ĐẶT VẤN ĐỀ
Đánh giá độ mê trên lâm sàng chủ yếu dựa vào các dấu hiệu
mạch nhanh, huyết áp tăng và các cử động bất thường của BN để bổ
sung thuốc mê, thuốc giảm đau. Khi sử dụng thuốc giãn cơ, hoặc BN
trong tình trạng huyết áp không ổn định, thiếu máu, sốc chấn
thương thì rất khó đánh giá độ mê.
Hiện nay, một số dấu hiệu khách quan được áp dụng để đánh giá
độ mê dựa vào tăng liều thuốc mê thì độ mê tăng (dose-response):
với thuốc mê bay hơi thì nồng độ thuốc tối thiểu trong phế nang
(MAC) được cho là cân bằng với nồng độ trong não, với thuốc mê
tĩnh mạch thì nồng độ thuốc tại não (Ce) được tính toán theo mô hình
dược động học cho phép đánh giá độ mê và tiên lượng được thời
gian thức tỉnh của BN.
Tuy nhiên, trên cùng một MAC, cùng một Ce thì mỗi BN lại có
những đáp ứng lâm sàng khác nhau. Kết hợp thuốc mê với thuốc
giảm đau họ á phiện đã làm giảm MAC, giảm Ce một cách đáng kể
tùy thuộc nồng độ loại thuốc á phiện và mức kích thích đau.
Trên thế giới, đánh giá độ mê dựa trên hoạt động điện của vỏ não
như chỉ số lưỡng phổ (BIS) hoặc Entropy là một bằng chứng khách
quan đã được khuyến cáo nhưng mới chỉ ở một số cơ sở gây mê hiện
đại. Entropy dựa trên nguyên lý đo điện thế ức chế và kích thích sau
synap của các tế bào thần kinh sọ não thông qua 3 điện cực được dán
ở vùng trán – thái dương. Các sóng điện não được tích hợp và số hóa
thành các con số tự nhiên từ 0 đến 100, trong đó các giá trị thấp cho
biết BN mê sâu và các giá trị cao cho biết BN tỉnh.
Entropy là sự biến đổi hoạt động điện của các cơ vùng mặt và
điện vỏ não hoạt động ở tần số cao khi tỉnh (RE: Respond Entropy)
và hoạt động điện vỏ não ở tần số thấp khi mê (SE: State Entropy).
1
Entropy đồng thời cho ra hai chỉ số là RE và SE nên được coi là
phương tiện đánh giá độ mê nhạy hơn và chính xác hơn BIS (một chỉ
số hóa.
Cấu trúc luận án
Luận án gồm 125 trang với các phần: đặt vấn đề (2 trang), tổng
quan (37 trang), đối tượng và phương pháp nghiên cứu (14 trang),
kết quả nghiên cứu (31 trang), bàn luận (38 trang), kết luận (2 trang),
kiến nghị (1 trang). Ngoài ra, luận án còn các phần tài liệu tham khảo
(137 tài liệu), 38 bảng, 25 hình và phụ lục.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Theo dõi độ mê bằng điện não số hóa
- Chỉ số lưỡng phổ (BIS: Bispectral Index) là một phương tiện
theo dõi độ mê do biến đổi các sóng của điện não và được số hóa
thành các con số tự nhiên từ 100 đến 0. Khi an thần, BIS giảm dần từ
100 và mất tri giác ở giá trị 80 → 70, BIS nằm trong khoảng 40 – 60
là mê đủ sâu, BIS < 40 biểu hiện mê sâu, BIS < 20 là mê quá sâu, là
biểu hiện của biến đổi của hình ảnh điện não bùng phát – dập tắt
(xuất hiện trước khi mất hoạt động điện não). Điều chỉnh liều thuốc
mê để duy trì BIS trong phạm vi từ 40 – 60 (giai đoạn duy trì mê),
giảm liều thuốc mê trong giai đoạn thoát mê và hồi tỉnh. Theo dõi độ
mê bằng BIS sẽ làm giảm chi phí sử dụng thuốc mê, giảm thời gian
nằm hồi tỉnh, giảm sự rối loạn về huyết động cũng như sự thức tỉnh
và nhớ lại trong khi gây mê và là một công cụ tốt để chuẩn độ liều
thuốc mê trong phẫu thuật có nguy cơ cao, BN lớn tuổi và trẻ em.
3
- Entropy là một phương tiện theo dõi độ mê tương tự như BIS
và được coi là kỹ thuật chính xác hơn so với BIS để phát hiện hình
ảnh điện não bùng phát – dập tắt trong theo dõi độ mê.
Entropy sử dụng 3 điện cực dán vào vùng trán đến thái dương để
theo dõi điện não và điện cơ. Khi gây mê, các sóng điện não sẽ
chuyển sang dạng nhịp chậm SE (0,8 – 32 Hz) và khi BN tỉnh sẽ
xuất hiện các sóng điện não có tần số cao RE (32 – 47 Hz) và sóng
xạ mi mắt hoặc SE <60) thì duy trì nồng độ đích mong muốn, khởi
mê chậm với propofol ít gây tác dụng phụ.
Khi có tiền mê hoặc kết hợp fentanyl sẽ làm giảm nồng độ đích
của propofol, tương tác giữa propofol với thuốc giảm đau họ á phiện
là tương tác đồng vận tối đa (2 + 2 > 4), dẫn đến làm giảm 50 – 80 %
nồng độ thuốc gây ngủ cần thiết. Vì vậy, điều chỉnh thuốc mê theo
điện não số hóa sẽ lựa chọn được nồng độ (Ce) phù hợp với các mức
kích thích đau trong giai đoạn gây mê –phẫu thuật.
1.3. Nồng độ phế nang tối thiểu
Cường độ tác dụng của thuốc mê bốc hơi tỷ lệ thuận với nồng độ
thuốc trong não, mà áp lực riêng phần của thuốc mê trong não lại
bằng áp lực riêng phần của nó trong phế nang, hơn nữa áp lực riêng
phần của thuốc mê lại tỷ lệ thuận với nồng độ thuốc mê trong phế
nang. Vì vậy, nồng độ trong phế nang được dùng để đánh giá độ sâu
của mê. Eger và cộng sự đã đưa ra khái niệm nồng độ phế nang tối
thiểu (MAC: Minimum Alveolar Concentration) của thuốc mê là
nồng độ mà tại đó 50% BN không có phản ứng đáp lại với một kích
thích phẫu thuật gây cảm giác đau, còn được gọi là MAC50.
5
Giá trị của MAC càng nhỏ, thuốc mê càng mạnh, các giá trị
MAC tăng dần theo thứ tự: MAC-awake < MAC-incision < MAC-
intubation < MAC-bar. Điều này có nghĩa là cần một nồng độ rất cao
mới loại trừ được phản ứng tăng tiết catecholamin (MAC-bar).
Đặt NKQ là một kích thích đau mạnh nhất nên giá trị MAC của
những kích thích trong mổ khác nhau đều nằm giữa MAC-incision
và MAC-intubation. Ở những BN không có kích thích thì cả trí nhớ
rõ ràng và không rõ ràng đều không xuất hiện ở nồng độ thuốc mê
bốc hơi cuối kỳ hít vào ngang với MAC-awake.
Kết hợp fentanyl với sevofluran sẽ làm giảm MAC. MAC rạch
da của sevofluran có thể giảm xuống tùy thuộc vào nồng độ thuốc
mê ở nhóm propofol và nhóm sevofluran.
- Ba mức mê tăng dần theo phân loại Martorano:
+ Mức A (mức tỉnh) bao gồm: T1 (trước khởi mê), T11 (trước
khi rút NKQ), T12 (sau rút NKQ 15 phút).
+ Mức B (Chuyển tiếp từ tỉnh sang mê và ngược lại) bao gồm :
T2 (mất phản xạ mi mắt, mất đáp ứng với lời nói), T8 (ngay khi đóng
xong da), T9 (phục hồi phản xạ mi mắt, mở mắt theo lệnh), T10 (vận
động theo lệnh).
+ Mức C (mức mê, phẫu thuật): T3 (trước khi đặt NKQ), T4 (sau
đặt NKQ), T5 (trước rạch da), T6 (sau rạch da), T7 (15 phút trước
khi kết thúc phẫu thuật).
2.4. Cách tiến hành
- Thuốc: propofol (Diprivan PFS) 50ml/lọ (10mg/ml) của hãng
Astra Zeneca, sevofluran 250ml/chai của hãng Abbott.
- Phương tiện: bơm tiêm điện Terumo TE-371 (phần mềm TCI),
bình bốc hơi sevofluran của hãng Abbott, máy gây mê Datex-Omeda
Avance, module phân tích khí mê, module Entropy và module đo
giãn cơ của Datex- Ohmeda.
2.4.1. Nhóm 1
7
- Tiền mê: midazolam 2mg tiêm T/M
- Khởi mê: fentanyl 2µg/kg tiêm tĩnh mạch, chờ 1 phút. Khởi mê
propofol - TCI: đặt Ce 2,5 µg/ml lúc ban đầu (tăng Ce từng mức 0,5
µg/ml cho đến khi mất đáp ứng với lời nói và mất phản xạ mi mắt).
Rocuronium 0,6 mg/kg tiêm T/M (khi mất phản xạ mi mắt). Đặt
NKQ sau khi tiêm giãn cơ 2 phút và khi SE ≤ 40. Giảm lưu lượng
khí mới xuống 2 lít/phút (lưu lượng khí mới 8 lít O
2
/phút trước đó),
đặt FiO
mức 0,25 MAC để giữ SE quanh 60. Khi kết thúc mổ thì ngắt hoàn
toàn sevofuran và tăng lưu lượng khí mới lên 6 lít để thải thuốc mê.
Duy trì fentanyl 2µg/kg/giờ. Rocuronium 0,3 mg/kg tiêm nhắc lại
khi TOF>20%. Ngừng fentanyl và rocuronium 15 phút trước khi kết
thúc mổ.
- Rút NKQ khi đạt tiêu chuẩn: tỉnh làm theo lệnh, thở 12-25
lần/phút, SpO
2
>95% với FiO
2
≤ 40%, Vt>5ml/kg, EtCO
2
<45 mmHg,
có phản xạ ho nuốt và TOF≥ 90%.
2.5. Xử lý số liệu
Số liệu NC được xử lý theo phương pháp thống kê y học bằng
máy vi tính, sử dụng phần mềm SPSS 11.5.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung
Bao gồm 149 BN được bắt thăm chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm:
nhóm 1 gây mê bằng propofol, nhóm 2 gây mê bằng sevofluran.
Bảng 3.1. Phân bố BN theo tuổi, cân nặng và giới tính
Nhóm 1 ở độ tuổi (20 - 86), tuổi trung bình 50,48±12,45, cân
nặng trung bình 55,12±10,09 kg. Nhóm 2 ở độ tuổi (20 - 87), tuổi
trung bình 48,35±14,09, cân nặng trung bình 56,40±9,18 kg. Không
khác biệt giữa 2 nhóm về tuổi, cân nặng và giới tính với p >0,05.
Bảng 3.3. Thời gian gây mê, phẫu thuật và thuốc sử dụng
Nhóm 1 có thời gian phẫu thuật 98,75±37,48 phút, thời gian gây
mê 119,19±42,69 phút, sử dụng fentanyl là 295,50±71,50 µg,
rocuronium là 46,70±15,43 mg. Nhóm 2 có thời gian phẫu thuật
Bảng 3.10. Giá trị Ce, Entropy và hiệu số RE – SE tại 3 mức mê
Mức mê
Thông số
Mức A Mức B Mức C p
Ce (µg/ml) 0,21 ± 0,14 0,88 ± 0,38 3,37 ± 0,65
< 0,05
RE 94,74 ± 4,86 73,59 ± 10,23 44,86 ± 6,31
SE 87,55 ± 3,22 69,94 ± 8,95 44,21 ± 6,20
Δ (RE – SE) 7,45 ± 2,85 4,05 ± 2,14 0,83 ± 0,62
Nhận xét:- Ce tăng lên theo 3 mức từ tỉnh sang mê (p <0,05).
- RE và SE giảm dần khi mức mê tăng lên, mức C là mức phẫu
thuật với RE và SE thấp nhất (p <0,05).
10
- Khoảng chênh RE-SE tại mức A (tỉnh) là lớn nhất và mức C
(mê, phẫu thuật) là thấp nhất (p <0,05).
Bảng 3.11. Phân bố các giá trị của RE ở 3 mức mê A, B, C
Kết hợp với bảng 3.13 (các phép tính một chiều) tính được xác
suất tiên đoán của RE là Pk = 0,890±0,003.
Bảng 3.12. Phân bố các giá trị của SE ở 3 mức mê A, B, C
Kết hợp với bảng 3.14 (các phép tính một chiều) tính được xác
suất tiên đoán của SE là Pk = 0,885±0,003.
Bảng 3.15. Độ đặc hiệu, độ nhạy của Entropy với 3 mức mê
Điện não Đặc tính
Mức mê
Mức A Mức B Mức C
RE
Sp (%) 100 100 100
Se (%) 100 79,9 83,5
SE
Sp (%) 100 100 100
Nhận xét:
- MAC tăng lên theo 3 mức từ tỉnh sang mê (p <0,05).
- Mức C là mức phẫu thuật với RE và SE thấp nhất (p <0,05).
- Khoảng chênh RE-SE tại mức A (tỉnh) là lớn nhất và mức C
(mê, phẫu thuật) là thấp nhất (p <0,05).
Bảng 3.20. Phân bố các giá trị của RE ở 3 mức mê A, B, C
Kết hợp với bảng 3.22 (các phép tính một chiều) tính được xác
suất tiên đoán của RE là Pk = 0,893 ± 0,003.
Bảng 3.21. Phân bố các giá trị của SE ở 3 mức mê A, B, C
Kết hợp với bảng 3.23 (các phép tính một chiều) tính được xác
suất tiên đoán của SE là Pk = 0,88 ± 0,003.
Bảng 3.15. Độ đặc hiệu, độ nhạy của Entropy với 3 mức mê
12
Điện
não
Đặc
tính
Mức A Mức B Mức C
RE Sp (%) 100 100 100
Se (%) 100 83 82,2
SE Sp (%) 100 100 100
Se (%) 100 65,3 77,5
Nhận xét: độ đặc hiệu 100% trong cả 3 mức, độ nhạy của RE cao
hơn SE trong mức B và C. Để tránh thức tỉnh và biết trong mổ thì độ
đặc hiệu quan trọng hơn độ nhạy.
Hình 3.9. Đường biểu diễn tính hiệu lực của RE với MAC
ROC gợi ý dự kiến có độ chính xác tốt vì đường lên rất dốc và
diện tích dưới đường cong gần bằng 1 (AUC = 0,997 ± 0,001)
Hình 3.10. Đường biểu diễn tính hiệu lực của SE với MAC
ROC gợi ý dự kiến có độ chính xác tốt vì đường lên rất dốc và
Thời gian
(
X
± SD)
Nhóm 1
(n = 77)
Nhóm 2
(n = 72)
p
Khởi mê (giây)
(Min – Max)
95,87 ± 23,94
52 – 140
127,27 ± 38,42
75 - 182
< 0,001
Thoát mê (phút)
(Min – Max)
12,65 ± 7,39
4 – 37
9,79 ± 6,08
4 – 35
< 0,05
Rút NKQ (phút)
(Min – Max)
16,88 ± 8,52
5 – 45
14,01 ± 6,92
7 – 40
< 0,05
> 0,05
TST(chukỳ/phút)
74,70 ± 8,86 74,32 ± 8,70
> 0,05
B
HAĐMTB (mmHg)
91,08 ± 7,64 90,39 ± 6,63
> 0,05
TST(chukỳ/phút)
72,00 ± 8,01 72,05 ± 8,41
> 0,05
C
HAĐMTB (mmHg)
89,35 ± 6,70 88,12 ± 7,08
> 0,05
TST(chukỳ/phút)
71,01 ± 7,94 70,36 ± 7,87
> 0,05
Nhận xét: không sự khác biệt về TST và HAĐMTB giữa 2 nhóm
tại cùng mức mê, có ý nghĩa thống kê với p >0,05.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung
4.1.1. Đặc điểm về tuổi, cân nặng và giới tính: 149 BN gây mê
NKQ, được lựa chọn ngẫu nhiên chia thành 2 nhóm. Tuổi trung bình
của nhóm 1 là 50,48±12,45 của nhóm 2 là 48,35±14,09. Sự khác
biệt không có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm với p >0,05 (bảng 3.1).
Cân nặng trung bình của nhóm 1 là 55,12±10,09 kg; nhóm 2 là
56,40±9,18 kg. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p >0,05
(bảng 3.1). Kết quả này tương đương với kết quả NC của Hemanshu
và cộng sự (56,90±7,60 kg) khi NC đánh giá chỉ số Entropy trong
0
,
SpO
2
được lấy từ thời điểm úp mask (T1) cho đến khi rút NKQ
(T12) tương đối ổn định trong cả hai nhóm và nằm trong dải giá trị
bình thường. Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm với p>0,05.
4.3. Mối liên quan Entropy với Ce ở các giai đoạn gây mê.
4.3.1. Tương quan RE, SE với Ce
Bảng 3.10 cho thấy mức A là mức BN tỉnh, Ce =0,21±0,14
µg/ml và tương ứng với RE = 94,74±4,86 và SE = 87,55±3,22. Tại
mức B là mức chuyển tiếp giữa tỉnh và mê, Ce = 0,88±0,38 µg/ml
16
tương ứng RE = 73,59±10,23 và SE = 69,94 ±8,95. Tại mức C (gây
mê phẫu thuật) có nồng độ propofol cao nhất (Ce=3,37±0,65µg/ml)
tương ứng với RE=44,86±6,31 và SE=44,21±6,20 ở mức giá trị thấp
nhất. Các kết quả nghiên cứu trên cho thấy có một mối tương quan
giữa nồng độ thuốc mê propofol với các giá trị điện não. Nồng độ
thuốc mê từ thấp tăng cao (theo 3 mức mê của Martorano) tương ứng
với các giá trị RE và SE giảm dần.
Hình 3.1 thể hiện mối tương quan tuyến tính nghịch giữa nồng
độ propofol tại não với RE, tương quan chặt chẽ với r = - 0,882. Có ý
nghĩa thống kê với p <0,001. Nồng độ thuốc mê được phân thành 2
vùng rõ rệt: vùng phẫu thuật có nồng độ thuốc mê nằm trong khoảng
từ 2 - 4 µg/ml tương ứng với RE <60 và vùng có nồng độ thuốc mê
thấp hơn nằm trong khoảng <2 µg/ml tương ứng với RE >60 thể hiện
giai đoạn tỉnh và chuyển tiếp từ tỉnh sang mê. Hình 3.2 thể hiện mối
tương quan tuyến tính nghịch giữa nồng độ propofol tại não với SE,
tương quan chặt chẽ với r = - 0,88. Có ý nghĩa thống kê với p<0,001.
Phân vùng nồng độ propofol với SE tương tự như với RE.
tăng lên (MAC=0.68±0,29 %) ở giai đoạn chuyển tiếp giữa tỉnh và
mê tương ứng với giá trị điện não tiếp tục giảm xuống thấp hơn (RE
=71,57±10,15 và SE=67,50±9,77). Mức C là giai đoạn phẫu thuật có
nồng độ sevofluran cao nhất (MAC=1,59±0,33%) tương ứng với các
giá trị điện não thấp nhất (RE=43,77±7,21 và SE=42,48±7,14). Như
vậy, nồng độ thuốc mê tăng dần lên, tình trạng mê sâu hơn thể hiện
bằng giảm dần các giá trị điện não (RE, SE) theo các thời điểm
nghiên cứu cho thấy có mối tương quan tuyến tính. Hình 3.6 thể hiện
mối tương quan tuyến tính nghịch và chặt chẽ của RE với MAC với r
= - 0,861 có ý nghĩa thống kê với p<0,001. MAC tập trung thành 2
18
vùng rõ rệt với MAC<1% tương ứng với RE>60 và MAC nằm trong
khoảng 1 - 2 % tương ứng với RE<60. Tương tự, hình 3.7 thể hiện
mối tương quan tuyến tính nghịch và chặt chẽ của SE với MAC với r
= - 0,852 có ý nghĩa thống kê với p<0,001. Phân vùng thuốc mê của
SE tương tự như RE, giai đoạn phẫu thuật với kích thích đau mạnh
(SE < 60) có nồng độ thuốc mê cao và giá trị của MAC>1 %.
4.4.2. Độ nhạy và độ đặc hiệu của Entropy với sevofluran
Đường biểu diễn hiệu lực (ROC) của Entropy (RE, SE) với
sevofluran được thể hiện trên hình 3.9 và hình 3.10. ROC có điểm
lên cao nhất khá gần với góc cao nhất bên trái, nơi mà độ nhạy và độ
đặc hiệu bằng 1. Đường lên rất dốc và diện tích vùng dưới đường
cong của RE là AUC=0,997±0,001 và SE là AUC=0,994±0,002 là
rất lớn cho phép gợi ý có độ tiên đoán chính xác.
Từ các giá trị của Entropy phân bố theo 3 mức mê A, B, C của
Martorano trên bảng 3.20 với ( RE) và bảng 3.21 với (SE) cho ra kết
quả độ đặc hiệu và độ nhạy của Entropy (bảng 3.24).
Độ đặc hiệu của RE và SE là 100% (bảng 3.24) với tất cả các
mức mê (mức tỉnh, chuyển tiếp và phẫu thuật). Điều này có nghĩa là
trong khi gây mê nếu RE, SE tăng lên thì có nghĩa là BN có xu
trong cùng một mức giữa 2 nhóm là tương đương nhau.
4.5.2. So sánh thời gian khởi mê, thoát mê và rút NKQ
Thời gian khởi mê được tính từ khi tiêm thuốc mê hoặc hít khí
mê cho đến khi mất đáp ứng với lời nói và mất phản xạ mi mắt. Thời
gian khởi mê ở nhóm 1 là: 95,87±23,94 giây với kỹ thuật TCI và ở
nhóm 2 là 127,3±38,4 giây với kỹ thuật khởi mê nhanh dung tích
20
sống 8% sevofluran. Nhóm 1 khởi mê nhanh hơn nhóm 2 có ý nghĩa
thống kê với p<0,001 (bảng 3.27).
Thời gian thoát mê được tính từ khi ngừng thuốc mê đến khi
phục hồi phản xạ mi mắt và mở mắt theo lệnh. Thời gian thoát mê ở
nhóm 1 là 12,65±7,39 phút, nhóm 2 là 9,79±6,08 phút. Nhóm 1 dài
hơn nhóm 2, có ý nghĩa thống kê với p<0,05 (bảng 3.27).
Thời gian rút NKQ là khoảng thời gian được tính từ khi
ngừng thuốc mê đến khi BN tỉnh hoàn toàn, vận động theo lệnh,
nâng đầu giữ được >5 giây và TOF>90. Thời gian rút NKQ ở nhóm
1 là 16,88±8,52 phút; nhóm 2 là 14,01±6,92 phút. Nhóm 1 chậm hơn
nhóm 2 có ý nghĩa thống kê với p<0,05 (bảng 3.27). Kết quả này đã
được loại trừ yếu tố giãn cơ tồn dư vì BN được theo dõi liên tục và
đánh giá chỉ số TOF, chỉ giải giãn cơ khi có ≥2 đáp ứng với kích
thích điện và khi TOF phục hồi 25% ở T1.
4.5.3. So sánh giữa 2 nhóm về TST và HAĐMTB
Biểu đồ về thay đổi TST và HAĐMTB trên hình 3.11 cho thấy:
giai đoạn khởi mê, nồng độ thuốc mê tăng dần lên và đạt cao nhất tại
thời điểm trước đặt NKQ (T3), vì chưa có kích thích đau do đặt
NKQ nên TST và HAĐMTB có xu hướng giảm xuống và có giá trị
thấp nhất trong cả quá trình gây mê. Sau khi đặt NKQ (kích thích
đau mạnh), TST và HAĐMTB có xu hướng tăng lên (T4) và có giá
trị tương đối ổn định trong giai đoạn duy trì mê đến thời điểm T9.
Tại thời điểm T10, lúc này BN đã phục hồi phản xạ mi mắt, tự nâng
chẽ với r = -0,861 và p <0,001.
- SE với MAC tương quan tuyến tính nghịch, mạnh và rất chặt
chẽ với r = -0,852 và p <0,001.
22
- Hiệu số RE-SE < 3 ở mức C (mức mê, phẫu thuật) cho biết
MAC phù hợp với kích thích của phẫu thuật.
- Mức phẫu thuật có MAC cao nhất (1,59±0,33%) tương ứng với
điện não thấp nhất (RE = 43,77±7,21 và SE = 42,48±7,14).
- Mức tỉnh có MAC thấp nhất (0,10±0,09%) tương ứng với điện
não cao nhất (RE = 95,48±3,95 và SE = 88,47±2,87).
- Tại thời điểm đặt NKQ có MAC cao nhất (1,87±0,34%) tương
ứng với RE = 37,67±8,68 và SE = 36,40±8,54.
3. So sánh thời gian khởi mê, thoát mê, rút NKQ và ảnh hưởng TST
và HAĐMTB giữa 2 nhóm gây mê bằng propofol với bằng
sevofluran
- Thời gian khởi mê của nhóm propofol nhanh hơn nhóm
sevofluran (95,87±23,94 giây so với 127,27±38,42 giây) với p <0,05.
- Thời gian thoát mê của nhóm propofol chậm hơn nhóm
sevofluran (12,65±7,39 phút so với 9,79±6,08 phút) với p <0,05.
- Thời gian rút NKQ của nhóm propofol chậm hơn nhóm
sevofluran (16,88 ± 8,52 phút so với 14,01 ± 6,92 phút) với p<0,05.
- Không có sự khác biệt về TST và HAĐMTB giữa hai nhóm ở
các thời điểm tại ba mức mê A, B, C.
KIẾN NGHỊ
1. Điện não số hóa để đánh giá độ mê nên được coi là một trong
những thông số chuẩn mực khi gây mê.
2. Vì có tương quan rất mạnh và chặt chẽ với Entropy, theo dõi
nồng độ đích (Ce) của propofol hoặc nồng độ phế nang tối thiểu
(MAC) của sevofluran là biện pháp thay thế tin cậy cần được thực
hiện khi gây mê.
Độ bão hòa Oxy mạch nảy
TCI (Target Controlled Infusion): truyền kiển soát nồng
độ đích
T
o
Nhiệt độ
TOF (Train of Four): chuỗi bốn đáp ứng
X
Giá trị trung bình
24
25