Tiểu luận tài chính quốc tế Tương lai của đồng Euro - Pdf 18

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM

ĐỀ TÀI
TƯƠNG LAI CỦA ĐỒNG EURO.
GVHD: PGS TS Trương Quang Thông
Nhóm thực hiện: Nhóm 5
Lớp: Ngân hàng Đêm 2 – Khóa 22.
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2014
Tương lai của đồng EURO.
2
Danh sách nhóm 5
1. Trần Thị Duyên
2. Trần Quốc Huy
3. Đỗ Bá Linh
4. Phạm Văn Linh
5. Văn Tấn Ngọc
6. Nguyễn Văn Phương
7. Lê Trung Quốc
8. Đặng Thị Phương Trang
Tương lai của đồng EURO.
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
LỜI NÓI ĐẦU 4
I.TỔNG QUAN VỀ LIÊN MINH TIỀN TỆ CHÂU ÂU VÀ TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH ĐỒNG
EURO 5
1.Khái quát lịch sử hình thành liên minh Châu Âu 5
2.Liên minh tiền tệ Châu Âu 10
3.Quá trình hình thành đồng tiền chung Châu Âu – Đồng Euro 13
II.VAI TRÒ CỦA ĐỒNG EURO 14
1.Đối với các quốc gia thành viên 14

I. TỔNG QUAN VỀ LIÊN MINH TIỀN TỆ CHÂU ÂU VÀ TIẾN TRÌNH HÌNH
THÀNH ĐỒNG EURO
1. Khái quát lịch sử hình thành liên minh Châu Âu
1.1. Giới thiệu chung về liên minh Châu Âu:
Liên minh châu Âu gồm28 nước có chủ quyền đã gia nhập Liên minh châu Âu (EU) từ
khi Liên minh này bắt đầu trên thực tế từ năm 1951 dưới tên Cộng đồng Than Thép châu Âu
(ECSC).
Trước khi được phép gia nhập Liên minh châu Âu, một nước phải hoàn tất các điều
kiện chính trị và kinh tế, thường được gọi là các tiêu chuẩn Copenhagen. Các yêu cầu cơ bản
này mà một nước ứng viên phải có là một chế độ dân chủ thế tục, cùng với các quyền tự do
và thể chế tương ứng, cũng như tôn trọng luật pháp. Trong điều kiện của Hiệp ước
Maastricht, việc mở rộng Liên minh phụ thuộc vào sự đồng ý của mỗi quốc gia hội viên
cũng như được Nghị viện châu Âu chấp thuận
Tôn chỉ: Đoàn kết trong đa dạng (Unity in diversity)
Trụ sở: Brussels (Bỉ)
Số ngôn ngữ chính thức: 23
Ngày châu Âu; Ngày 9 tháng 5
Diện tích: 4.422.773 km² (nước có diện tích lớn nhất là Pháp
với 554.000 km
2
và nhỏ nhất là Malta với 300 km
2
);
Dân số:Khoảng 500 triệu người, chiếm 7,3% toàn thế giới
(thành viên có dân số lớn nhất là Đức với 82 triệu,
ít nhất là Malta với 0,4 triệu).
GDP (EU 27): 17,57 nghìn tỷ USD

các Nghị sĩ của Nghị viện EU được bầu cử trực tiếp, nhiệm kỳ 5 năm. Lần bầu cử mới đây
vào tháng 6/2009. Trong Nghị viện các Nghị sĩ phân chia theo nhóm chính trị khác nhau mà
không theo Quốc tịch.
• Ủy ban châu Âu (European Commission - EC)
Ủy ban châu Âu là cơ quan hành pháp của khối. EC hoạt động độc lập, có chức năng
xây dựng, kiến nghị các đạo luật của EU, thực thi, áp dụng và giám sát việc triển khai các
hiệp ước và điều luật của EU, sử dụng ngân sách chung để thực hiện các chính sách chung
của cả khối theo quy định.
Chủ tịch Ủy ban do chính phủ các nước thành viên nhất trí đề cử. EC có 26 ủy viên và
01 Chủ tịch từ 27 nước thành viên, các ủy viên được bổ nhiệm trên cơ sở thỏa thuận giữa các
nước thành viên và được Nghị viện phê chuẩn, nhiệm kỳ 5 năm
1.2. Nguyên nhân hình thành liên minh Châu Âu
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hai nước Liên Xô và Mĩ mạnh lên nhanh chống, trở
thành hai cực của thế giới khống chế toàn cầu, châu Âu bị đảy xuống hàng phụ thuộc, Đông
Âu chịu ảnh hưởng của Liên Xô, còn Tây Âu chiệu ảnh hưởng của Mĩ.
Trong khi Mĩ và Liên Xô ngày càng lớn mạnh nhanh chống, thì Tây Âu tuột hậu sau
chiến tranh, bị suy yếu toàn diện và đã thực sự mất vai trò trung tâm của thế giới cả về kinh
tế, chính trị và quân sự. chính trong bối cảnh so sánh lực lượng như vậy, Tây Âu không có
con dường nào khác là phải dựa vào Mĩ, chấp nhận sự chỉ huy và những áp đặt của Mĩ trong
tất cả mọi lỉnh vực kinh tế, chính trị cũng như quân sự đó chính là nguyên nhân quan trọng
khiến các nước Tây Âu tập hợp lại.
Thứ hai là các nước tư bản Tây Âu muốn liên kết với nhau thành một liên minh châu
Âu nhằm chống lại hệ thống xã hội chủ nghĩa, chống phong trào cách mạng vô sản đang
phát triển mạnh ở Tây Âu và chống phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.
Thứ ba về mặt kinh tế đây là sự liên kết có tính chất quốc tế của tư bản tài chính
7
Tương lai của đồng EURO.
nhiều nước, thành lập các cacten quốc tế kiểu mới, nhằm giải quyết hiện tượng sản xuất vô
chính phủ trong phạm vi quốc tế và nhằm điều hòa mâu thuẫn giữa các lực lượng sản xuất
(tiến bộ khoa học - kĩ thuật đòi hỏi có những đơn vị sản xuất lớn, vốn lớn và thị trường

1951 Hiệp ước Paris thành lập Cộng đồng Than Thép C hâu Âu (ECSC), tổ chức
tiền thân của EU, với 6 thành viên sáng lập là Pháp, Đức (Tây Đức), I-ta-li-a,
Bỉ, Hà Lan và Lúc-xăm-bua.
1957 Hiệp ước Rô-ma thành lập Cộng đồng Năng lượng nguyên tử C hâu Âu
(Euratom) và Cộng đồng Kinh tế C hâu Âu (EEC). EEC hướng tới thiết lập thị
trường chung, liên minh thuế quan (hoàn thành năm 1968) với sự di chuyển tự
do của vốn và lao động.
1967 Hiệp ước Hợp nhất 3 cộng đồng nói trên (ECSC, Euratom và EEC), gọi chung
là Cộng đồng Châu Âu (European Communities – EC)
1973 Kết nạp Đan Mạch, Ai-len và Anh
1981 Kết nạp Hy Lạp
1986 Kết nạp Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
1987 Đạo luật Thị trường Thống nhất châu Âu (Single European Act) sửa đổi Hiệp
ước Rô-ma (1957) nhằm hòan thiện việc thiết lập thị trường chung châu Âu.
1993 Hiệp ước Maastricht (còn gọi là Hiệp ước thành lập Liên minh Châu Âu),
đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa Châu Âu.
1995 Hiệp ước Schengen (về tự do di chuyển) có hiệu lực
1995 Kết nạp Áo, Phần Lan và Thuỵ Điển.
1997 Hiệp ước Amsterdam sửa đổi và bổ sung Hiệp ước Maastricht, chuẩn bị cho
việc mở rộng EU về phía Đông.
2001 Hiệp ước Nice tập trung vào vấn đề cải cách thể chế để tiếp nhận các thành
viên mới, đồng thời tăng cường vai trò của Nghị viện Châu Âu.
2002 Đồng Euro chính thức được lưu hành tại 12 nước thành viên EU.
2004 Kết nạp thêm 10 thành viên mới là Síp, Séc, Xlô-ve-ni-a, Hung-ga-ry, Lát-via,
Li-thu-nia, Man-ta, Ba Lan, Xlô-va-ki-a và Estonia.
2007 Kết nạp Bungari và Rumani.
2009 Hiệp ước Lisbon, tên gọi đầy đủ là Hiệp ước sửa đổi Hiệp ước Liên minh
Châu Âu và Hiệp ước thành lập Cộng đồng Châu Âu.
2013 Kết nạp Croatia
Hiệp ước Lisbon (2009) sửa đổi nội dung của 2 hiệp định chủ chốt quy định bản chất,

10
Tương lai của đồng EURO.
những mục đích như ổn định giá cả, có việc làm đầy đủ và sự cân bằng trong cán cân
thanh toán, tức là phải đạt được sự cân đối bên trong và bên ngoài.
Điều quan trọng nhất là đồng tiền của EEC phải dựa trên c
ơ sở của mọi đồng tiền
ở các nước thành viên và phải tính đến sự thay đổi tỷ giá các loại tiền chứ không phải
đến sức mua của đồng tiền mạnh nhất. Nhưng trước hết, đó phải là một đơn vị tiền tệ
đang lưu thông đồng thời với các đơn vị tiền tệ Châu Âu khác; được phép có những thay đổi
đồng giá và dao động của tỷ giá tiền tệ. Khi
các quy chế về tiền tệ tài chính đã thống nhất và có sự phối hợp của chính sách tiền tệ thì các
giao động của tỷ giá tiền tệ sẽ bị xóa bỏ. Lúc đó, một Liên minh
kinh tế và tiền tệ cũng được thành lập, đồng thời tiền của các nước cũng sẽ bị huỷ bỏ và thay
vào đó là một đồng tiền thống nhất. Thực chất của quan điểm này là sự
biểu hiện cách tiếp cận thiết chế đối với vấn đề thống nhất tiền tệ. Cách tiếp cận
này chú trọng đến việc tăng cường các biện pháp điều tiết liên quốc gia và siêu quốc gia
trong lĩnh vực tiền tệ, đến sự phối hợp chính sách kinh tế của các nước thành viên, hạn chế
chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực tiền tệ và thiết lập các thiết chế siêu quốc gia.
2.2 Lịch sử hình thành liên minh tiền tệ Châu Âu
Trong văn bản Hiệp ước Ro6ma và Định ước Châu Âu duy nhất đã ghi nhận thị trường
nội địa Châu Âu, nhưng cho tới Hiệp ước về Liên minh Châu Âu ở Maastricht, Liên minh
Kinh tế và Tiền tệ Châu Âu mới được chính thức ghi nhận. Mục tiêu của Liên minh Kinh tế
và Tiền tệ Châu Âu là thống nhất Châu Âu trong lĩnh vực tiền tệ. Đây là một quá trình lâu
dài với nhiều thành công và thất bại.
Vào thời điểm thành lập cộng đồng Châu Âu, nay gọi là Liên Minh Châu Âu, ít có
chính khách Châu Âu nào để ý đến việc thành lập một khu vực tiền tệ riêng của Châu Âu.
Bởi vì lúc đó tiền tệ nói chung được điều chỉnh bằng những tỷ giá nhất định trong hệ thống
tiền tệ Bretton Woods mà hệ thống này lại đang vận hành khá tốt. Hiệp ước Ro6ma chỉ có
một vài điều khoản liên quan đến việc hợp tác các chính sách tiền tệ, các chính sách hối đoái
và thành lập một ủy ban tiền tệ để đưa ra các ý kiến về lĩnh vực này. Kết quả là sự phụ thuộc

12
Tương lai của đồng EURO.
được giao nhiệm vụ đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm thực hiện thống nhất tiền tệ Châu
Âu.
3. Quá trình hình thành đồng tiền chung Châu Âu – Đồng Euro
Sự có mặt trong lưu thông của mỗi đồng tiền bao giờ cũng là một hiện tượng xã hội, là
kết quả của ý chí pháp lý của mỗi thể chế chính trị cụ thể, được cộng đồng chấp nhận. Đồng
tiền đó trở thành đại diện tiền tệ cho một nền kinh tế cụ thể, vận hành theo một cơ chế nhất
định. Đối với đồng EURO cũng vậy. Việc cho ra đời và vận hành đồng EURO xuất phát từ
một ý tưởng nghiêm túc với quyết tâm cao của các nhà lãnh đạo Châu Âu ngay từ những
ngày đầu mới thành lập Cộng đồng Châu Âu cho đến nay.
EURO ra đời theo một lịch trình được thiết kế hợp lý, thận trọng, thích hợp với sự vận
động của thực tế. Có thể nói, EURO là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài và tuần tự,
khởi đầu bằng việc sáng lập đơn vị tiền tệ chung của Cộng đồng trên cơ sở tập hợp các đồng
tiền quốc gia thành viên, thường gọi là "rổ" tiền tệ (ECU - 1975), tiếp theo là thành lập và
vận hành Hệ thống tiền tệ Châu Âu (EMS - 1979), rồi đến quá trình triển khai Liên minh
kinh tế và Tiền tệ theo ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Bắt đầu từ 1-7-1990 và kết thúc vào 31-12-1993. Nội dung chủ yếu của
giai đoạn này là tăng cường phối hợp chính sách tiền tệ quốc gia và rút ngắn sự cách
biệt giữa các nền kinh tế của các nước thành viên. Theo lịch trình của giai đoạn này,
từ 1-7-1990, tư bản được tự do lưu thông trong các nước thành viên EU, từ 1-1-1993,
thị trường nội địa bắt đầu vận hành.
Giai đoạn 2 : Được coi là giai đoạn chuyển tiếp và bắt đầu từ 1-1-1994 đến 31-12-
1998. Theo lịch trình của giai đoạn này, để chuẩn bị cho sự ra đời của Ngân hàng
trung ương châu Âu ở giai đoạn cuối cùng, một Viện tiền tệ châu Âu đã được thành
lập và chính sách tiền tệ vẫn chủ yếu thuộc thẩm quyền của các quốc gia.
Giai đoạn 3 : Từ 1-1-1999 bắt đầu đưa đồng EURO vào lưu hành. Giai đoạn đầu từ
1-1-1999 đến 1-1-2002 đồng EURO chỉ lưu hành không bằng tiền mặt. Từ 1-1-2002
đến tháng 7-2002 bắt đầu lưu hành đồng EURO (1) bằng tiền giấy và tiền kim loại
song song với các đồng tiền bản địa, và từ tháng 7-2002 các đồng tiền bản địa không

Tương lai của đồng EURO.
Cuộc khủng hoảng hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS) năm 1992 là một ví dụ. Để thu hút
ngoại tệ trang trải cho những tốn kém trong việc khôi phục lại nền kinh tế bị phá sản của
Đông Đức, nước Đức đã áp dụng chính sách giữ lãi suất rất cao làm cho các nhà tư bản quốc
tế bị lợi nhuận quyến rũ đã đổ tiền vào Đức; trong khi đó, với mục tiêu chống lạm phát,
Pháp muốn duy trì lãi suất thấp vừa phải. Nhưng do tất cả các đồng tiền trong EMS vốn liên
quan mật thiết với nhau nên Pháp không thể đơn phương hạ lãi suất mà không làm cho đồng
phrăng Pháp (FF) hạ giá so với đồng mác Đức (DM). Giới đầu cơ tính toán rằng đã đến lúc
đồng FF sẽ phải phá giá và họ đã tập trung vào tấn công đồng FF. Hậu quả là đồng FF bị phá
giá và làm cho cả EMS bị lung lay. Cuộc khủng hoảng hệ thống tiền tệ châu Âu (EMS) vào
năm 1992-1993 đã làm cho hệ thống tiền tệ châu Âu cũng như nền kinh tế các nước thành
viên bị chao đảo và chịu nhiều thiệt hại. Sự bất ổn định của tiền tệ châu Âu đã làm cho các
nước thành viên EU bị mất 1,5 triệu việc làm trong năm 1995.
Việc ra đời của đồng EURO với ngân hàng trung ương độc lập - Ngân hàng Trung
ương châu Âu (ECB) - thay thế các ngân hàng trung ương các nước thành viên, với mục tiêu
thực hiện một chính sách tiền tệ theo hướng giữ ổn định sẽ tạo cơ sở cho kinh tế phát triển
không còn lạm phát, đem lại những điều kiện thuận lợi cho việc hoạch định một chính sách
tài chính vĩ mô cho liên minh, là một bảo đảm giữ cho nền kinh tế ở khu vực này ổn định và
phát triển hơn trước. Trước mắt, người tiêu dùng và các doanh nghiệp ở mỗi nước thành
viên sẽ bớt được một khoản chi phí chuyển đổi ngoại tệ trong giao dịch quốc tế mà các nhà
kinh tế cho rằng việc này sẽ tiết kiệm được một khoản tiền 100 tỷ mác hoặc không dưới 1%
GDP của các nước thành viên. Hơn nữa, khi đồng EURO được lưu hành trên thị trường, mọi
hàng hoá bày bán trong các nước thành viên đều được niêm yết giá bằng đồng EURO nên sẽ
làm giảm sự chênh lệch giá hay phiền phức về tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền quốc gia.
Do buôn bán trong các nước EU chiếm đến 60% ngoại thương của cả khối, nên việc sử
dụng một đồng tiền chung sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh trao đổi ngoại thương giữa các nước
EU và ít bị ảnh hưởng xấu do sự giao động tỷ giá của đồng USD vì sẽ không còn tình trạng
đồng tiền này mất giá so với USD trong khi đồng tiền khác lại lên giá.
Tuy nhiên, việc ra đời Liên minh kinh tế tiền tệ châu Âu (EMU) và duy trì đồng tiền
15

Tương lai của đồng EURO.
càng bị suy giảm mạnh.
• Sự thách thức của đồng EURO đối với đồng USD thể hiện trên các lĩnh vực dự
trữ ngoại tệ, trao đổi ngoại thương và giá trị cổ phiếu trên các thị trường chứng
khoán.
Về dự trữ ngoại tệ : Khi EURO ra đời, ngoại thương của các nước tham gia sẽ trở
thành nội thương, nợ giữa các nước thành viên sẽ trở thành nợ bên trong, vì vậy nhu cầu về
dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Trung ương châu Âu sẽ giảm mạnh. Do đó, nhiều khả năng
Ngân hàng Trung ương châu Âu sẽ bán đi một số lượng lớn USD. Mặt khác khi đồng EURO
trở thành đồng tiền chung của một khối kinh tế mạnh thì nhiều nước trên thế giới (nhất là
Nhật do hầu hết dự trữ ngoại tệ là USD) sẽ giảm bớt một phần dự trữ bằng đồng USD để
mua thêm đồng EURO (mức độ ít nhiều còn tuỳ thuộc vào khả năng ổn định của đồng
EURO). Đây có thể là một nhân tố gây tác động làm giảm giá đồng đô la Mỹ. Thêm vào đó
nhu cầu dự trữ về vàng cũng sẽ giảm vì trước đây các nước chủ yếu dự trữ bằng vàng và
USD, nay lại có thêm một đồng tiền mạnh và ổn định có thể được sử dụng để dự trữ, do vậy
trong tương lai vàng sẽ bị bán ra nhiều nên giá vàng cũng sẽ bị giảm. Đây là điều mà chúng
ta phải tính đến trong cơ cấu dự trữ của ta sau này.
Về ngoại thương, trao đổi trong nội bộ khối trước đây (chiếm khoảng 60% xuất khẩu)
dùng nhiều USD (ngay cả những nước như Pháp và Hà Lan vốn rất gắn chặt với đồng mác
Đức cũng có xu hướng thanh toán với nhau bằng USD hơn là bằng mác Đức) nay chuyển
sang thanh toán bằng đồng EURO sẽ làm cho kim ngạch thanh toán bằng đồng đô la Mỹ bị
giảm sút đáng kể. Hiện nay trong tổng kim ngạch xuất khẩu của EU thì phần tính bằng USD
chiếm 48%, bằng tiền của các nước EU chiếm 33%. Xét tổng thể, nền kinh tế các nước EU
gần tương đương Mỹ, nhưng tổng giá trị ngoại thương lại vượt hẳn Mỹ. Theo các nhà phân
tích kinh tế, sau khi ra đời, đồng EURO có thể chiếm khoảng 35-40% các khoản giao dịch
và buôn bán quốc tế. Trong buôn bán với Mỹ, các nước EU cũng sẽ buộc Mỹ phải sử dụng
đồng EURO, nên Mỹ cũng sẽ phải dự trữ cả EURO. Đối với thương mại thế giới khi đồng
EURO ra đời và được thừa nhận là đồng tiền mạnh và ổn định thì sẽ có xu hướng các nước
cũng sẽ sử dụng EURO thay thế USD trong thanh toán một số giao dịch ngoại thương với
17

Tương lai của đồng EURO.
châu Âu giữa Mỹ và Liên minh Châu Âu sẽ trở nên quyết liệt hơn.
- Sau khi EURO ra đời, do những thuận lợi của thị trường thống nhất có trình độ phát
triển cao và ổn định, khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài của các nước EU
sẽ mạnh hơn trên các mặt hàng công nghệ cao và đòi hỏi vốn lớn. Do đó có thể thấy trước
được là một phần vốn đầu tư của thế giới sẽ dồn vào các nước EU sau khi đồng EURO ra
đời. Trong mấy năm qua, các công ty lớn của Mỹ và Nhật đã có những biện pháp và chuẩn
bị cho sự kiện này và họ đã ít nhiều thiết lập được chỗ đứng của mình thông qua các đối tác
nội địa để tận dụng được lợi thế của việc sản xuất tại chỗ đáp ứng nhu cầu của khách hàng
và tránh được thuế nhập khẩu khi liên minh hình thành.
- Một trong những vấn đề đặt ra cho các nước bạn hàng và con nợ của các nước thành
viên EMU là tỷ lệ chuyển đổi giữa đồng tiền quốc gia nước chủ nợ với đồng EURO. Tuy
đồng ECU đã tồn tại trong thanh toán quốc tế được một thời gian và quy định chuyển đổi
ngang bằng với đồng EURO làm dễ dàng phần nào những giao dịch thương mại mới, nhưng
những khoản nợ từ viện trợ, đầu tư bằng đồng tiền quốc gia cần có hướng giải quyết thoả
đáng. Vì tuy rằng tỷ giá chuyển đổi đồng tiền quốc gia sang đồng EURO là cố định, nhưng
lãi suất sẽ có sự khác nhau giữa các nước tham gia EMU. Cho nên điều quan trọng là các
nước nợ phải có những trao đổi và thương lượng để đi đến thống nhất một tỷ lệ lãi suất thích
hợp sao cho số nợ không bị gia tăng do việc ra đời của đồng EURO.
III. PHÂN TÍCH CÁC ÁP LỰC ĐỐI VỚI ĐỒNG EURO
1. Vấn đề mở rộng EU
Tính đến nay, Liên minh châu Âu (the European Union, gọi tắt là EU) hiện bao gồm 28
nước thành viên: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc-xăm-bua, Anh, Ai Len, Đan Mạch, Hy
Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thuỵ Điển, Phần Lan, Séc, Hung-ga-ri, Ba Lan, Slô-
va-kia, Slô-ve-nia, Lít-va, Lát-vi-a, Exờ-tô-nia, Man-ta, Síp, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni và Croatia.
Từ khi được hình thành và phát triển cho đến nay, EU không ngừng mở rộng, kết nạp các
thành viên mới. Việc mở rộng gây ra một số áp lực đối với đồng Euro:
- Để kết nạp các nước thành viên mới thì EU cần phải có một khoản tài chính không
phải là nhỏ để giúp các nước này về mặt kỹ thuật và cơ cấu. Chính việc này đã góp
phần dẫn đến tình trạng nợ công khó kiểm soát và ảnh hưởng không nhỏ đến đồng

Nhưng yếu tố thực sự gây ra cuộc khủng hoảng ở châu Âu không phải là nợ công mà là
những khoản nợ nước ngoài khổng lồ ngày càng gia tăng, cộng thêm chiến dịch tấn công
làm suy yếu đồng euro trên các thị trường quốc tế.
Vậy thực chất nợ công là gì? Theo Jimmy Group, nợ công là tổng giá trị các khoản tiền
mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các
khoản thâm hụt ngân sách. Do đó, nợ công, nói cách khác, là thâm hụt ngân sách luỹ kế tính
đến một thời điểm nào đó.
20
Tương lai của đồng EURO.
Để tính toán quy mô của nợ công, các chuyên gia kinh tế thường tính khoản nợ dựa
trên phần trăm so với GDP. Nợ công thường được phân thành nợ trong nước và nợ nước
ngoài. Việc đi vay của chính phủ có thể được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính
phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân.
Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì
chính phủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn.
So với trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ, trái phiếu chính phủ phát hành bằng
ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín dụng cao hơn vì chính phủ có
thể không có đủ ngoại tệ để thanh toán, thêm vào đó còn có thể xảy ra rủi ro về tỷ giá hối
đoái.
Ngoài ra, chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể
chế tài chính quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) hay Ngân hàng thế giới (WB). Nhưng
hình thức vay này thường được chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng
vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao.
Và khi nợ công tăng cao, vượt quá xa giới hạn được coi là an toàn, nền kinh tế rất dễ bị tổn
thương và chịu nhiều sức ép cả bên trong và bên ngoài.
Cụ thể, chính phủ các nước thường buộc phải tăng thuế để trả lãi nợ vay và nếu nợ
nước ngoài lớn thì lại phải tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và giảm chi tiêu công
– điều kiện tiên quyết để nhận được các gói cứu trợ.
Vì vậy, khi xét đến nợ công, điều cốt lõi không chỉ cần quan tâm tới tổng nợ, nợ hằng
năm phải trả mà phải quan tâm đến rủi ro và cơ cấu nợ. Nghĩa là phải tính đến khả năng trả

Bên cạnh những nguyên nhân được cho là xuất phát từ bên trong EU, các nhà phân tích
kinh tế cũng nhắc nhiều đến yếu tố tác động từ bên ngoài dưới tên gọi “chiến dịch tấn công
làm suy yếu đồng euro”.
Tháng 2/2010, tức là chỉ một vài tháng sau khi Hy Lạp nổi lên là quốc gia đầu tiên ở
châu Âu có nguy cơ bị phá sản, Bộ trưởng Giao thông và Việc làm Tây Ban Nha Jose
Blanco Lopez đã cảnh báo rằng có một chiến dịch tấn công đồng euro trên các thị trường thế
giới mà mục tiêu nhằm vào Tây Ban Nha.
Khi đó, một số nhà kinh tế học cũng đồng tình với quan điểm này và cho rằng Anh và
Mỹ đã tạo ra chiến dịch này để hạ bệ đồng euro đúng vào lúc đồng tiền này đang giữ thế
thượng phong so với đồng USD trên thị trường quốc tế.
Còn đối với đồng bảng Anh, euro đã “bóp chết” đồng tiền này ở các nước châu Âu. Dù
đây chỉ là một giả thuyết trong vô vàn giả thuyết khác nhau về cuộc khủng hoảng nợ công ở
châu Âu song nếu suy xét cặn kẽ, người ta cũng thấy nó không phải là không có lý.
Bởi lẽ, ngay sau khi Hy Lạp xin giải cứu, đồng euro đã trượt dài theo dốc đi xuống trên
thị trường và đồng USD nhanh chóng lấy lại vị trí độc tôn của mình. Còn đồng bảng Anh thì
trở thành hình mẫu, có nghĩa là nhiều quốc gia muốn được trở lại như Anh, có đồng tiền
riêng để khỏi phụ thuộc vào đồng euro và tránh nguy cơ bị kéo vào hiệu ứng domino của
cuộc khủng hoảng nợ công.
Từ đây, Anh cũng bắt đầu có những động thái tiếp theo, đe dọa tính bền vững của khu
vực Eurozone khi giới chức nước này liên tục tuyên bố xem xét việc rút xứ sở sương mù ra
khỏi EU.
22
Tương lai của đồng EURO.
Chưa hết, thời điểm khủng hoảng của Eurozone, nhất là khi các nền kinh tế bị hạ bậc
tín nhiệm theo báo cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia
khác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay cũng chính là cơ hội cho các hoạt
động đầu cơ tài chính của giới tài phiệt.
Do đó, mớ bùng nhùng của tài chính châu Âu lại càng trở nên rối ren, khiến các quốc
gia liên tục rơi vào vòng xoáy của tình trạng thâm hụt ngân sách, buộc phải tăng thuế, thắt
chặt chi tiêu để rồi lại rơi sâu vào suy thoái…

và phát triển hay đồng tiền chung Châu Âu bị tan vỡ…?
Tỷ giá USD/EUR từ tháng 7/2009 đến tháng 7/2010
Nguồn: RatesFX
Nhận định về xu hướng này cho rằng các nước trong khu vực không dễ dàng để Euro
chết yểu, Euro vẫn tồn tại, nhưng sẽ bị giảm giá trong trung hạn. Nhận định này được xuất
phát từ ba lý do sau:
Một là, cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước Eurozone cùng với các kế hoạch cắt
giảm chi tiêu, cứu trợ kinh tế tiếp tục là mối đe dọa nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế
của eurozone. Việc cứu trợ Hy Lạp có thể sẽ phải kéo dài, thậm chí có thể phải cơ cấu lại nợ.
Kế hoạch cứu trợ kinh tế của các nước tiếp theo như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,… sẽ tác
động xấu đến tăng trưởng kinh tế của khu vực Euro.
24
Tương lai của đồng EURO.
Vì thế, Châu Âu khó tránh khỏi cuộc suy thoái kinh tế vào năm 2011 và tình trạng trì
trệ vào những năm tiếp theo. Như vậy, tăng trưởng kinh tế của khu vực này sẽ chậm hơn các
nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nền kinh tế phát triển khác, trong khi lượng
tiền không nhỏ đưa ra để cứu trợ, sẽ đẩy nhanh đà mất giá của Euro.
Hai là, Sự suy giảm niềm tin của giới đầu tư và người tiêu dùng sẽ tiếp tục đặt áp lực
giảm giá Euro. Niềm tin đối với triển vọng kinh tế của 16 quốc gia khu vực sử dụng Euro đã
sụt giảm trong quí 2 và 3 năm 2010. Theo số liệu của IMF, chỉ số niềm tin của giới chủ
doanh nghiệp và người tiêu dùng tại Eurozone đã giảm từ mức 100,6 điểm trong tháng 4
xuống 94,5 điểm trong tháng 6, trong đó, tại Hy Lạp giảm từ mức 69,1 điểm xuống còn 51,9
điểm, tại Bồ Đào Nha giảm từ 93,8 điểm xuống còn 87,1 điểm. Xu hướng giảm giá Euro
càng thể hiện rõ khi Liên minh Châu Âu và IMF phải đưa ra quyết định về việc thành lập
Quỹ cứu trợ khẩn cấp trị giá 1.000 tỷ USD, nhằm ngăn ngừa sự sụt giảm liên tục của Euro
hiện tại và trong tương lai.
Ba là, Khi các gói cứu trợ nhằm giúp các nước trong Eurozone thoát khởi cuộc khủng
hoảng nợ, phục hồi tăng trưởng kinh tế, thì việc Euro suy yếu cũng tạo cơ hội để khu vực
này phát triển. Bởi khi Euro mất giá, hàng hóa nhập khẩu vào Châu Âu trở nên đắt hơn, sẽ
giúp giảm thâm hụt thương mại, đồng thời tăng cường xuất khẩu, cải thiện sức cạnh tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status