Luận văn: Phân
tích tình hình xuất
khẩu gạo của Việt
Nam giai đoạn
2008-2010
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
2.Mục tiêu nghiên cứu: 6
2.1.Mục tiêu chung: 6
3.1 Phương pháp thu thập số liệu: 6
3.2 Phương pháp phân tích số liệu: 6
4. Phạm vi nghiên cứu: 6
LỜI CẢM TẠ
Trong suốt thời gian thực hiện chuyên đề, em gặp không ít khó khăn nhưng
dưới sự tận tâm hướng dẫn của các cô đã giúp em hoàn thành chuyên đề.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo của các cô Bùi Lê Thái
Hạnh và cô Nguyễn Thị Kim Phượng.Các cô đã tận tình chỉ bảo, giúp em nhận ra
những sai sót và học hỏi thêm được nhiều điều trong quá trình thực hiện chuyên đề.
Tuy nhiên, vì kiến thức bản thân cũng như kinh nghiệm thực hiện chuyên đề
còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót. Mong các cô bỏ qua và góp ý chân
thành để em nhận ra khuyết điểm và khắc phục.
Kính chúc các cô luôn dồi dào sức khỏe, thành công trong công việc cũng
như cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn.
Ngày 14 tháng 03 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Bùi Định Nghĩa
dấu hiệu đầu cơ làm cho giá gạo trong nước tăng lên, người tiêu dùng trong nước
tiếp tục chịu thiệt. Mặc khác, nước ta vẫn chủ yếu chú trọng đến năng suất mà ít
quan tâm đến các giống gạo ngon có giá trị xuất khẩu cao (những giống gạo thường
cho năng suất thấp).Ngoài ra, việc phát triển nghề trồng lúa và có những biện pháp
hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu mà đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu
gạo, để nước ta giữ vững vị trí xuất khẩu trên thương trường quốc tế là vấn đề luôn
được nhà nước xem trọng. Để nhìn lại thực trạng xuất khẩu gạo của nước ta trong
thời gian qua, em quyết định thực hiện đề tài “Phân tích tình hình xuất khẩu gạo
của Việt Nam giai đoạn 2008 -2010 ” và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng cũng như sản lượng gạo xuất khẩu để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong
thời gian tới.
2.Mục tiêu nghiên cứu:
2.1.Mục tiêu chung:
Phân tích tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2008-2010 và đưa ra một
số giải pháp nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng gạo xuất khẩu.
2.2 Mục tiêu cụ thể:
− Tìm hiểu thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 2008-2010.
− Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc cung ứng nguồn gạo cho
xuất khẩu.
− Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và sản lượng gạo xuất
khẩu.
3. Phương pháp nghiên cứu:
3.1 Phương pháp thu thập số liệu:
Từ nguồn số liệu thứ cấp: báo, tạp chí nghiên cứu khoa học và internet.
3.2 Phương pháp phân tích số liệu:
− Mục tiêu 1: sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả thực trạng xuất
khẩu gạo của Việt Nam trong những năm 2008-2010.
− Mục tiêu 2: sử dụng phương pháp phân tích để phân tích những thuận lợi và
khó khăn trong việc cung ứng nguồn gạo cho xuất khẩu.
Bộ Công Thương đã đề nghị thì lượng lúa còn lại để tiêu dùng cho mọi yêu cầu
trong nước (lương thực cho người, chăn nuôi, để giống, dự trữ ) còn khoảng 28
triệu tấn, bình quân 321,8kg/người/năm và 26,8 kg/người/tháng (tương đương 15 kg
gạo).Với mức này thì an ninh lương thực trong nước vẫn được bảo đảm.Bước sang
năm 2009 sản lượng lúa gạo thu hoạch tiếp tục lập kỷ lục, với sản lượng 38,9 triệu
tấn lúa, lượng gạo xuất khẩu cả năm đạt 5,8 triệu tấn. Nhờ vậy, mặc dù xuất khẩu
gạo tăng tốc nhanh về sản lượng, nhưng vẫn đảm bảo đủ lượng gạo tiêu dùng trong
nước. Năm 2010 sản lượng lúa đạt xấp xỉ 40 triệu tấn, lượng gạo xuất khẩu đạt gần
6,9 triệu tấn.Trong năm 2010, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) đã chỉ đạo 30
doanh nghiệp thành viên mua 1 triệu tấn gạo dự trữ để bình ổn giá lúa vụ đông xuân
tại Đồng bằng sông Cửu Long.Trong khi đó Thủ tướng Chính phủ vừa chỉ đạo Bộ
Tài chính mua 50.000 tấn gạo để bổ sung lương thực dự trữ quốc gia năm 2010.
1.2 Thực trạng xuất khẩu gạo của nước ta trong những năm gần đây.
Xuất khẩu gạo của nước ta trong vài năm trở lại đây đã có những bước phát triển
đáng kể về kim ngạch cũng như thị trường xuất khẩu.Theo hiệp hội lương thực Việt
Nam, kể từ khi bắt đầu xuất khẩu từ năm 1989 đến nay, Việt Nam đã xuất khẩu
khoảng 70 triệu tấn gạo ra trường quốc tế, mang về kim ngạch khoảng 20 tỷ đô la,
đóng góp không nhỏ vào kim ngạch xuất khẩu cả nước.Tình hình cụ thể như sau:
1.2.1.Về sản lượng.
Bảng 1 – SẢN LƯỢNG XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
Năm Khối lượng xuất khẩu
(1000 tấn)
Chênh lệch
+/- %
2006 4.600 - -
2007 4.558 -42 -0,91
2008 4.830 272 5,97
2009 6.052 1.222 25,30
giảm.Trong khi đó kim ngạch xuất khẩu gạo lại phụ thuộc vào hai yếu tố trên, dẫn
đến kim ngạch xuất khẩu trong từng năm không thể tăng cao do luôn chịu sự ảnh
hưởng từ sự sụt giảm của một trong hai yếu tố đó.Chỉ có riêng năm 2008, vừa đạt
được mức tăng về khối lượng và giá xuất khẩu nên trong năm này kim ngạch xuất
khẩu tăng mạnh.
Bảng 2 – KIM NGẠCH XUẤT KHẨU GẠO CỦA VIỆT NAM TỪ
NĂM 2006 ĐẾN 6th/2010
Nguồn AGROINFO, 2010
Năm 2008 kim ngạch xuất khẩu tăng từ 1.490 triệu USD năm 2007 lên 2.910 triệu
USD, tăng 95,3% tương ứng 1.420 triệu USD đem về nguồn ngoại tệ không nhỏ cho
ngành xuất khẩu gạo nói riêng, xuất khẩu cả nước nói chung.Đạt được sự tăng
trưởng cao như vậy là do khối lượng xuất khẩu trong năm tăng, cùng với mức tăng
giá xuất khẩu.Năm 2007 giá xuất khẩu bình quân chỉ đạt 295 USD/tấn, thì đến năm
2008 giá xuất khẩu là 614 USD/tấn, tăng hơn 2 lần so với mức giá xuất khẩu năm
trước.
Nếu năm 2007 có khối lượng xuất khẩu giảm nhưng kim ngạch xuất khẩu tăng, thì
ngược lại năm 2009 là năm đạt kỉ lục về xuất khẩu gạo so với những năm trước,
nhưng kim ngạch lại giảm 15,36% so với cùng kì năm 2008.Nguyên nhân chủ yếu là
do giá xuất khẩu bình quân sau khi tăng đột biến năm 2008 đã hạ nhiệt, giảm xuống
còn 400 USD/tấn, với mức giảm 214 USD/tấn so với năm 2008.
Ngoài ra sự giảm giá còn do sự can thiệp của chính phủ Thái Lan – nước xuất khẩu
gạo lớn nhất thế giới, đẩy mạnh xuất khẩu gạo trong các kho dự trữ với ước tính
khoảng 7 triệu tấn.
Kim ngạch 6 tháng đầu năm 2010 đạt 1.730 triệu USD, giảm 1,0% so với 6 tháng
đầu năm 2009.Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do giá sàn gạo liên tục tăng trong
thời gian qua theo sự điều tiết của chính phủ để đảm bảo nông dân có lãi, trong khi
đó chất lượng gạo nước ta còn thấp nên khi giá tăng cao, các doanh nghiệp gặp
nhiều khó khăn trong ký hợp đồng với đối tác làm giảm khối lượng gạo xuất khẩu.
Philipines vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của nước ta với khối lượng 1.278
nghìn tấn, trị giá gần 820 triệu USD, giảm 18,26% về khối lượng và giảm 3,42% về
kim ngạch so với cùng kì năm trước.Tiếp đến là Singapore với khối lượng 339.046
tấn, kim ngạch đạt gần 139 triệu USD, Đài Loan với khối lượng 288.874 tấn đạt kim
ngạch hơn 111 triệu USD.Mặt khác, khối lượng và kim ngach xuất khẩu sang 2
nước Malaysia và Cuba lại sụt giảm so với cùng kỳ năm trước.Malaysia giảm
47,77% về giá trị, Cuba giảm 42,22%.
Nhìn chung 6 tháng đầu năm 2010, khối lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo ở hầu
hết các thị trường đều giảm.Chỉ có Singapore, Đài Loan, Hồng Công là tăng mạnh.
1.3 Những bất cập còn tồn tại.
1.3.1 Công tác quản lí và điều hành xuất khẩu gạo
Thời gian vừa qua, hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất khẩu lúa gạo của
Việt Nam đã có các bước tiến lớn, trở thành một trong những ngành kinh tế có tầm
ảnh hưởng sâu rộng trong nước cũng như trên trường quốc tế. Về cơ bản, an ninh
lương thực được giữ vững, thu nhập của người nông dân từ lúa gạo ngày càng được
cải thiện, vị thế xuất khẩu được khẳng định trên thị trường thế giới.
Công tác điều hành xuất khẩu gạo thời gian qua mặc dù đạt được những kết
quả đáng ghi nhận nhưng những yếu kém, hạn chế trong công tác tổ chức điều phối,
nhất là phương thức thu mua, dự trữ, quản lý thị trường lương thực trong nước của
Nhà nước, cụ thể là các tổng công ty lương thực nhà nước đã bộc lộ những tồn tại và
thách thức sau:
Thứ nhất, chưa xác định rõ trách nhiệm của thương nhân xuất khẩu gạo với
các nhiệm vụ chính trị và kinh tế của đất nước, với người nông dân sản xuất lúa gạo,
với việc bình ổn giá thu mua lúa cho người nông dân và giá bán gạo cho người tiêu
dùng trong nước.
Thứ hai, với cơ chế điều hành xuất khẩu gạo hiện nay tất cả các doanh nghiệp
đều có quyền kinh doanh xuất khẩu gạo.Doanh nghiệp xuất khẩu thừa số lượng
nhưng chất lượng không đồng đều:Theo số liệu của Bộ Công Thương, hiện nay cả
nước có khoảng 205 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu gạo, nhưng trong đó chỉ có
bán gạo (thường là đối với các hợp đồng thương mại) và tất nhiên là sẽ mua lúa
trong nông dân với giá thấp hơn.
Thứ tư, việc khống chế lượng gạo xuất khẩu theo chỉ tiêu hướng dẫn hàng
quý cũng gây ra những bức xúc trong xã hội khi thị trường xuất khẩu được giá cao
do bị khống chế số lượng xuất khẩu nên người nông dân không bán được lúa với giá
cao. Trong khi Nhà nước chưa tổ chức được lượng gạo dự trữ lưu thông cần thiết để
can thiệp bình ổn giá bán gạo cho người tiêu dùng trong nước khi có biến động về
thị trường giá cả thì trách nhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo
không được quy định rõ ràng cụ thể.
Thứ năm, thị trường gạo vốn biến động, bất ổn, các tín hiệu cần được theo
sát thường xuyên. Nhưng thời gian qua, do thiếu nguồn thông tin dự báo sớm, và sự
phối hợp trong công tác thông tin còn bất cập nên việc điều hành xuất khẩu và giao
dịch ký kết hợp đồng chưa được như mong muốn.
Thứ sáu, Chính phủ cũng như Hiệp hội Lương thực Việt Nam còn can thiệp
quá sâu vào công việc kinh doanh, xuất khẩu gạo, làm cho thị trường lúa gạo bị méo
mó. Sự can thiệp của Chính phủ có thể bắt nguồn từ lý do an ninh lương thực, cân
nhắc việc kiềm chế lạm phát, không để cho giá lúa gạo tăng quá cao. Sự can thiệp
của Hiệp hội Lương thực Việt Nam có thể từ lý do các công ty kinh doanh không đủ
năng lực, kinh doanh thường bán giá thấp, gây thiệt hại cho đất nước, ảnh hưởng tới
hiệu quả xuất khẩu chung.
Cuối cùng các rủi ro lẽ ra phải được phân tán ở các doanh nghiệp thì lại đổ dồn lên
cấp vĩ mô, và bắt người nông dân phải gánh lấy trách nhiệm “an ninh lương thực”,
nhưng quyền lợi thì không được hưởng tương xứng.
1.3.2 Dấu hiệu đầu cơ
Trong bất cứ ngành nghề nào cũng vậy, một khi thị trường diễn biến theo xu
hướng cung không đủ cầu thì tất nhiên sẽ xảy ra tình trạng đầu cơ tích trữ nhằm đẩy
giá lên cao.Thực tế là vậy, nhưng cũng không ít trường hợp tình trạng đầu cơ tích
trữ lại xảy ra xuất phát từ yếu tố chủ quan – sự thiếu thông tin của người dân cùng
với sự lơ là của các cơ quan chức năng.Một ví dụ điển hình là năm 2008, thông qua
diện tích nhưng đã tạo ra trên 2/3 sản lượng gạo của cả nước: Toàn vùng Đồng Bằng
Sông Hồng với tổng diện tích 15.000 km² chiếm 4,5% diện tích của cả nước, trong
đó tổng diện tích trồng lúa hơn 1 triệu ha; Đồng Bằng Sông Cửu Long với tổng diện
tích gần 40000 km², tổng diện tích trồng lúa đạt gần 4 triệu ha, cùng với điều kiện
khí hậu cận xích đạo nên rất thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp (mưa nhiều,
nắng nóng ), đặc biệt là phát triển trồng lúa nước.Là vùng có sản lượng lúa hàng
năm chiếm đến 55% sản lượng lúa của cả nước và cung ứng trên 95% sản lượng gạo
xuất khẩu - là nơi đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia.Với diện tích và sản
lượng thu hoạch chiếm hơn 50% so với cả nước.Bình quân lương thực đầu người
gấp 3 lần so với lương thực trung bình cả nước.Nhờ vậy Đồng Bằng Sông Cửu Long
được xem là vựa lúa của cả nước.
- Tài nguyên khí hậu đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, cung cấp nguồn
năng lượng và các yếu tố khác như độ ẩm và gió mưa. Khí hậu nước ta có điều kiện
lý tưởng đối với cây lúa do có sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố trên.
- Một lợi thế nổi bật của nghề trồng lúa ở Việt Nam là nguồn tài nguyên nước rất
dồi dào nhờ có hệ thống sông ngòi chằng chịt.
- Hơn nửa dân số nước ta xuất thân từ nhà nông dẫn đến nguồn lực dồi dào
không chỉ có ưu thế về số lượng mà còn về chất lượng, về sự tinh thông, am hiểu
nghề trồng lúa.Lịch sử sản xuất lúa của nước ta đã trải qua hơn 6000 năm kể từ thưở
cộng đồng nguyên thủy người Việt cho đến khi ra đời nhà nước Văn Lang và cho tới
nay, đã để lại cho các thế hệ sau nhiều kinh nghiệm, tri thức quí báu.Kho tàng kinh
nghiệm đó thực sự là một lợi thế đặc biệt, nó cho phép khai thác triệt để những lợi
thế thông thường của các tài sản thiên nhiên như tài sản đất, tài sản nước, taì sản khí
hậu.
- Chính sách cơ cấu lại giống lúa được quan tâm hơn và bước đầu đã đem lại
hiệu quả, nâng cao năng suất lúa.
- Tăng trưởng xuất khẩu gạo chưa vượt quá ngưỡng an toàn lương thực quốc gia
xem như đã đảm bảo được an ninh lương thực trong nước, nên có thể đẩy mạnh xuất
khẩu.
thức hiện tại do thiên về ưu tiên phục vụ cho các doanh nghiệp quốc doanh nên đã
phần nào đã kìm hãm khả năng cạnh tranh có hiệu quả của khu vực kinh tế tư nhân.
Hơn nữa, phần lớn các hợp đồng chính phủ lại giao cho các công ty quốc doanh thực
hiện, nên khả năng mở rộng các hoạt động xuất khẩu của khu vực kinh tế tư nhân bị
hạn chế.
- Chi phí cao trong hệ thống cung cấp tín dụng chính thức đã không khuyến
khích được người nông dân và các nhà chế biến lúa gạo gia tăng mức đầu tư, và
buộc nông dân phải tìm đến hệ thống tín dụng phi chính thức và khiến các nhà xay
xát phải trì hoãn hoặc cắt giảm đầu tư.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ
SẢN LƯƠNG GẠO XUẤT KHẨU
3.1 Mục tiêu cần đạt trong công tác quản lý và xuất khẩu gạo
− Đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước khi nghĩ đến vấn đề
xuất khẩu, tăng thêm khối lượng lương thực dự trữ, thỏa mãn nhu cầu
lương thực trong bất kì tình huống nào.
− Đảm bảo nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp.
− Tiếp tục giữ vững vị trí là một trong hai nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế
giới.
3.2 Các chính sách liên quan đến sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Từ khi bắt đầu sự nghiệp đổi mới vào năm 1986, chính phủ Việt Nam đã xây
dựng nhiều chính sách theo hướng kinh tế thị trường. Các chính sách tác động đến
sản xuất lúa gạo và thúc đẩy nông dân gia tăng sản xuất là các chính sách về sử dụng
đất, đầu tư, thương mại và thị trường.
Chính sách đất đai
Trong thời kỳ chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường, Việt
Nam đã bước đầu trao quyền sử dụng đất cho nông dân. Luật Đất đai năm 1988
được xem như một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với nông dân. Nông dân
Chính sách thương mại quốc tế.
Việt Nam đã dỡ bỏ hạn ngạch xuất khẩu từ năm 1996 và kể từ ngày 1 tháng 5
năm 2001, cho phép tất cả các thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh lương thực
được tham gia xuất khẩu gạo.
3.3 Một số giải pháp
Cần phải tiếp tục cải thiện môi trường sản xuất kinh doanh để đảm bảo an
ninh lương thực và xoá đói giảm nghèo cũng như để gia tăng kim ngạch xuất khẩu
cho ngành hàng lúa gạo. Có hai lĩnh vực quan trọng mà ở đó một môi trường kinh
doanh thuận lợi sẽ giúp cho ngành lúa gạo phát triển được. Một là, phải nâng cao
hiệu suất của ngành hàng lúa gạo; và hai là, Việt Nam phải tạo được khả năng để trở
thành nhà xuất khẩu cho các thị trường gạo đặc sản và gạo chất lượng cao. Để thực
hiện được hai mục tiêu trên Việt Nam phải tạo dựng được một môi trường sản xuất
kinh doanh thuận lợi cho cả hai khu vực: kinh tế quốc doanh và kinh tế tư nhân. Các
nỗ lực nhằm cải thiện năng suất phải tập trung vào tăng năng suất lúa và giảm chênh
lệch về năng suất giữa các vùng. phải xử lý một loạt các vấn đề liên quan đến khâu
giống, cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng và vật tư nông nghiệp, cũng như các dịch
vụ khuyến nông. Mặc dù khả năng tăng thêm năng suất lúa ở các vùng đồng bằng
châu thổ (vốn đã có được mức năng suất trung bình khá cao) là không nhiều, song
cơ hội để cải thiện năng suất lúa ở các vùng xâu, vùng xa và các vùng đất cao vẫn
còn.
Khu vực kinh tế tư nhân phải được khuyến khích tham gia phát triển các thị
trường gạo đặc sản có giá trị kinh tế cao, đem lại lợi ích cho một số ít các hộ nông
dân có khả năng cung cấp các giống lúa gạo chất lương cao. Đồng thời cũng cần
phải khuyến khích gia tăng sản lượng và năng suất của các loại gạo đại trà khác.
5. Kết luận và kiến nghị.
5.1 Kết luận
Trong những năm qua, khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam liên tục
tăng, điều đó cho thấy khả năng huy động sản lượng gạo cho xuất khẩu của nước ta
ngày càng được nâng cao.Hơn nữa chất lượng gạo xuất khẩu gạo hiện nay cũng