toàn” – Sách giáo khoa Vật lý 10 nâng cao 37
2.2. Tìm hiểu thực tế dạy học chương “Các định luật bảo toàn”- Sách
giáo khoa Vật lý 10 nâng cao ở trường phổ thông 42
2.2.1. Mục đích điều tra 42
2.2.2. Phương pháp điều tra 42
2.2.3. Kết quả điều tra 42
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vniii
2.3 Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Các định luật
bảo toàn” nhằm phát huy năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh
trường chuyên 44
3.5. Kết quả và xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 92
3.5.1. Yêu cầu chung về xử lý kết quả TNSP 92
3.5.2. Kết quả TNSP 93
3.6. Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 103
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 105
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 110Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnivDANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1.
BTLT Bài tập luyện tập
2.
SGK Sách giáo khoa
13.
SGV Sách giáo viên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vnv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Phân phối nội dung kiến thức chương “Các định luật bảo toàn” 39
Bảng 3.2. Hứng thú và mức độ tích cực của học sinh sau khi thực nghiệm sư phạm 93
Bảng 3.3. Kết quả kiểm tra lần 1 94
Bảng 3.4. Xếp loại bài kiểm tra số 1 95
Bảng 3.5: Phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra số 1 96
Bảng 3.6. Kết quả kiểm tra lần 2 97
Bảng 3.7: Xếp loại bài kiểm tra số 2 98
Bảng 3.8: Phân phối tần suất kết quả bài kiểm tra số 2 99
Bảng 3.9. Kết quả kiểm tra lần 3 100
Biểu đồ 3.1. Xếp loại bài kiểm tra số 1 95
Đồ thị 3.1: Đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 1 96
Biểu đồ 3.2: Xếp loại bài kiểm tra số 2 98
Đồ thị 3.2. Đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 2 99
Biểu đồ 3.3 Xếp loại bài kiểm tra số 3 101
Đồ thị 3.3. Đường phân phối tần suất bài kiểm tra số 3 102
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, do sự phát triển nhanh của khoa học kĩ thuật và sự bùng nổ thông
tin, kho tàng tri thức của nhân loại ngày càng phong phú và đồ sộ dẫn đến mâu
thuẫn giữa thời gian dạy học trong nhà trường và lượng kiến thức cần trang bị cho
học sinh ngày càng gay gắt. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước ngày càng cao, ngành giáo dục
phải đổi mới toàn diện từ nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học cho đến
phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Điều này được cụ thể hoá trong các
Nghị quyết Trung ương: Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII đã khẳng định phải
“khuyến khích tự học, áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho
học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”. Nghị quyết Trung
ương 2 khoá VIII tiếp tục khẳng định “phải khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn
tôi chọn đề tài “Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tư duy
sáng tạo cho học sinh trường chuyên khi dạy chương “Các định luật bảo toàn” Vật
lý 10 nâng cao”
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng cơ sở lí luận dạy học để tổ chức hoạt động dạy học cho một số bài
học trong chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 nâng cao theo hướng phát huy
năng lực tư duy sáng tạo cho học sinh trường chuyên.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học chương “Các định luật bảo toàn”
Vật lý 10 nâng cao.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên tổ chức hoạt động dạy học phù hợp với tiến trình nhận thức
Vật lý, vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề và chú ý rèn luyện phương pháp
tự học cho HS thì sẽ phát huy năng lực tư duy sáng tạo của học sinh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về dạy và học.
- Nghiên cứu lí luận về năng lực tư duy sáng tạo của học sinh.
- Đề xuất các biện pháp tổ chức dạy học theo hướng phát huy năng lực tư
duy sáng tạo.
- Nghiên cứu chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 nâng cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn3
- Điều tra thực trạng về việc rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo của học sinh
trường chuyên.
- Tổ chức hoạt động dạy học chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10
nâng cao theo hướng phát huy năng lực tư duy sáng tạo.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT nhằm xác định mức độ
những quan điểm và quan niệm chung về thế giới. Do đó nói đến lịch sử triết học
không thể không đề cập tới năng lực tư duy của con người, vốn là điều kiện ra đời
của triết học, song do tác động trở lại, triết học cũng là khoa học về những quy luật
chung nhất của tư duy.
Vào thời cổ đại, Arisotle là người đầu tiên biến tư duy thành đối tượng
nghiên cứu của triết học. Ông cho rằng tư duy cũng có những nguyên tắc tồn tại độc
lập và con người chứng minh phải theo đúng quy tắc ấy. Bởi vậy, ông đã xây dựng
phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch, đã tìm ra nguyên lý của sự chứng
minh tam đoạn luận và phân loại 10 phạm trù nhằm mở rộng cả hình thức và nội
dung của tư duy.
Đến thế kỷ 17, Desesceertes cũng đã có câu nói nổi tiếng về tầm quan trọng
của năng lực tư duy đối với sự tồn tại của con người trong vũ trụ: “Tôi tư duy, vậy
tôi tồn tại”. Nguyên lý cơ bản đó của ông mang ý nghĩa tiến bộ trong lịch sử, bởi nó
khẳng định rằng mọi khoa học chân chính đều phải xuất phát từ “sự nghi ngờ”, nghi
ngờ ở đây không phải là hoài nghi chủ nghĩa mà là “sự nghi ngờ về phương pháp
luận, nghi ngờ để đạt tới sự tin tưởng”, có nghĩa là tư duy.[3]
Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, khi nhận thức của con người đã đạt tới
trình độ cao hơn, thì năng lực tư duy không còn giữ nguyên nghĩa mà đã trở thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn5
năng lực tư duy sáng tạo. Bởi lẽ con người ta không chỉ tư duy để có khái niệm về
thế giới mà còn sáng tạo nhằm thay đổi thế giới làm cho thế giới ngày càng tốt đẹp
hơn. Cũng chính vì thế mà người ta thường đòi hỏi nền giác dục phải trang bị cho
học sinh năng lực tư duy sáng tạo như là một phẩm chất quan trọng của con người
hiện đại, đặc biệt là từ khi thế giới đã bắt đầu chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức
và xã hội tri thức ở nước ta, yêu cầu đó cũng đã được nhiều nhà giáo dục đề nghị
đưa vào như là một nội dung quan trọng của một triết lý giáo dục cho nước ta trong
năng nào để khơi dậy khả năng tư duy sáng tạo và các tiềm năng khổng lồ ẩn chứa
trong mỗi con người. Tùy theo đặc tính của đối tượng làm việc và môi trường tại
chỗ mà mỗi cá nhân hay tập thể có thể tìm thấy các phương pháp riêng thích hợp.
Không phức tạp trong thực nghiệm: Thực nghiệm của hầu hết các phương
pháp tư duy sáng tạo hiện nay rất đơn giản. Đa số các phương pháp đã được ghi sẵn
ra từng bước như là những thuật toán.
Hiệu quả cao: Các phương pháp tư duy sáng tạo, nếu sử dụng đúng chỗ đúng
lúc đều mang lại lợi ích rất cao, nhiều giải pháp được đưa ra chỉ nhờ vào phương
pháp tập kích não. Các phương pháp khác cũng đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà phát
minh, nhất là trong lĩnh vực kỹ thuật hay công nghệ.
Giảm thiểu được áp lực quá tải của lượng thông tin: bằng các phương án tư
duy có định hướng thì một hệ quả tất yếu là người nghiên cứu sẽ chọn lựa một cách
tối ưu những dữ liệu cần thiết, do đó tránh các cảm giác bối rối, mơ hồ, hay lạc lõng
trong rừng rậm của thông tin. [3]
1.1.2.2. Các đặc trưng cơ bản của tư duy sáng tạo
Theo Guiford và Loowenfield (hai nhà nghiên cứu Mĩ có công trình độc lập:
một người có nghiên cứu về tính sáng tạo khoa học, người kia về tính sáng tạo nghệ
thuật) đã thống nhất về tiêu chí của tính sáng tạo (1958): Có tính nhạy cảm về thế
giới, tính linh hoạt và năng động tư duy, có cá tính, năng khiếu biến đổi sự vật, tư duy
phân tích và tổng hợp, năng lực tổ chức.
1. Trong rất nhiều trường hợp quá trình sáng tạo đòi hỏi phải có sự tự lực
chuyển các tri thức và kĩ năng sang một tình huống mới, sự liên hệ giữa tri thức cũ
và tình huống mới càng xa nhau bao nhiêu thì độ sáng tạo càng cao.
2. Nhìn thấy vấn đề mới trong những điều kiện quen biết đúng quy cách.
3. Nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn7
1. Ngày nay, khoa sinh lí học về lao động trí óc đã nói đến “quy luật quán
tính của tư duy”, nghĩa là khi nhà khoa học đang quan tâm theo đuổi một ý nghĩ nào
đó thì “luồng tư tưởng” có xu hướng tiếp diễn trong thời gian và không gian và đó
là quy luật của sự sáng tạo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn8
2. Hemhôn, một nhà vật lý, nói về quá trình sáng tạo của ông như sau:
“Theo như tôi nhớ rõ, thì những ý nghĩ hay không bao giờ đến trên bàn viết
khi óc đã mệt”[3]. Ông còn khẳng định sự thật sau đây: Bao giờ cũng cần phải
nghiên cứu trước một cách toàn diện vấn đề tới một mức độ để giữ lại được trong óc
mình những góc sắc cạnh, những khía cạnh phức tạp, có thể trở lại với chúng một
cách tự do, thoải mái mà không cần ghi chép. Thường nếu không có sự nghiên cứu
trước một cách lâu dài, bền bỉ thì sẽ không thể đưa vấn đề đến tình trạng đó được.
Sau đó, khi sự mệt mỏi do quá trình lao động đó qua đi, khi ta có một trạng thái hoàn
toàn trong sạch về thể chất, nhẹ nhõm về tinh thần, thì lúc đó những ý tưởng hay sẽ
đến. Thường chúng đến vào các buổi sáng khi chúng ta vừa tỉnh dậy, giống như điều
mà Goethe đã nói trong các bài thơ của ông, và đúng như đã có lần Gauss cũng nói,
các ý nghĩ hay “ưa" xuất hiện trong thời gian đi dạo nhẹ nhàng trong thời tiết có ánh
mặt trời, chỉ cần một ly rượu nhỏ là có thể làm mất hết những ý nghĩ trong đó.
3. Muốn tư duy sáng tạo trước hết cần nắm được những quy luật khách quan
của sự vật và đối tượng nghiên cứu.
Như vậy cái gốc của vấn đề chính là những quy luật khách quan liên quan
đến sự vật. Lênin đã từng nhấn mạnh: “Biện chứng của sự vật tạo lập biện chứng
của ý tưởng chứ không phải ngược lại”.
Lời khuyến cáo của Ơirstic là: “Hãy suy nghĩ theo những quy luật khách
quan về sự phát triển, chắc chắn bạn sẽ có những sáng kiến, cải tiến, cao hơn những
sáng chế, phát minh”.
6. Biết làm việc một cách khoa học: Nhà tổ chức khoa học lao động trí óc
Vedenxki nói: “Ta bị mệt mỏi không chỉ do làm việc nhiều, mà còn do làm việc
tồi”. Ông đề nghị các nhà khoa học áp dụng 5 điểm sau đây:
- Bắt tay vào làm việc phải từ từ, làm việc nhẹ nhàng không hấp tấp.
- Phải làm việc theo trình tự, hết giai đoạn này đến giai đoạn khác, làm việc
có hệ thống.
- Phải có chế độ luân phiên thích đáng giữa làm việc và nghỉ ngơi.
- Kết hợp lao động chân tay với lao động trí óc.
- Thường xuyên và đều đặn rèn luyện trình độ chuyên môn.
7. Phải có phương tiện làm việc: Ngay cả những người học giỏi cũng phải có
những dụng cụ để sử dụng. Galilê đã không thể nhìn theo những Mặt trăng của sao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn10
mộc nếu không có kính viễn vọng. Pasteur đã không thể thực hiện được công trình
của mình nếu không có kính hiển vi. Ông bà Curie cũng phải có những dụng cụ để
đo lường và thử nghiệm. Nhiều khám phá nổi tiếng đã có thể không bao giờ được
thực hiện nếu như các nhà khoa học đã không có những dụng cụ để làm việc.[3]
1.2. Mối liên hệ giữa tư duy sáng tạo với các phẩm chất trí tuệ khác
1.2.1. Mối liên hệ giữa tính tự giác, tích cực, tính tự lực và tư duy sáng tạo
Tư duy sáng tạo có mối liên hệ chặt chẽ với các thành phần khác của năng
lực trí tuệ như, tính tự giác, tích cực, tính tự lực.
Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ người học có ý thức đầy đủ mục đích,
nhiệm vụ học tập và qua đó nỗ lực nắm vững các tri thức. Trong quá trình dạy học,
tính tự giác của người học thể hiện qua: hiểu rõ và nắm vững nhiệm vụ học tập dựa
trên cơ sở ý thức được nghề nghiệp tương lai; ý thức được vị trí, vai trò tương lai
của mình trong xã hội với tư cách là một cán bộ khoa học; có ý thức đi sâu vào tìm
hiểu và vận dụng những điều đã học vào thực tiễn nghề nghiệp tương lai. Tính tự
đối với sự học, theo nghĩa hẹp, tính tự lực nhận thức là năng lực, phẩm chất, nhu
cầu học tập và khả năng tự tổ chức học tập, cho phép người học phát hiện vấn đề, tự
giải quyết vấn đề, tự kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình, tạo cơ sở cho việc tự
học. Trong quá trình học tập, dưới vai trò định hướng của giáo viên, sinh viên có
thể tự lực phát hiện vấn đề bài học và tự mình đề ra giải pháp cho vấn đề đặt ra, đó
là biểu hiện của tính tự chủ trong học tập. Điều này thể hiện rõ tính độc đáo trong
hoạt động nhận thức của sinh viên, tính độc đáo này sẽ là cơ sở của sự sáng tạo, có
ý nghĩa rất quan trọng cho hoạt động nghề nghiệp của họ sau này.
Như vậy, tính tự giác, tính tích cực, tính tự lực nhận thức có mối quan hệ mật
thiết với nhau. Tính tự giác nhận thức là cơ sở của tính tích cực, tính tự lực nhận
thức, tính tích cực nhận thức là điều kiện, là kết quả, là biểu hiện của sự nảy sinh và
phát triển của tính tự lực nhận thức. Tính tự lực nhận thức là sự thể hiện ở mức độ
cao của tính tự giác, tính tích cực nhận thức và là cơ sở của tính sáng tạo. Tuy nhiên
các mối quan hệ này không phải là tuyến tính. Tính tự giác, tích cực và tự lực là
điều kiện cần của tính sáng tạo nhưng bản thân chúng chưa phải là sáng tạo.[3], [21]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn12
1.2.2. Mối liên hệ giữa tri thức và tư duy sáng tạo
1.2.2.1. Tri thức là gì?
Tri thức là những điều hiểu biết có hệ thống về sự vật nói chung. Tri thức hay
kiến thức của con người là kết quả của quá trình nhận thức. Tư duy phản ánh hiện
thực khách quan thông qua bộ não con người, là sản phẩm đặc biệt của bộ não. Do đó
có thể hiểu tri thức là thông tin được chứa trong bộ não.
Chỉ nắm vững hệ thống tri thức mới có khả năng hình thành trong ý thức học
sinh bức tranh chân thực của thế giới, có phương pháp đúng đắn khi tham gia các
hoạt động lý thuyết và thực tiễn. Hệ thống kiến thức thường xuyên thay đổi và phát
triển do luôn luôn có những phát minh khoa học mới, nhất là trong thời đại phát
dùng các kiến thức đã có cùng với các giả thuyết mới để đề xuất các lời giải cho bài
toán, đánh giá các lời giải cho đến khi tìm được lời giải thoả đáng, có thể chấp nhận
được. Như vậy, "giải quyết vấn đề" thực tế là một quá trình sáng tạo của người học,
người học phải tự mình vận dụng các năng lực trí tuệ của mình để liên tục tưởng
tượng, tìm kiếm, sáng tạo, để rồi có được cái cảm giác là tự mình sáng tạo ra cái
kiến thức mà mình cần có, chứ kiến thức không phải là cái mà mình được hưởng
sẵn từ đâu đó một cách thụ động.
1.2.4. Mối quan hệ giữa tự học và tư duy sáng tạo
Qua những sáng tạo được thể hiện từ thời Thomas Edison đến thời Bill
Gates, giới khoa học kỹ thuật ngày càng nhận thấy giữa trí sáng tạo và việc tự học
có một mối liên hệ nhân quả. Tạp chí Science et Vie (Khoa học và cuộc ống) đã
viết: "Ai tự học mạnh nhất, người đó tích lũy được một tiềm năng sáng tạo dồi dào
nhất. Ngược lại, ai có nhu cầu sáng tạo nhiều hơn, người ấy càng thôi thúc ý chí tự
học cao hơn".
Cố Giáo sư Tạ Quang Bửu (nguyên bộ trưởng Bộ Đại học và chuyên nghiệp)
trong một buổi nói chuyện trước sinh viên Bách khoa Hà Nội năm 1970 đã nhấn
mạnh: "Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo, đồng thời là cái nôi nuôi
dưỡng trí sáng tạo. Ai giỏi tự học khi đang ở trường, người đó sẽ tiến xa".
Theo các chuyên gia giáo dục và khoa học của Tổ chức UNESCO, kỹ năng
tự học và giá trị biểu hiện của việc tự học là những thước đo của tâm lý sáng tạo và
sản phẩm sáng tạo. Bước vào thế kỷ 21, kỹ năng đó sẽ tồn tại như một trong những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn14
kỹ năng sống mà con người không thể thiếu, đồng thời giá trị đó giúp cho mỗi cá
nhân tự khẳng định chính mình trong xu thế nhảy vọt của thời đại thông tin. [3]
Tóm lại, tự học và sáng tạo là hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau: sẽ
không có sáng tạo nếu không có tự học tích cực; sẽ không thể tự học hiệu quả nếu
của con người dưới sự tác động của học tập rèn luyện, giáo dục. Trong đó việc hình
thành và phát triển nhân cách là phương tiện hiệu quả thúc đẩy sự phát triển của
năng lực.
1.3.2. Những quan niệm về năng lực sáng tạo ở học sinh
Từ các cơ sở trên chúng ta có thể có quan niệm về năng lực sáng tạo của học
sinh như sau:
1./ Năng lực tự chuyển tải tri thức và kỹ năng từ lĩnh vực quen biết sang tình
huống mới, vận dụng kiến thức đã học trong điều kiện, hoàn cảnh mới.
2./ Năng lực nhận thấy vấn đề mới trong điều kiện quen biết (tự đặt câu hỏi
mới cho mình và cho mọi người về bản chất của các điều kiện, tình huống, sự vật).
Năng lực nhìn thấy chức năng mới của đối tượng quen biết
3./ Năng lực nhìn thấy cấu trúc của đối tượng đang nghiên cứu. Thực chất là
bao quát nhanh chóng, đôi khi ngay tức khắc, các bộ phận, các yếu tố của đối tượng
trong mối tương quan giữa chúng.
4./ Năng lực biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lí một tình
huống. Khả năng huy động các kiến thức cần thiết để đưa ra các giả thuyết hay các
dự đoán khác nhau khi phải lý giải một hiện tượng.
5./ Năng lực xác nhận bằng thực nghiệm các giả thuyết (hoặc phủ nhận nó).
Năng lực biết đề xuất các phương án thí nghiệm hoặc thiết kế sơ đồ thí nghiệm để
kiểm tra giả thuyết hay hệ quả suy ra từ giả thuyết hoặc để đo một đại lượng nào đó
với hiệu quả cao nhất có thể được trong điều kiện đã cho.
6./ Năng lực nhìn nhận một vấn đề dưới những góc độ khác nhau, xem xét
đối tượng ở những khía cạnh khác nhau, đôi khi mâu thuẫn nhau. Năng lực tìm ra
các giải pháp lạ, chẳng hạn đối với bài toán vật lý, có nhiều cách nhìn đối với việc
tìm kiếm lời giải, năng lực kết hợp nhiều phương pháp giải bài tập để tìm ra một
phương pháp mới, độc đáo.[3]
Đối với học sinh phổ thông, tất cả những gì mà họ “tự nghĩ ra” khi GV chưa
dạy, HS chưa đọc sách, chưa biết được trao đổi với bạn bè đều coi như có mang tính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn