TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP
LỒNG GHÉP VÀO QUÁ TRÌNH DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG
tại Trung tâm KTTH-HN Phan Rang, Ninh Thuận
I. HOÀN CẢNH NẢY SINH
1. Cơ sở lý luận:
1.1 Tư vấn hướng nghiệp (TVHN) là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của trung tâm
kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp (KTTH-HN).
Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm KTTH-HN do Bộ GD&ĐT ban hành kèm
theo Quyết định số 44/2008/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 7 năm 2008, tại mục 1, Điều 3 (Phụ
lục IV), nêu rõ:
“Nhiệm vụ của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp:
1. Dạy công nghệ, kỹ thuật, dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh
học chương trình giáo dục phổ thông.
. . . ”
Như vậy, cùng với dạy công nghệ, kỹ thuật, nghề phổ thông, TVHN cho học sinh phổ
thông (HS) là nhiệm vụ hàng đầu của trung tâm KTTH-HN, trong số 6 nhiệm vụ đã được Bộ
GD&ĐT quy định trong Quy chế 44/2008.
Do vị trí quan trọng của nhiệm vụ TVHN, cũng như ý nghĩa thực tiễn to lớn của nó đối
với HS, trong những năm qua Bộ GD&ĐT (thông qua Trung tâm Lao động-Hướng nghiệp Bộ)
đã tổ chức 2 đợt tập huấn về TVHN cho cán bộ giáo viên các trung tâm KTTH-HN trong toàn
quốc, đợt I vào tháng 7 năm 2003 và đợt II vào tháng 8 năm 2006.
1.2. TVHN giúp chọn nghề phù hợp.
TVHN giúp xác định miền chọn nghề tối ưu theo sơ đồ sau:
Miền chọn nghề tối ưu rất hẹp, chỉ là giao của 3 miền xu hướng, năng lực và nhu cầu
nghề. Bởi vậy, chọn nghề phù hợp là một việc không đơn giản.
Nhấn mạnh vai trò của sự phù hợp nghề, cố Bộ trưởng Tạ Quang Bửu đã nói: “có những
nghề phù hợp với sở trường và năng lực, nhưng chưa thể là nghề “kiếm cơm”. Tuy vậy, đến
một giai đoạn chín muồi, khi đã thực sự vững tay nghề sở đắc thì sẽ bước vào thời “nhất nghệ
tinh, nhất thân vinh”.
Honda cũng đã phát biểu: “Nghề không thiếu, chỉ thiếu người chí thú với nghề, phù hợp
với nghề. ”
Hoàn toàn có căn cứ khi dư luận xã hội, thông tin đại chúng đã không ít lần phàn nàn về
sự yếu kém của công tác hướng nghiệp (trong đó có TVHN) trong nhà trường phổ thông, dẫn
đến đa số HS rất lúng túng trong việc chọn hướng đi, ngành học, trường thi khi làm hồ sơ tuyển
sinh; để rồi tới buổi “Tư vấn mùa thi” do các đài-báo tổ chức, HS “nô nức” đến nghe với vô
vàn câu hỏi. Việc tư vấn cho HS trước mùa thi như lâu nay mà một số báo, đài và các trường
đại học, cao đẳng , THCN đã làm là rất đáng hoan nghênh, nhưng vẫn chỉ là cách làm theo kiểu
phong trào, chủ yếu để giới thiệu về các trường, chứ không thể thay thế cho việc TVHN một
cách bài bản, có hệ thống, mang tính khoa học trong nhà trường.
Từ đó mà đã xẩy ra không ít những trường hợp thương tâm do không thỏa mãn nguyện
vọng sau mỗi “mùa” tuyển sinh, hoặc bỏ học giữa chừng do chọn ngành học không phù hợp,
hoặc học xong không có việc làm, phải đào tạo lại, v.v
2.2. Thực trạng công tác TVHN hiện nay tại các cơ sở giáo dục:
Từ năm học 2007-2008 đến nay, sinh hoạt hướng nghiệp (SHHN) được đưa lại về các
trường phổ thông theo chương trình đổi mới, với thời lượng 3 tiết/tháng. Một năm sau, chương
trình Hoạt động giáo dục hướng nghiệp (GDHN) bị rút xương còn 1 tiết/tháng. Nội dung
TVHN, vì vậy, bị rút xuống còn một bài.
Theo phản ánh của cán bộ giáo viên từ các trường THPT tham dự đợt tập huấn do Trung
tâm hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực (Trung tâm Lao động hướng nghiệp cũ) tổ chức
tại Đắc Lắc tháng 9 năm 2009, thì do thời lượng quá ít, giáo viên không có điều kiện hướng dẫn
cho HS quy trình thực hiện các trắc nghiệm tự tìm hiểu bản thân đã triển khai tập huấn trước
2
đây, dẫn đến HS không thể tự tìm hiểu năng lực nghề của bản thân, nên chất lượng TVHN nói
riêng và GDHN nói chung ở các trường phổ thông chưa thể đáp ứng yêu cầu của công tác
hướng nghiệp.
Còn ở các trung tâm Kỹ thuật tổng hợp-Hướng nghiệp, phần lớn là không thực hiện
nhiệm vụ TVHN (trong đó có một số trung tâm ở Ninh Thuận). Trong lúc cũng có một số trung
tâm đã thực hiện khá tốt nhiệm vụ này, như Trung tâm KTTH-HN Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên,
Trung tâm KTTH-HN tỉnh Nghệ An, nhưng đều dựa trên cơ sở những quy định riêng do các
trung tâm tự đặt ra.
2.3. TVHN trong những năm qua tại Trung tâm KTTH-HN Phan Rang.
TVHN vào các buổi SHHN tại Trung tâm không còn thực hiện được nữa.
Năm học 2008-2009, một lần nữa, “cái khó” buộc cán bộ giáo viên Trung tâm phải “ló”
tiếp “cái khôn” lần nữa, chính là nội dung của SKKN này, đã tiến hành thí điểm việc lồng ghép
3
TVHN vào quá trình dạy học NPT của HS khối 11 với nội dung rút gọn, mục đích là để rút kinh
nghiệm thực tế cho những năm tiếp theo. Nhưng do chỉ mới đưa vào thí điểm trong học kỳ II,
nên còn nhiều khiếm khuyết, nhất là chưa có đúc rút kinh nghiệm, tổng hợp số liệu làm chứng
cứ khoa học một cách bài bản.
Vì vậy, nhu cầu đặt ra trong năm học 2009-2010 là phải đổi mới nội dung, quy trình sao
cho đáp ứng về cơ bản quy trình TVHN mà Bộ GD&ĐT đã triển khai qua các đợt tập huấn trên
toàn quốc; đồng thời đưa ra được luận cứ khoa học về tính khả thi và hiệu quả của việc lồng
ghép TVJHN vào dạy học NPT, làm cơ sở cho việc triern khai tiếp theo trong những năm học
tới.
Đó cũng chính là mục đích của SKKN này.
Số liệu khảo sát từ 200 HS khối 11 các trường THPT Chu Văn An và THPT Nguyễn Trãi
đầu năm học 2009-2010 cho thấy:
- 79% cho rằng TVHN là cần thiết cho HS;
- 86% trả lời đúng ý nghĩa của chọn nghề phù hợp, nhưng
- chỉ có 22% trả lời đúng thế nào là TVHN.
Từ những số liệu và quá trình thí điểm thực tiễn trên, có thể rút ra mấy kết luận sau
đây:
1. HS thấy sự cần thiết và ý nghĩa của việc chọn nghề phù hợp và muốn được tiếp cận
với với phương pháp chọn nghề phù hợp.
2. Dự án phát triển GD THPT và HS đều đánh giá tốt về kết quả TVHN đã thực hiện ở
Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp-Hướng nghiệp Phan Rang.
3. Bằng những con đường khả thi, TVHN cần phải được tiếp tục triển khai cho HS THPT
để thiết thực góp phần giúp các em vững tin bước vào cuộc đời.
Đó cũng chính là những lý do thôi thúc CBQL và các thầy cô giáo ở Trung tâm Kỹ thuật
tổng hợp-Hướng nghiệp Phan Rang quyết tâm tìm mọi cách để thực hiện TVHN cho HS, như là
một trong những việc không thể không làm vì tương lai của thế hệ trẻ.
1. Xây dựng kế hoạch:
Đã đạt được sự đồng thuận trong Lãnh đạo và giáo viên về chủ trương, kế hoạch thực
hiện. Kết quả là đã ban hành được văn bản chỉ đạo số 517/NPT-TTHNPR ngày 25/9/2009 (Phụ
lục IV), trong đó có phần về TVHN:
“Tư vấn hướng nghiệp thực hiện cho khối 11, bằng cách lồng ghép vào các buổi thực
hành NPT, bắt đầu từ tháng 11 trở đi. Trong một số buổi thực hành, giáo viên (GV) dành một
khoảng thời gian thích hợp hướng dẫn HS về nhà thực hiện các trắc nghiệm tự tìm hiểu bản
thân, tìm kiếm thông tin chọn ngành nghề (lần lượt, trong nhiều buổi khác nhau) hay trao đổi
trực tiếp để tư vấn cho HS. Cuối năm học, GV xem xét tổng quát, đưa ra lời khuyên và đánh
giá tinh thần thái độ, kết quả thực hiện, cho điểm như bài kiểm tra hệ số 1. HS không thực hiện
thì cho điểm 0 để đưa vào cộng điểm trung bình nghề.”
Đây là sự khẳng định kết quả của việc thí điểm ở năm học trước (như đã nói ở mục
I.2.3.) khi mà ý định tổ chức TVHN trên máy vi tính không thực hiện được, buộc phải chuyển
hướng ở học kỳ II sang việc thí điểm lồng ghép vào dạy học NPT. Đây cũng là kết qủa của quá
trình triển khai thăm dò ý kiến giáo viên trong buổi tập huấn chuyên môn đầu năm học, vào
ngày 21/8/2009.
Kết quả quan trọng nhất của giai đoạn này là, ngoài việc tạo được sự đồng thuận trong
Lãnh đạo và toàn thể giáo viên, TVHN đã được chính thức hóa thành một hoạt động bắt buộc
trong quá trình dạy học NPT, mà thực chất là “Hoạt động Giáo dục NPT” theo quy định chung
của Bộ GD&ĐT, có cho điểm đánh giá HS.
2. Lựa chọn nội dung và biên soạn tài liệu hướng dẫn
Đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu TVHN của Trung tâm LĐHN Bộ GD&ĐT, tham
khảo kinh nghiệm tiến hành TVHN các năm trước, tham khảo nguồn dữ liệu của Phần mềm Hỗ
trợ TVHN trên máy vi tính, tham khảo các Website có nội dung về TVHN trên mạng Internet,
v.v từ đó mà biên soạn tài liệu hướng dẫn tóm lược toàn bộ quy trình TVHN, tập mẫu các
trắc nghiệm tối thiểu mà HS cần thực hiện.
5
Kết quả đã ban hành được Tài liệu tóm lược hướng dẫn toàn bộ quy trình TVHN (Phụ
lục I), các mẫu trắc nghiệm tìm hiểu năng lực nghề (Phụ lục II) dùng chung cho giáo viên và
HS, sau khi đã được cán bộ quản lý góp ý kiến.
hiện. Một số lớp do luân chuyển giáo viên nên chưa thực hiện được hoặc chưa đúng tiến độ
chung.
5. Tổng hợp, đánh giá kết quả, đúc rút kinh nghiệm:
Kết quả cơ bản của đề tài là:
5.1. Đã hoàn thiện Tài liệu tóm lược hướng dẫn quy trình TVHN lồng ghép vào dạy học
NPT (Phụ lục I).
5.2. Chọn lọc hoàn chỉnh bộ trắc nghiệm tối thiểu dùng cho HS tự khám phá bản thân
(Phụ lục II).
5.3. Đưa ra các biểu mẫu (Phụ lục III):
6
- Mẫu Phiếu TVHN: Dùng để ghi tất cả kết quả tự trắc nghiệm, tìm hiểu bản thân, lựa
chọn, tự đánh giá của HS và ý kiến tư vấn, đánh giá của giáo viên; đồng thời bổ sung mục tự
đánh giá về học NPT để HS thấy thêm mối liên hệ với TVHN (nội dung này không thuộc phạm
vi của đề tài)
- Mẫu Danh sách HS tham gia TVHN: Dùng để HS tự ghi các kết quả quan trọng nhất
sau quá trình TVHN, giáo viên ghi điểm đánh giá, tổng hợp số liệu của mỗi lớp nghề.
- Mẫu Phiếu tự đánh giá của giáo viên, các kinh nghiệm, đề xuất, kiến nghị.
- Mẫu Tổng hợp đánh giá của giáo viên: Được thiết kế trong Excel để có thể tổng hợp
nhanh chóng các số liệu cần thiết.
- Mẫu Tổng hợp kết quả TVHN chung cho cả khối: Dùng để Giáo vụ tổng hợp số liệu từ
các số liệu tổng cộng của mỗi lớp do giáo viên nộp về. Bảng xây dựng trong Excel, cho phép
tổng hợp, khảo sát số liệu theo nhiều thông số như: nghề, trường, giáo viên, các đặc điểm khí
chất, xu hướng nghề, lựa chọn, mức độ tự đánh giá của HS, v.v có thể là nguồn dữ liệu rất có
ích cho những đề tài nghiên cứu khác về hướng nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực,
Như vậy, đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra là cho phép đơn giản hóa quá trình báo cáo,
tổng hợp nhanh, gọn các số liệu, với việc sử dụng máy vi tính; đồng thời HS và giáo viên đã
thực hiện việc tự đánh giá về quá trình TVHN lồng ghép của mình, đúc rút kinh nghiệm, đề
xuất biện pháp tiếp tục đổi mới một cách khách quan, dân chủ.
5.4. Những số liệu tổng hợp:
- Tổng số HS đã được TVHN: 3.155, chiếm hơn 90% tổng số HS khối 11 học NPT tại
1. Tính khả thi:
Qua 2 năm học thực hiện, đề tài cho phép khẳng định tính khả thi của việc lồng ghép
TVHN vào quá trình dạy học NPT. Hơn thế nữa, việc lồng ghép không những không làm giảm
chất lượng dạy học NPT, mà còn giúp HS có hướng thú hơn khi tham gia hoạt động này, vừa
tận dụng được những khoảng trống của từng cá nhân hay nhóm HS trong giờ thực hành, vừa
rèn luyện cho các em phương pháp tự học, tự khám phá rất bổ ích, vừa bổ sung cho sự nghèo
nàn về nội dung và thời lượng mà chương trình GDHN và GDNPT hiện nay giành cho TVHN
(chỉ có 1 buổi), nâng cao hơn giá trị của hoạt động dạy học NPT ở Trung tâm đối với HS.
2. Tính hiệu quả:
- Hiệu quả giáo dục:
Lồng ghép TVHN vào quá trình dạy học NPT đã tạo điều kiện cho HS được tiếp cận thực
tế với quy trình chọn nghề, với kết quả không thua kém kết quả thực hiện trên máy vi tính (là
một bản in ra các kết quả trắc nghiệm và lời kết luận rất chung chung, kém thuyết phục), đồng
thời góp phần khắc phục sự thiếu hụt thời gian giành cho TVHN trong chương trình hoạt động
Giáo dục hướng nghiệp THPT hiện nay và khó khăn của Trung tâm KTTH-HN trong việc thực
hiện chức năng nhiệm vụ do Bộ GD&ĐT quy định.
Đồng thời, đề tài cũng tổng kết được một số số liệu thống kê đáng được các nhà giáo dục
quan tâm về xu hướng chọn ngành nghề, trường thi, về tính cách của học sinh.
- Hiệu quả kinh tế:
Lồng ghép TVHN vào quá trình dạy học NPT đã tiết kiệm được khoảng hơn 300 triệu
đồng, nếu tính theo mức chi của Dự án đổi mới giáo dục THPT, tức là:
100.000 đ x 3.150 HS = 315.000.000 đ
Nếu tính 10.000 đ/HS như mức đề nghị của Trung tâm năm 2008 thì chí ít, cũng tiết
kiệm được hơn 30 triệu đồng tiền đóng góp của phụ huynh học sinh, chưa tính chi phí máy
móc, điện nước, công tác tổ chức,
3. Phạm vi áp dụng:
- Lồng ghép TVHN vào quá trình dạy học NPT ở khối 11 sẽ được tiếp tục đổi mới và áp
dụng tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp-Hướng nghiệp Phan Rang trong những năm tới.
- Phương pháp này có thể sẽ được thí điểm cho khối 8 học NPT tại Trung tâm, với nội
dung hướng học, nhằm góp phần phân luồng học sinh THCS.
Phan Rang, Ninh Thuận
9