Đề thi đường lối cách mạng Đảng - Pdf 18

Kiểm tra TX
Học phần: ĐLCMĐCSVN
Điểm Lời phê của cô
Đề: Làm rõ nội dung chủ trương đòi quyền dân chủ, dân sinh.
Bài làm
 Lí do xuất hiện chủ trương đòi quyền dân chủ dân sinh:
- Tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến mạnh mẽ:
• Tình hình thế giới:
+ Cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 1929-1933 ở các nước thuộc hệ thống tư bản chủ
nghĩa đã khiến cho mâu thuẫn nội tại của CNTB ngày càng gay gắt, đồng thời làm cho phong trào
cách mạng của quần chúng dâng cao.
+ Chủ nghĩa Phát xít đã xuất hiện và thắng thế ở một số nơi: phát xít Hitle ở Đức, phát xít
Phrangco ở Tây Ban Nha, phát xít Mutxolini ở Italia và phái Sĩ quan trẻ ở Nhật. Chế độ độc tài
phát xít là nền chuyên chính của những thế lực phản động nhất, tàn bạo nhất, dã man nhất. Chúng
tiến hành chiến tranh xâm lược, bành trướng và nô dịch các nước khác. Nguy cơ chủ nghĩa phát
xít và chiến tranh thế giới đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình và an ninh quốc tế.
+ Ở Pháp, mặt trân bình dân lên nắm chính quyền do Đảng Xã Hội và Đảng Cộng sản
thành lập đã có những chính sách thân thiện hơn với giai cấp công nhân và nông dân.
+ Đại hội VII Quốc tế Cộng sản họp tại Matxcova vào tháng 7-1935 do Dimitorop chủ trì
đã diễn ra. Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu đã tham dự
đại hội. Nội dung đại hội :
 Xác định lại kẻ thù nguy hiểm trước mắt của giai cấp vô sản và nhân dân lao động
thế giới lúc này chưa phải là chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là chủ nghĩa Phát xít.
 Xác định nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân và nhân dân lao động thế giới
lúc này chưa phải là đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản, mà là đấu tranh chống chủ nghĩa Phát xít,
chống chiến tranh, bảo vệ dân chủ và hòa bình.
 Để thực hiện được nhiệm vụ cấp bách này, các đảng cộng sản và nhân dân các nước
trên thế giới cần thiết phải thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi chống phátxít và chiến tranh, đòi
tự do, dân chủ, hòa bình và cải thiện đời sống.
• Tình hình trong nước:
+ Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã tác động sâu sắc tới mọi giai cấp, tầng lớp

• Về đoàn kết quốc tế: Để tập trung, cô lập và chĩa mũi nhọn đấu tranh vào bọn phản động
thuộc địa và tay sai của chúng ở Đông Dương, đòi các quyền tự do, dân chủ, dân sinh thì không
những phải đoàn kết chặt chẽ với giai cấp công nhân và Đảng cộng sản Pháp “ủng hộ Mặt trận
nhân dân Pháp”, mà còn đề ra khẩu hiệu “ủng hộ chính phủ mặt trận nhân dân Pháp” để cùng nhau
chống lại kẻ thù chung là bọn phát xít ở Pháp và bọn phản động thuộc địa ở Đông Dương.
• Về hình thức tổ chức và phản biện đấu tranh: Phải chuyển hình thức tổ chức bí mật không
hợp pháp sang các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai và nửa công khai, hợp pháp và nửa
hợp pháp, nhằm làm cho Đảng mở rộng sự quan hệ với quần chúng, giáo dục, tổ chức và lãnh đao
quần chúng đấu tranh bằng các hình thức và khẩu hiệu thích hợp. Trong khi tranh thủ mở rộng các
hình thức tổ chức đấu tranh công khai hợp pháp thì tránh sa vào chủ nghĩa công khai, mà phải giữ
vững nguyên tắc củng cố và tăng cường tổ chức và hoạt động bí mật của Đảng, giữ vững mối quan
hệ giữa bí mật và công khai, hợp pháp và không hợp pháp và phải bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức
đảng bí mật đối với những tổ chức và hoạt động công khai, hợp pháp.
- Giữa năm 1936, được tin Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp cử một phái đoàn sang điều tra
tình hình thuộc địa Đông Dương, Đảng đã phát động một phong trào đấu tranh công khai:
Mở đầu là cuộc vận động lập Ủy Ban trù bị Đông Dương Đại hội, nhằm thu thập nguyện
vọng của quần chúng để đưa lên Chính phủ Pháp.
Quần chúng khắp nơi đã sôi nổi tổ chức hội họp diễn thuyết, lấy chữ kí và đưa ra các yêu
sách; Đòi Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp trả lại tự do cho tù chính trị, đòi thực hiện
ngày làm 8 giờ, trả lương các ngày nghỉ Nhưng sau đó phái đoàn này không sang.
- Phong trào đấu tranh đòi tự do, dân chủ, dân sinh: Năm 1937, nhân dịp đón phái viên Chính
phủ Pháp và toàn quyền mới xứ Đông Dương; Quần chúng nhân dân trong đó đông đảo và hăng
hái nhất là công nhân và nông dân đã tổ chức nhiều cuộc mittinh, biểu tình để đưa dân nguyện đòi
tự do, dân chủ, cải thiện đời sống (ở nông thôn và thành thị).
- Bên cạnh những hoạt động trên, phong trào bãi công, bãi thị, bãi khoá đã nổ ra mạnh mẽ ở
các thành phố, khu mỏ và đồn điền:
 Năm 1936, tổng bãi công của công ty than Hòn Gai.
 Năm 1937, bãi công của công ty xe lửa Trường Thi.
 Năm 1938 (01/5), một cuộc mittinh lớn của 2,5 vạn người đã diễn ra tại Quảng trường
nhà đấu xảo Hà Nội, với các khẩu hiệu: “Tự do lập hội Ái hữu, nghiệp đoàn, giảm thuế, chống phát

- Nhưng cũng có khi vấn đề điền địa và phản đế phải liên tiếp giải quyết, vấn đề này giúp cho
vấn đề kia làm xong mục đích của cuộc vận động. Nghĩa là, cuộc phản đế phát triển tới trình độ võ
trang tranh đấu kịch liệt, đồng thời, vì muốn tăng thêm lực lượng tranh đấu chống đế quốc, cần
phải phát triển cuộc cách mạng điền địa. “Nói tóm lại, nếu phát triển cuộc tranh đấu chia đất mà
ngăn trở cuộc tranh đấu phản đế thì phải lựa chọn vấn đề nào quan trọng hơn mà giải quyết
trước. Nghĩa là chọn địch nhân chính, nguy hiểm nhất, để tập trung lực lượng của một dân tộc mà
đánh cho được toàn thắng”. Tức là: phải xác định rõ vấn đề, vấn đề nào quan trọng thì giải quyết
trước, vấn đề nào ít quan trọng hơn thì giải quyết sau.
- Đây là nhận thức mới của Ban chấp hành Trung ương, nó phù hợp với tinh thần trong
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng và bước đầu khắc phục những hạn chế của Luận cương
chính trị tháng 10/1930.
- Tháng 3/1939, Đảng ra bản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản Đông Dương đối với thời cuộc,
nêu rõ họa phát xít đang đến gần, Chính phủ Pháp hiện đã nghiêng về phía hữu, ra sức bóp nghẹt
tự do dân chủ, tăng cường bóc lột nhân dân và ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Tuyên ngôn kêu gọi
các tầng lớp nhân dân phải thống nhất hành động hơn nữa trong việc đòi các quyền tự do dân chủ,
chống nguy cơ chiến tranh đế quốc.
- Tháng 7/1939, Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ cho xuất bản tác phẩm Tự chỉ trích. Tác phẩm
đã phân tích những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng, tổng kết kinh nghiệm cuộc vận động dân chủ
của Đảng, nhất là về đường lối xây dựng Mặt trận dân chủ Đông Dương - một vấn đề chính trị
trung tâm của Đảng lúc đó. Tác phẩm chẳng những có tác dụng lớn trong cuộc đấu tranh để khắc
phục những lệch lạc, sai lầm trong phong trào vận động dân chủ, tăng cường đoàn kết nhất trí
trong nội bộ Đảng, mà còn là một văn kiện lý luận quan trọng về xây dựng Đảng, về công tác vận
động thành lập mặt trận thống nhất rộng rãi trong đấu tranh cách mạng ở Việt Nam.
 Những phong trào đấu tranh tiêu biểu:
- Phong trào Đông Dương đại hội ( 8 - 1936 ):
+ Đảng phát động quần chúng, hội thảo đưa yêu sách gửi lên phái đoàn điều tra Pháp chuẩn
bị sang Đông Dương. Ở Nam Kì ( 1936 ) có 600 Ủy ban hành động được thành lập và phân phát
truyền đơn, báo chí, tổ chức mít tinh, hội thảo, đưa yêu sách dân sinh, dân chủ. Tháng 9 - 1936 ở
Bắc Kì và Trung Kì thì các Ủy ban cũng nối tiếp nhau ra đời.
+ Thực dân Pháp đã đàn áp dã man bằng các giải tán các Ủy ban hành động, tịch thu các

+ Văn học hiện thực phê phán ra đời với những tác giả như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng,
thơ ca cách mạng của Tố Hữu.
=> Phong trào đã thu hút được kết quả to lớn về mặt văn hóa, tư tưởng, đông đảo quần chúng được
giác ngộ về con đường cách mạng của Đảng.
- Đấu tranh chống bọn Tơ-rốt-kit: Giai đoạn 1936 - 1939, ta đấu tranh chống bọn tay sai phản
động Pháp như Đảng lập hiến ( địa chủ, tư sản ), Đảng Đông Dương dân chủ ( trí thức ), Phục quốc
đồng minh ( của Cường Để ), nhằm giúp quần chúng hiểu rõ bộ mặt thật của bọn Tơ-rốt-kit, kịp
thời ngăn chặn âm mưu phá hoại của chúng.
 Ý nghĩa của chủ trương đòi quyền dân chủ, dân sinh:
- Chủ trương mới của Đảng đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêu chiến lược và
mục tiêu cụ thể trước mắt của cách mạng, các mối quan hệ giữa liên minh công – nông và mặt trận
đoàn kết dân tộc rộng rãi, giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa phong trào cách mạng Đông
Dương và phong trào cách mạng ở Pháp và trên thế giới.
- Đề ra các hình thức tổ chức và đấu tranh linh hoạt, thích hợp nhằm hướng dẫn quần chúng
đấu tranh giành quyền lợi hàng ngày, chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh cao hơn vì độc lập và tự
do.
Các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương trong thời kì này đánh dấu bước trưởng thành
của Đảng về chính trị và tư tưởng, thể hiện bản lĩnh và tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng,
mở ra một cao trào mới trong cả nước.
- Ý nghĩa của cao trào dân chủ 1936-1939:
 Thuận lợi lớn nhất qua phong trào dân chủ 36 -39 là: quần chúng được tổ chức và giác
ngộ, cán bộ của đảng được tôi luyện và tích luỹ những kinh nghiệm. Trong công tác xây dựng mặt
trận dân tộc thống nhất.
 Qua thực tế phong trào đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm về đấu tranh công khai,
hợp pháp đạo đức chính trị, hoà bình về kết hợp mục tiêu chiến lược lâu dài với nhiều mục tiêu
trước mắt.
 Phong trào dân chủ 36-39 là một bộ phận của phong trào CM vô sản thế giới , đánh giá
về phong trào dân chủ 36-39 Lê Duẩn nói: "Không có thời kỳ vận động đấu tranh dân chủ 36-39
thì sẽ không có CM tháng 8" => cao trào dân chủ 36-39 thực sự là 1 cao trào CM vĩ đại, đây là 1
cuộc tổng diễn tập lần thứ 2 của Đảng và nhân dân ta. Chuẩn bị cho thắng lợi CM tháng 8 năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status