1, Tác động của việc gia nhập WTO đến các doanh nghiệp trong nước.
1.1 . Tác động tích cực của gia nhập WTO
- Tạo ra áp lực cạnh tranh, thúc đẩy các doanh nghiệp có những thay đổi mang
tính chiến lược nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh, đứng vững trên thị
trường nội địa.
- Bước đầu mở ra cơ hội tiếp cận, mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm
sang các nước thành viên WTO. Nếu các doanh nghiệp có chiến lược phù hợp
thì khả năng gia tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao tỷ lệ doanh thu từ
XK/tổng doanh thu là rất lớn.
- Tạo ra áp lực để các cơ quan cung cấp dịch vụ công, các cơ quan hành chính
minh bạch hóa thủ tục, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giúp tiết kiệm thời
gian, giảm các chi phí giao dịch.
- Cơ hội hợp tác với các tập đoàn sản xuất lớn trong khu vực và thế giới.
1.2. Tác động tiêu cực của gia nhập WTO
Các sản phẩm nước ngoài bắt đầu thâm nhập thị trường Việt Nam xuất phát
từ thực thi các cam kết theo WTO. Tuy nhiên, một năm sau khi Việt Nam gia
nhập WTO, áp lực cạnh tranh nội địa vẫn chưa rõ. Những ảnh hưởng tiêu cực
đến hoạt động của các doanh nghiệp là chưa cụ thể.
Mặt khác, những nguy cơ chính của hội nhập kinh tế vẫn còn, khả năng ảnh
hưởng trong dài hạn là chưa thể đo lường được. Vì vậy, các doanh nghiệp gặp
khó khăn trong việc hoạch định chiến lược dài hạn.
Trước và sau khi gia nhập WTO, trong nhận thức, trong hành động của các
doanh nghiệp và các cơ quan quản lý bước đầu có những chuyển biến tích cực.
Tuy nhiên, thực tế số lượng các doanh nghiệp thực sự quan tâm đến WTO còn
chưa nhiều, chủ yếu tập trung vào các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập
khẩu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Những doanh nghiệp này
đã có sự tìm hiểu về WTO để có những chiến lược, giải pháp thích hợp, nâng
cao năng lực cạnh tranh để hội nhập hiệu quả. Còn phần lớn các doanh nghiệp
kinh doanh nội địa, các hộ kinh doanh còn chưa thực sự quan tâm đến WTO,
chưa nhận thức được những tác động của WTO đối với họ. Điều này sẽ rất
nguy hiểm cho họ khi mà những rào cản về thị trường ngày càng được dỡ bỏ
Thủy sản -0.06 -0.23 -0.33
Khai khoáng -0.02 -0.13 -0.16
Vật liệu xây dựng -0.01 -0.22 -0.25
Hóa chất 0.14 -0.44 -0.84
Gạo 0.16 0.11 0.10
Đường 0.21 -0.03 -0.19
Điện, nước, khí đốt 0.23 -0.00 -0.10
Gạo chế biến 0.28 0.22 0.20
Động cơ 0.31 -0.14 -0.44
Chăn nuôi 0.35 0.36 0.39
Sản phẩm kim khí 0.43 0.25 0.34
Máy móc 1.15 1.28 1.67
Sản phẩm công nghiệp
chế tạo khác
1.70 1.17 0.77
Điện tử 3.55 6.20 10.07
May mặc 4.62 10.82 13.19
Giầy dép 4.95 4.57 3.79
2.2. Tác động tới GDP và cơ cấu xuất nhập khẩu
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%/năm. Tổng số vốn
đầu tư toàn xã hội gấp 2,5 lần so với giai đoạn 2001 - 2005, đạt 42,9% GDP.
Quy mô GDP năm 2010 tính theo giá thực tế đạt 101,6 tỉ USD, gấp 3,26 lần so
với năm 2000. GDP bình quân theo đầu người 1.168USD.
Trong 5 năm 2006-2010, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực
hiện 45 tỉ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch. Tổng số vốn FDI đăng ký mới và bổ
sung đạt 146 tỉ USD, gấp 7 lần so với giai đoạn 2001-2005.
Hội nhập, đã phá được thế bao vây cấm vận, tạo được sự bình đẳng trong
thương mại quốc tế. Hoạt động kinh tế đối ngoại trong đó nòng cốt là ngoại
thương tiến bộ rõ rệt. Thị trường được rộng mở tới 149 nền kinh tế thành
Giầy dép % 6.18 6.01 5.17
May mặc % 45.97 46.33 41.39
Bảng 4: Xu hướng biến động giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng
nông nghiệp
Mặt hàng xuất khẩu
200
8
201
0
201
2
Gạo -3.24 -3.63 -4.10
Lâm sản -1.54 -2.02 -2.44 -
3
Cà phê, chè, hồ tiêu -0.30 -0.32 -0.38 -
0
Nông sản khác -0.21 -0.31 -0.71 -
1
Thủy sản -0.18 -0.30 -0.41 -
0
Rau quả 0.17 -0.01 -0.04 -
0
Trong cơ cấu nhập khẩu, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu vẫn chiếm
tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, đã có những dấu hiệu cho thấy tỷ trọng của hàng tiêu
dùng đang tăng lên. Việt Nam vẫn nhập chủ yếu hàng hóa từ các nước Đông
Nam Á và Trung Quốc. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
của Việt Nam trong tương lai khi hàng nhập chủ yếu là máy móc và nguyên vật
liệu.
Bảng 5: Xu hướng biến động giá trị nhập khẩu một số mặt hàng
Tăng giá trị nhập khẩu,
May mặc 31.03 35.49 34.52
2.3. Tác động đến nguồn thu ngân sách
Việt Nam không gặp phải vấn đề nghiêm trọng đối với nguồn thu ngân sách
như nhiều quốc gia khác. Thâm hụt ngân sách vẫn nằm trong tầm kiểm sóat
của Chính phủ cho dù tỷ trọng nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm. Lý do chủ
yếu là việc giảm thuế suất của Việt Nam diễn ra theo lộ trình; đồng thời kim
ngạch nhập khẩu tăng nhanh đã làm tăng diện thu thuế và bù đắp cho việc
giảm thuế suất.