Lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế kinh tế nhờ quy mô và ứng dụng đối với ngành viễn thông Việt Nam - Pdf 18

MỤC LỤC
LỜI
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1
2.Mục đích nghiên cứu 2
3.Câu hỏi nghiên cứu 2
4.Đối tượng nghiên cứu 2
5.Phương pháp nghiên cứu 2
6.Cấu trúc dự kiến 2
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI DỰA TRÊN LỢI THẾ KINH TẾ
NHỜ QUY MÔ 3
1.1. Khái niệm lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế nhờ quy mô 3
1.2. Nguyên nhân gây ra lợi thế kinh tế nhờ qui mô 3
1.2.1. Do tính không thể chia được của quá trình sản xuất: 3
1.2.2. Do tính chuyên môn hóa, một số ngành nghề riêng lẻ: 3
1.2.3. Do tính quan hệ chặt chẽ 3
1.3. Phân loại 4
1.3.1. Lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên trong 4
1.3.2 Lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên ngoài 5
1.4. Ý nghĩa của lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế nhờ quy mô 6
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI DỰA TRÊN KINH
TẾ NHỜ QUY MÔ VÀO NGÀNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM 7
2.1. Lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên trong 7
2.1.1. Lợi thế kỹ thuật 7
2.1.2. Lợi thế tài chính 9
2.1.4. Lợi thế quản lý 15
2.2. Lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên ngoài 17
2.2.1. Giao thông vận tải và các liên kết truyền thông được nâng cao 17
2.2.2. Đào tạo và giáo dục trở nên tập trung vào các ngành công nghiệp 20
2.2.3. Các ngành công nghiệp khác phát triển để hỗ trợ ngành viễn thông 22
DANH MỤC CÁC BẢNG

thành và phát triển. Lịch sử thương mại quốc tế bao gồm các học thuyết: Quan điểm
Chủ nghĩa trọng thương (đầu thế kỷ XV); Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam
Smith; Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo 1817; Mô hình Hechscher-
Ohlin (mô hình H-O). Đối với hai học thuyết của Adam Smith và David Ricardo
đều cần các giả thuyết ban đầu như lao động không được dịch chuyển tự do giữa
các quốc gia vì nếu dịch chuyển thì sẽ không còn lợi thế nữa, vận chuyển giữa hai
quốc gia là bằng 0, chỉ có hai quốc gia và hai mặt hàng trong mô hình, cạnh tranh
hoàn hảo tồn tại trên các thị trường, công nghệ sản xuất của hai quốc gia là như
nhau và không đổi.
Các lý thuyết thương mại cổ điển đều được nghiên cứu dựa trên giả định về lợi
tức không đổi theo quy mô. Tức là giả thiết rằng sản lượng của một ngành nào đó sẽ
tăng lên gấp đôi nếu đầu vào của ngành đó tăng gấp đôi. Đến thời kỳ hiện đại, các
nhà kinh tế đã nghiên cứu và chỉ ra trên thực tế, nhiều ngành được đặc trưng bởi
tính kinh tế nhờ quy mô, có nghĩa là sản xuất sẽ càng hiệu quả khi quy mô của nó
càng lớn. Do đó, lý thuyết thương mại lợi thế kinh tế nhờ quy mô đã ra đời. Bằng
một cách thức tiếp cận khác từ thực tiễn, lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế kinh
1
tế nhờ quy mô đã giải thích được cơ sở cho một công ty, một quốc gia mở rộng quy
mô sản xuất với chiều hướng tập trung chuyên môn hóa sản phẩm sản xuất.
Từ sự phát triển của các lý thuyết thương mại quốc tế nói trên, trong khuôn
khổ môn học “Thương mại quốc tế”, nhóm tác giả lựa chọn đề tài tiểu luận “Lý
thuyết thương mại dựa trên lợi thế kinh tế nhờ quy mô và ứng dụng đối với
ngành viễn thông Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu những nội dung chính của lý
thuyết thương mại dựa trên lợi thế nhờ quy mô và nhận xét đánh giá việc vận dụng
lý thuyết này vào ngành viễn thông Việt Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài trả lời được câu hỏi nghiên cứu: Việc vận dụng lý thuyết thương mại
dựa trên lợi thế nhờ quy mô vào ngành viễn thông Việt Nam như thế nào?

1.2. Nguyên nhân gây ra lợi thế kinh tế nhờ qui mô
1.2.1. Do tính không thể chia được của quá trình sản xuất:
Trong quá trình sản xuất luôn luôn cần một số lượng các yếu tố đầu vào tối
thiểu để duy trì hoạt động của doanh nghiệp như đất đai, nhà xưởng, điện nước,
máy móc thiết bị… Nó không phụ thuộc vào việc có sản xuất hay không, các chi
phí đó gọi là chi phí cố định và nó không thay đổi theo mức sản lượng, nghĩa là các
chi phí này không thể chia nhỏ được nữa, nó bắt đầu từ những mức sản lượng thấp
và không tăng cùng với mức tăng của sản lượng. Vì vậy khi sản lượng tăng, doanh
nghiệp sẽ đạt được lợi thế kinh tế nhờ qui mô vì các chi phí cố định này có thể chia
cho một số lượng nhiều hơn các đơn vị sản lượng và như vậy nó làm giảm chi
phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm và giảm giá thành.
1.2.2. Do tính chuyên môn hóa, một số ngành nghề riêng lẻ:
Nếu doanh nghiệp sử dụng hình thức chuyên môn hóa tập trung sản xuất một
khâu cụ thể thì mỗi người công nhân có thể tập trung vào một công việc nhất định
và giải quyết công việc đó có hiệu quả hơn, do đó có hiệu quả hơn, góp phần làm
giảm chi phí bình quân.
1.2.3. Do tính quan hệ chặt chẽ
Doanh nghiệp muốn có được quy mô lớn thường cần đến lợi thế của các loại
máy móc mới, hiện đại, với các mức sản lượng cao thì chi phí khấu hao máy móc có
thể giải đều cho một số lượng lớn sản phẩm và với kĩ thuật sản xuất đó có thể sản
xuất ra nhiều sản phẩm đến mức làm cho chi phí bình quân giảm.
3
Nhìn vào các nguyên nhân gây ra lợi thế kinh tế theo quy mô ta có thể thấy
được quy mô doanh nghiệp càng lớn, chi phí theo quy mô càng giảm. Sản lượng của
doanh nghiệp càng lớn, chi phí cho mỗi một đơn vị sản phẩm càng nhỏ. Do đó,
bằng việc nghiên cứu vận dụng lý thuyết thương mại dựa trên lợi thế kinh tế theo
quy mô, một công ty có thể quyết định tăng quy mô sản xuất sản phẩm thích hợp để
đem lại mức lợi nhuận cao nhất dựa trên mức chi phí trung bình thấp nhất.
1.3. Phân loại
1.3.1. Lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên trong

ty lớn hơn do đó tìm nguồn tài chính dễ dàng hơn từ những người cho vay tiềm
năng và dễ có tiền với lãi suất thấp hơn.
- Lợi thế tiếp thị:
Mỗi khâu của tiếp thị đều có chi phí - đặc biệt là phương pháp quảng cáo
như quảng cáo và xúc tiến một lực lượng bán hàng. Nhiều khoản chi phí tiếp thị là
chi phí cố định và như vậy là một doanh nghiệp càng lớn hơn, nó có thể chia sẻ chi
phí tiếp thị trong một phạm vi rộng hơn các sản phẩm và cắt giảm chi phí trung bình
cho mỗi đơn vị.
1.3.2 Lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên ngoài
Lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên ngoài xảy ra khi một công ty có được lợi ích
nhờ đơn vị chi phí thấp hơn do kết quả của toàn bộ ngành công nghiệp đó phát triển
quy mô.
- Giao thông vận tải và các liên kết truyền thông được nâng cao:
Khi một ngành công nghiệp hình thành và phát triển ở một vùng nào đó, có
khả năng là chính phủ sẽ cung cấp hạ tầng giao thông vận chuyển tốt hơn và liên kết
truyền thông để nâng cao khả năng tiếp cận với khu vực. Điều này sẽ làm giảm chi
phí vận chuyển cho các công ty trong khu vực như thời gianvận chuyển được giảm
và cũng có thể thu hút thêm nhiều khách hàng tiềm năng. Ví dụ, một khu vực của
Scotland được gọi là Silicon Glen đã thu hút nhiều công ty công nghệ cao và đó là
kết quả của môi trường kinh doanh được cải thiện và các hạ tầng đường sá được xây
dựng trong khu vực.
- Đào tạo và giáo dục trở nên tập trung vào các ngành công nghiệp:
Các trường Đại học và Cao đẳng sẽ cung cấp các khóa học phù hợp hơn cho
một ngành công nghiệp đã trở thành chủ chốt trong một khu vực hoặc toàn quốc. Ví
dụ, có rất nhiều khóa học Công nghệ thông tin (CNTT) đangđược mở tại các trường
ĐH/ Cao đẳng do toàn bộ ngành công nghiệp CNTT đã phát triển gần đây.Điều này
có nghĩa các công ty có thể có lợi từ việc có một nguồn nhân lực lớn có tay nghề
phù hợp để tuyển dụng.
- Các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển theo để hỗ trợ ngành công nghiệp
này:

ngừng, tích cực hội nhập với khu vực và quốc tế nhằm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
của ngành đối với sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Lợi thế kinh
tế theo quy mô có thể dễ dàng quan sát thấy ở ngành viễn thông. Để phục vụ một
cuộc gọi cho một khách hàng, một công ty viễn thông tốn rất nhiều chi phí đầu tư:
đường dây dẫn sóng, các cột thu phát sóng, các hạ tầng khác để lắp đặt điện thoại ở
các địa phương khác nhau phục vụ cho các cuộc gọi xa. Khi một công ty phục vụ
hàng ngàn hộ gia đình trong một thị trấn, chi phí để một điện thoại đi vào hoạt động
lại giảm đáng kể, bởi chi phí cố định đã được đầu tư, hạ tầng dịch vụ sẵn có, và việc
các công ty viễn thông là thu hút thêm các khách hàng mới sử dụng điện thoại để
tận dụng lợi thế này. Vì chi phí đầu tư viễn thông cho một vùng dân cư rất tốn kém,
vì thế, ngành viễn thông thường chứng kiến một công ty viễn thông phục vụ trọn
gói cho một vùng dân cư, nhằm tăng hiệu quả và lợi nhuận. Điều này có thể dẫn đến
độc quyền tự nhiên.
2.1. Lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên trong
2.1.1. Lợi thế kỹ thuật
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thị trường viễn thông đã có những chuyển
biến tích cực, sôi động và tỷ lệ tăng trưởng cao mỗi năm. Điều dễ nhận thấy của
ngành viễn thông hiện nay là lợi thế về mặt kỹ thuật của các đại gia cung cấp dịch
vụ viễn thông như VNPT (Vinaphone và Mobifone), Viettel, EVN Telecom. Những
nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn đều có những chiến lược trong lĩnh vực sản
xuất thiết bị đặc biệt là khâu tổ chức bộ máy. Hầu hết các đại gia viễn thông đều
thành lập Viện nghiên cứu để định hướng, thiết kế và phát triển sản phẩm. Bên cạnh
đó các công ty viễn thông này còn có chủ trương, chính sách thu hút nhân tài để tạo
ra một nguồn lực mạnh dành riêng cho hoạt động sản xuất thiết bị.
Một ví dụ điển hình về lợi thế kỹ thuật là Tổng công ty Viễn thông Quân đội
– Viettel. Viettel đã xây dựng một Viện nghiên cứu phát triển với 350 Kỹ sư, một
Công ty phần mềm với 400 kỹ sư, một nhà máy sản xuất thiết bị điện tử - viễn
thông M1 với 350 kỹ sư và một nhà máy sản xuất khuôn mẫu M3 với 300 kỹ sư đủ
năng lực đáp ứng hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển và ứng dụng
công nghệ thông tin, sửa chữa, nâng cấp, sản xuất các chủng loại thiết bị điện tử

mỗi tháng. Trong đó, chỉ 1GB là đi qua mạng truyền dẫn truyền thống, 3GB còn lại
thông qua mạng wifi tại nhà, văn phòng hoặc nơi công cộng. Bài toán đặt ra cho nhà
mạng là làm sao kiếm tiền từ 3GB kia, còn người dùng là làm sao để giải chi phí
của 1GB sử dụng thấp xuống hơn nữa. Xu thế hiện nay của nhà mạng không dây là
người tiêu dùng đang đóng góp ngày càng thu hẹp cước phí cho các cuộc gọi truyền
thống (vốn sử dụng hạ tầng truyền thống), trong khi phí thu được từ dữ liệu ngày
càng tăng. Đây là bài toán mà nhà mạng cần giải quyết càng sớm càng tốt để duy trì
1
vi-sao-cac-thanh-pho-lon-lien-tuc-duoc-phu-
song-wifi-mien-phi_114
8
doanh thu và lợi nhuận. Việc wifi trở nên đại trà cũng mở ra những cơ hội mới cho
các nhà cung cấp dịch vụ Internet có dây, các công ty vận hành cáp quang trong
việc thu phí dữ liệu sử dụng wifi, bởi lợi thế kinh tế theo quy mô mà các công ty
này đang sở hữu. Dự báo trong thời gian tới, sóng wifi sẽ ngày càng trở nên phổ
biến hơn nữa và chất lượng sẽ còn được cải thiện.
2.1.2. Lợi thế tài chính
- Nguồn lực tài chính lớn từ các hoạt động phát triển đa dạng
Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) được thành lập theo quyết định
2097/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ký vào ngày 14/12/2009, là doanh
nghiệp kinh tế quốc phòng 100% vốn nhà nước với số vốn điều lệ 50.000 tỷ đồng,
có tư cách pháp nhân, có con dấu, biểu tượng và điều lệ tổ chức riêng.
Theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Viettel, được phê duyệt tại Quyết
định số 466/QĐ – TTg ngày 30/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ, thì cơ cấu tổ chức
của Viettel như sau: Các công ty con của Viettel bao gồm: Các Tổng công ty hoạt
động theo hình thức Công ty mẹ - Công ty con, trong đó, Công ty mẹ là Công ty
TNHH một thành viên do Viettel sở hữu 100% vốn điều lệ (TCT Sản xuất thiết bị
viễn thông Viettel, TCT Đầu tư và kinh doanh bất động sản Viettel); Công ty con do
Viettel sở hữu trên 50% vốn điều lệ (Công ty TNHH một thành viên Thương mại và
Xuất nhập khẩu Viettel, Công ty TNHH một thành viên Thông tin M1, Công ty

vào lĩnh vực bưu chính viễn thông ra thị trường nước ngoài của Tập đoàn Viễn
thông Quân đội.
10
Bảng 1: Các chỉ tiêu tài chính của Viettel năm 2013
Nguồn: Báo cáo thường niên Viettel Global năm 2013
11
Như vậy, sau 8 năm tham gia đầu tư nước ngoài Viettel đã đầu tư thành công
tại 6 quốc gia, năm 2013 doanh thu đạt trên 981 triệu USD. Lợi nhuận hợp nhất đạt
hơn 6 triệu USD. Chi phí trên một đơn vị thuê bao giảm dần từ năm 2010 đến năm
2013, tính lợi thế kinh tế nhờ quy mô này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2: Chi phí trên một đơn vị thuê bao của Viettel năm 2010-2013
2010 2011 2012 2013
Tổng chi phí (USD) 200.083.831 289.958.296 411.982.615 480.162.958
Thuê bao các loại 4.200.000 6.150.000 9.000.000 11.000.000
Chi phí trên 1 đơn
vị thuê bao (USD/1
đv thuê bao)
47,64 47,15 45,78 43,65
Nguồn: Tính toán của nhóm nghiên cứu dựa trên số liệu từ Báo cáo thường niên
2013 của Viettel Global.
Đây có thể coi là một kinh nghiệm hữu ích đối với các Tập đoàn viễn thông –
CNTT nói riêng và các Tập đoàn kinh tế của Việt Nam nói chung trong quá trình
phát triển, hội nhập, vươn tầm thế giới
- Nguồn vay dễ dàng từ các Ngân hàng, vay thương mại, các nhà cho vay
tiềm năng
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) là công ty nhà nước, có
quy mô khổng lồ, doanh thu lớn. Theo công bố của VNR 500 - Bảng xếp hạng 500
doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam công bố năm 2012, đây là doanh nghiệp lớn thứ 3
tại Việt Nam, chỉ sau Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn Xăng dầu Việt
Nam. Việc tìm kiếm nguồn tài chính từ các nhà cho vay tiềm năng để tài trợ các dự

bị gián đoạn khi gặp các sự cố thiên tai, lũ lụt, động đất… của các tuyến cáp quang
trên đất liền, giúp tăng cường hiệu quả mạng lưới viễn thông, đảm bảo an ninh quốc
phòng, phát triển kinh tế xã hội…
2.1.3. Lợi thế tiếp thị
Ví dụ điển hình về lợi thế tiếp thị trong lợi thế kinh tế nhờ quy mô của ngành
viễn thông chính là Viettel và chiến lược marketing: ‘từ trái tim đến trí não!’ Chiến
lược marketing theo chiều sâu của Viettel có tác dụng lâu dài.
4
Cách đây năm năm,
khi khởi động chương trình Internet trường học bằng cách đưa ADSL miễn phí tới
gần 30.000 trường trên cả nước, không nhiều người tin Tập đoàn Viễn thông Quân
đội (Viettel) sẽ kiên định với chương trình này. Vì, với kinh phí lên tới hơn 300 tỷ
đồng/năm, số tiền phải bỏ ra là quá lớn, mà hiệu quả đầu tư cho việc quảng bá
thương hiệu trước mắt sẽ không thể bằng được việc chi số tiền đó cho hoạt động
quảng cáo.
2
http:/ictnews.vn/vien-thong/vinasat-2-tiet-kiem-hon-30-trieu-usd-kinh-phi-dau-tu-103515.ict
3
/>4
/>13
Tuy nhiên, vào tháng 12/2010, tập đoàn này đã hoàn thành việc đưa Internet
băng rộng tới gần 30.000 trường học trên cả nước. Đây được coi là thành tích ngoạn
mục của một chương trình xã hội với ngành công nghệ thông tin và viễn thông, khi
Viettel đã đưa được Internet băng rộng đến cả những huyện, xã cực kỳ khó khăn.
Tập đoàn này cũng tiếp tục chiến lược phủ sóng di động tại tất cả các huyện nghèo
trên cả nước, trong đó có những nơi còn chưa có điện. Bản Poọng, xã Tam Chung,
huyện Mường Lát (Thanh Hóa) là một nơi điện lưới quốc gia chưa phủ tới nhưng
sóng di động của nhà mạng này đã tràn ngập ở nơi đây. Dù hơn 50% số dân vẫn
nằm trong diện hộ nghèo, nhưng điện thoại di động ở đây đã được người dân dùng
phổ biến. Ở địa phương này, nếu xét về mức độ nhận biết thương hiệu, Viettel có lẽ

Khi một công ty phát triển, sẽ có tiềm năng lớn hơn để các nhà quản lý
chuyên nghiệp hơn trong nhiệm vụ cụ thể nào đó (ví dụ như tiếp thị, quản lý nhân
sự, tài chính). Chuyên gia quản lý có thể sẽ hoạt động hiệu quả hơn khi họ có trình
độ cao về kinh nghiệm, chuyên môn và trình độ so với một người trong một công ty
nhỏ hơn đang cố gắng thực hiện tất cả những vai trò này.
Ngay từ buổi đầu bước vào thị trường viễn thông sôi động, Viettel đã chủ
động, nhạy bén “đi tắt, đón đầu”, mạnh dạn ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến
nhất của thế giới vào xây dựng hệ thống hạ tầng mạng lưới, phát triển các loại hình
dịch vụ. Đến nay, nhiều thiết bị quân sự hiện đại đã được chế tạo tại Viettel. Trong
quá trình đầu tư, Viettel dịch chuyển mô hình hoạt động theo hướng đầu tư tài
chính. Hoạt động của Viettel được chia thành các khối kinh doanh (viễn thông trong
nước, viễn thông nước ngoài, sản xuất thiết bị, bất động sản). Có thể thấy, mô hình
tổ chức hoạt động của Viettel đang dịch chuyển sang mô hình đầu tư tài chính,
trong đó, công ty mẹ nắm giữ cổ phần chi phối ở các công ty đầu mối. Việc phân
chia toàn bộ hoạt động kinh doanh theo các khối sẽ giúp đưa ra những phân tích,
đánh giá chính xác, đầy đủ, rõ ràng về hiệu quả kinh doanh của từng khối, từ đó có
15
biện pháp, quyết sách phù hợp. Chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý nói trên là tiến
bộ, giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý, đáp ứng sự phát triển của Viettel theo
xu hướng Tập đoàn quốc tế. Trong quá trình phát triển, bên cạnh việc tạo ra tiềm
lực vật chất, Viettel đặc biệt quan tâm xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân
lực, coi đó là yếu tố quyết định sự phát triển hiện tại và lâu dài; đồng thời là lực
lượng dự bị sẵn sàng bổ sung cho quân đội khi có nhu cầu.
Đến nay, Viettel đã đào tạo, bồi dưỡng được hàng ngàn cán bộ, nhân viên có
trình độ cao, đủ khả năng làm chủ và sử dụng thành thạo các trang bị tiên tiến, hiện
đại nhất của thế giới. Số nhân lực của Viettel tăng mạnh mẽ, nhất là giai đoạn 2008
trở đi
Hình 2: Nhân lực của Viettel trong giai đoạn 2000-2010
Nguồn: Viettel.com.vn
Từ năm 2010 đến 2013, Viettel đã thu hút hơn 100 nhân sự có trình độ thạc

liệu đầu tư tính riêng cho ngành viễn thông chưa được thống kê đầy đủ. Các số liệu
đầu tư cho ngành viễn thông được gộp chung với ngành vận tải và kho bãi. Theo số
liệu này, tỷ lệ đầu tư cho ngành vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc dao động từ
13% đến 16% trong tổng số vốn đầu tư cho nền kinh tế. Trong các số liệu thống kê
chính thức không tách riêng số vốn đầu tư cho ngành viễn thông hàng năm. Tuy
nhiên, theo ước tính từ thông tin tổng hợp của VNPT và Bộ Bưu chính Viễn thông,
số vốn đầu tư cho ngành viễn thông hàng năm chiếm khoảng 1/3 số vốn đầu tư cho
ngành vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc. Tức là vốn đầu tư cho viễn thông chiếm
khoảng từ 4-5% tổng số vốn đầu tư hàng năm của nền kinh tế. Nếu so với tỷ lệ đóng
17
góp doanh thu ngành viễn thông vào tổng số GDP của Việt Nam hàng năm trong
giai đoạn này vào mức từ 3,6-4,5% thì con số đầu tư như thế là hợp lý.
Bảng 3: Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành
phân theo ngành kinh tế
Đơn vị: Tỷ đồng
2005 2007 2008 2009 2010 2011 Sơ bộ
2012
Tổng số 34313
5
532093 616735 708826 830278 924495 989300
Nông nghiệp, lâm nghiệp và
thủy sản
25715 33907 39697 44309 51062 55284 51740
Khai khoáng 26780 37794 50214 59754 62520 67950 68954
Công nghiệp chế biến, chế
tạo
65892 104689 104801 120146 161904 186008 217943
Sản xuất và phân phối điện,
khí đốt, nước nóng, hơi nước
và điều hoà không khí

10767 14606 17940 21406 25157 28844 29976
Giáo dục và đào tạo 10829 15637 17837 20202 23580 27273 30767
Y tế và hoạt động trợ giúp xã
hội
5699 7399 8795 10278 12039 15255 18599
Nghệ thuật, vui chơi và giải
trí
4203 6188 8617 10632 12537 14607 16719
Hoạt động khác 39391 52730 65313 77713 74311 74791 64898
Nguồn: Tổng cục thống kê, www.gso.gov.vn
Ngoài ra, viễn thông là một trong rất ít ngành ở Việt Nam có trình độ công
nghệ theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới. Toàn bộ tổng đài trên mạng
lưới đã được số hoá từ thập niên 90 của thế kỷ XX. Cùng với xu hướng phát triển
viễn thông của thế giới, từ năm 2004 mạng viễn thông Việt Nam đã bắt đầu chuyển
sang mạng thế hệ mới NGN (Next Generation Network) và công nghệ IP đã được
áp dụng (ví dụ: điện thoại VoIP 171, 177, 178, ). Mạng di động hiện đang ở mức
độ 2,5G và đang chuyển lên 3G. Một sốmạng như S-Fone, E-Fone sử dụng công
nghệ CDMA – Công nghệ mới đang rất phổ biến ở châu Á. Mạng WiFi đã được
triển khai, mạng WiMAX đang được thử nghiệm để triển khai thực tế trong thời
gian ngắn tới đây. Vấn đề truy cập từ xa đã được cải tiến rất nhiều, chuyển từ hình
thức quay số (dial-up) qua mạng PSTN sang sử dụng mạng băng rộng xDSL. Công
nghệ truyền dẫn đa số đã chuyển sang sử dụng cáp đồng và cáp quang, chỉ còn rất ít
những vùng địa hình hiểm trở, sông nước như vùng Cà Mau, Côn Đảo, Tây
nguyên, là có sử dụng đường truyền viba ở mạng cấp 2, các vùng còn lại đã
chuyển các thiết bị viba xuống mạng cấp 3 hoặc chỉ dùng làm đường truyền dự
phòng.
19
Nhìn chung, xu hướng phát triển công nghệ viễn thông của Việt Nam sẽ theo
những xu hướng phát triển công nghệ tiên tiến trên thế giới như công nghệ chuyển
mạch chuyển sang công nghệ IP, công nghệ truyền dẫn chuyển sang quang hóa sử

Nam đến năm 2005 đã xác định bốn chương trình trọng điểm, trong đó giao cho Bộ
20
Giáo dục và Đào tạo chủ trì triển khai “Chương trình phát triển nguồn nhân lực về
công nghệ thông tin” nhằm đào tạo các chuyên gia, chuyên viên, lập trình viên chất
lượng cao ở mọi trình độ đáp ứng các yêu cầu của ứng dụng và phát triển công nghệ
thông tin.
- Chương trình kết nối internet đến 100% các trường đại học, cao đẳng trung
học chuyên nghiệp và trung học phổ thông do Bộ Bưu chính Viễn thông phối hợp
với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện.
Như vậy về mặt chủ trương, Nhà nước rất quan tâm đến việc đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ nhân lực công nghệ thông tin và viễn thông với quyết tâm đào tạo
được một lực lượng chuyên gia công nghệ thông tin có trình độ ngang bằng với các
nước trong khu vực. Đây là một tiền đề thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực
ngành viễn thông Việt Nam.
Đối với lĩnh vực đào tạo, hoạt động đào tạo trong lĩnh vực công nghệ thông
tin và truyền thông đã có những tiến bộ rất lớn. Số lượng các cơ sở đào tạo ngày
một tăng lên. Hình thức đào tạo được đa dạng hoá, đào tạo phi chính quy phát triển
mạnh. Bên cạnh hệ chính quy tập trung, hình thức đào tạo từ xa, đào tạo văn bằng
hai, các khoá học đào tạo quốc tế,… cũng phát triển mạnh mẽ. Các chương trình đã
được đẩy mạnh theo chuẩn chung của quốc tế. Bộ môn tin học đã trở thành môn học
quan trọng trong các trường phổ thông.
Thời gian gần đây, nhân lực trong ngành viễn thông đã có những bước tăng
lên đáng kể về chất lượng và đạt được những tiến bộ đáng ghi nhận. Trình độ nhân
lực trong lĩnh vực viễn thông đang ngày một tăng lên. Đội ngũ công chức quản lý
Nhà nước về viễn thông đã được trẻ hoá, có tư duy quản lý mới. Hàng chục vạn lượt
viên chức đã được đào tạo qua các lớp học cơ bản về phổ cập kiến thức công nghệ
thông tin và truyền thông và trên thực tế đã sử dụng được máy tính ở các mức độ
khác nhau phục vụ cho nhu cầu chuyên môn của mình. Ví dụ đặc biệt, Viettel đã
thu hút và thông qua thực tiễn đào tạo được hơn 4000 kỹ sư, trong đó có hơn 100
kiến trúc sư trưởng, kỹ sư đầu ngành có khả năng khai thác làm chủ công nghệ, có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status