MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN SINH HỌC CHO HỌC SINH
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thế kỷ XXI là thế kỷ của “ tri thức”, thế kỷ của “ văn minh
trí tuệ”. Tuy nhiên, để xóa dần khoảng cách về tri thức giữa
các vùng miền thì các em học sinh ở miền núi, vùng sâu
vùng xa những vùng đặc biệt khó khăn cần phải nỗ lực hơn
rất nhiều. Và tất nhiên một điều không thể thiếu đó là yếu
tố người thầy và cơ sở vật chất . Trong những năm gần đây
quán triệt quan điểm của Đảng “Giáo dục là quốc sách
hàng đầu” toàn ngành giáo dục đã có sự đổi mới toàn diện
về phương pháp giảng dạy, đổi mới chương trình sách giáo
khoa theo chuyên ban mới ở hai khối 10,11. Đổi mới
phương thức kiểm tra đánh giá theo hình thức kiểm tra trắc
nghiệm ở hai kỳ thi tốt nghiệp và đại học. Như vậy thách
thức đặt ra với thầy và trò trường các trường trung học phổ
thông (THPT) trên toàn quốc nói chung là làm thế nào để
nâng cao chất lượng học tập của các em học sinh. Làm thế
nào để các em học sinh đân tộc thiểu số tự tin vượt qua hai
kỳ thi tốt nghiệp và đại học để bước vào cổng các trường
đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, mai ngày trở
về xây dựng làng bản quê hương.
II. THỰC TRẠNG
Môn sinh học cũng như các môn khoa học khác ở trường
phổ thông giúp các em có những kiến thức nền tảng nhất về
khoa học tự nhiên. Bộ môn này nằm trong hệ thống ba bộ
môn thì đại học khối B toán - hóa - sinh, đây là tiền đề cho
thi đại học?
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP
1. Tạo hứng thú với bộ môn chuẩn bị lực lượng học sinh
tự nguyện tham gia ôn thi đại học
Có lẽ mục tiêu đầu tiên tổ bộ môn chúng tôi đặt ra: Làm thế
nào để tạo hứng thú cho học sinh với bộ môn sinh học của
mình ngay từ khi các em vào lớp 10. Về yếu tố chủ quan
chúng tôi có một đội ngũ thầy cô giáo vững vàng về kiến
thức chuyên môn, tâm huyết với nghề nghiệp, tận tâm với
các em học sinh. Bộ môn chúng tôi luôn được Đảng ủy Ban
giám hiệu nhà trường tạo điều kiện tốt nhất về bồi dưỡng
đội ngũ, nâng cao năng lực chuyên sâu, tạo điều kiện về cơ
sở vật chất và tinh thần. Đây chính là tiền đề giúp chúng tôi
thực hiện được mục đích: Xóa đi tâm lý học sinh: môn sinh
là môn phụ.
Để làm được điều đó đòi hỏi mỗi thầy cô giáo luôn chuẩn
bị kỹ lưỡng bài giảng trước khi lên lớp. Luôn gắn kiến thức
khoa học với thực tiễn cuộc sống và thực tiễn các địa
phương. Bài giảng luôn kích thích tư duy sáng tạo của các
em.
ví dụ
khi giảng bài “ Vận chuyển các chất qua màng tế bào” Một
kiến thức khó, trừu tượng vì các em không thể quan sát
thấy hiện tượng bằng mắt thường: Người giáo viên có thể
động được các em học sinh yêu thích bộ môn sinh tự
nguyện ôn thi đại học khối B.
2. Ôn tập kiến thức cho học sinh khi ôn thi đại học
Ôn thi đại học là kiến thức tổng hợp từ các kiến thức đã
được thầy cô trang bị trong sách giáo khoa, trên giờ học
chính khóa theo từng chương, từng bài. Kiến thức không
chỉ nằm trong chương trình 12 mà dàn trải cả ba năm
10,11,12 mang tính chất tổng hợp và khái quát hóa. Tuy
nhiên, đòi hỏi của đề thi đại học không chỉ đơn giản là trình
bày kiến thức theo kiểu học thuộc bài giảng của thầy cô mà
cần hiểu kiến thức sách giáo khoa đúng, phân tích được
kiến thức một cách thấu đáo, logic và có sự so sánh giữa
các phần kiến thức theo cấp độ tăng dần từ dễ => trung
bình => khó. Tuy nhiên, đòi hỏi đảm bảo đúng yêu cầu
bám sát sách giáo khoa, giảm tải kiến thức đối với học sinh,
không đánh đố học sinh, mà vẫn kiểm tra phân luồng được
học sinh dựa trên vốn hiểu biết của các em. Để giúp học
sinh dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với các đề thi đại học
chúng tôi đã cụ thể hóa các phương pháp như sau:
2.1 Tổng hợp hóa kiến thức cho học sinh
Để có thể tổng hợp được kiến thức cho học sinh thứ nhất
đòi hỏi mỗi giáo viên cần nắm bắt được chương trình cấp
hai các em đã học những kiến thức gì? Cách tiếp cận với
vốn kiến thức đó ra sao có như vậy thì mới biết cách khai
thác vốn kiến thức cũ các em đã tích lũy được làm nền tảng
tổng hợp các kiến thức mới. Thứ hai cần có cách khái quát
truyền) - lớp 11- phần biến dị tổ hợp ( Phân ly độc lập của
Men Đen, hoán vị gen và tương tác gen) và lớp 12 chương
III- biến dị gồm biến dị di truyền được (đột biến gen và đột
biến NST) và biến dị không di truyền ( thường biến và mức
phản ứng). Như vậy nếu dùng một sơ đồ giáo viên sẽ vừa
tổng hợp được các loại biến dị theo quan điểm của di
truyền học hiện đại, vừa phân biệt được từng loại biến dị,
học sinh sẽ có cách nhìn tổng thể về biến dị.
Mỗi tiểu mục nhỏ giáo viên tiếp tục gráp hóa, như vậy sẽ
cụ thể được kiến thức của tiểu mục đó: Ví dụ: ôn về đột
biến dị bội thể trong đó có khái niệm, cơ chế hình thành thể
dị bội trên NST thường và trên NST giới tính, cơ chế biểu
hiện, hậu quả… GV lại lập một sơ đồ: từ sơ đồ khai thác
kiến thức theo kiểu câu hỏi nhỏ
( Bảng 2 – Sơ đồ hóa phần đột biến dị bội thể )
Như vậy với hệ thống câu hỏi nhỏ khai thác từng góc cạnh
của từng kiến thức đã học sẽ cho học sinh một cái nhìn vừa
toàn diện vừa cụ thể mà có thể phân biệt được đâu là kiến
thức trọng tâm. Sau mỗi phần khai thác sơ đồ hóa chúng tôi
sẽ kiểm tra lại học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm.
Ví dụ ở tiểu mục đột biến dị bội thể sau khi học xong phần
khai thác kiến thức giáo viên cho các em làm bài trắc
nghiệm khoảng 10-15 câu hỏi, làm trong khoẳng 10 phút và
chữa ngay đáp án nhằm sửa chữa những sai sót khi các em
tiếp nhận kiến thức, hoặc có sự nhầm lẫn nào đó và đó cũng
là biện pháp để củng cố các kiến thức cho các em một cách
- Tương tác gen không alen : Đình luật phân ly độc lập của
Men đen.
+ Một gen trên một NST giới tính quy định một tính
trạng thì có những quy luật nào chi phối
:- Quy luật di truyền chéo ( gen trên X)
- Quy luật di truyền thẳng ( Gen trên Y)
+ Hai hay nhiều gen cùng nằm trên một NST thì chịu sự
chi phối của quy luật di truyền nào?
- Quy luật liên kết gen hoàn toàn.
- Quy luật hoán vị gen.
*Chủ đề 2: Gen trong nhân – hai hay nhiều gen cùng
quy đinh một tính trạng
- Tương tác gen theo kiểu bổ trợ.
- Tương tác gen theo kiểu át chế.
- Tương tác gen theo kiểu cộng gộp
*Chủ đề 3: Gen trong nhân - một gen quy đinh nhiều
tính trạng – tương tác gen đa hiệu.
+ Nếu một quần thể đạt trạng thái cân bằng mà biết tỷ lệ
kiểu hình trội hoặc lăn có xác định được tần số alen và cấu
trúc di truyền của quần thể không?
+ Nếu quần thể có 3 alen A, a1, a thì cấu trúc quần thể
được xác định theo công thức nào? Giả sử biết tỷ lệ kiểu
hình của quần thể đó, hãy cho biết các tính tần số tương đối
của các alen.
Giải quyết được bài toán trên tức là đã hệ thống được toàn
bộ kiến thức chương di truyền quần thể ( Minh họa bằng
bài giảng thực nghiệm)
2.2. Kiểm tra đánh giá
Sau khi người giáo viên đã giúp học sinh hệ thống tổng
quát toàn bộ các kiến thức đã học thì bước thứ hai có thể
coi là tương đối quan trọng: Kiểm tra đánh giá khả năng
nhận thức của học sinh. Tất nhiên với phương châm đổi
mới kiểm tra đánh giá của ngành giáo dục thì giáo viên cần
phải thay đổi cách kiểm tra đánh giá cho phù hợp. Tiếp cận
với phương pháp kiểm tra trắc nghiệm từ dễ đến khó . Ở
trên đã đề cập tới việc kiểm tra từng phần để củng cố kiến
thức, xong để các em làm được đề thi đại học thì cần xây
dựng đề tổng quát 40 câu với thời gian 60 phút thi tốt
nghiệp và 50 câu với thời gian 90 phút thi đại học. Giáo
viên cần cho học sinh làm thử các đề với cách thức: câu dễ,
câu đã biết làm trước vòng 1, sau đó quay lại liên hệ các
kiến thức để trả lời các câu chưa làm được. Cuối cùng là
các câu quá khó thì đánh ngẫu nhiên, cần khống chế số câu
thường tiếp cận lý thuyết cơ bản ở mức độ nhớ , lần hai
tăng mức độ khó lên mức hiểu, lần ba tăng lên mức vận
dụng. Cuối cùng mới trộn ba mức độ thành một đề hoàn
thiện như đề thi. Và sau mỗi bài kiểm tra dù là lớp ôn đại
học cũng cần chữa bài, chấm điểm và theo dõi mức độ tiến
bộ trong nhận thức của các em, thống kê các dạng câu hỏi
xem dạng câu nào các em ít làm được nhất từ đó bổ trợ chỗ
khuyết của các em.
IV. KẾT LUẬN
Để có được kết quả nhất định cho học sinh khi tham gia ôn
luyện thi vào các trường đại học, cao đẳng và trung học
trên toàn quốc thì giáo viên cần có những giải pháp hữu
hiệu kể cả về nội dung ôn tập, phương pháp ôn tập cũng
như hình thức kiểm tra. Làm sao để cả thầy và trò sau khi
ôn tập cảm thấy vững tin để bước vào phòng thi mà không
có tư tưởng học tủ , ôn tủ. Cần tạo một nền tảng kiến thức
và tâm lý bình tĩnh khi đã có trong mình vồn kiến thức khá
chắc chắn Việc ôn tập không nên tạo ra một trạng thái gò
ép mà thật sự thoái mái với vốn kiến thức được gợi mở dần
dần. Cách tiếp cận nội dung làm sao để học sinh không cảm
thấy nhàm chán bởi đang ôn lại kiến thức đã học. Thực
hiện được những phàn việc quan trọng như vậy chính là
giáo viên đã tạo ra cho học sinh động cơ và mục đích học
tập đúng đắn, từ đó nhằm xây dựng một nền tảng kiến thức,
tâm lý bình tĩnh. Chuẩn bị kiến thức và chuẩn bị phương
pháp làm bài thi, đó là những gì mà chúng tôi đã chuẩn bị
cho học sinh của mình