Luận văn: Phân tích thực trạng và hiệu quả sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA) ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay doc - Pdf 18

Luận văn: Phân tích
thực trạng và hiệu quả
sử dụng vốn hỗ trợ phát
triển chính thức(ODA)
ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
Mục lục
Luận văn: Phân tích thực trạng và hiệu quả sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA)
ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 1
Mục lục 2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kì phát triển kinh
tế với tốc độ cao. Điều kiện không thể thiếu để phục vụ cho phát triển kinh tế là
nhu cầu về vốn nhưng nguồn vốn trong nước lại không đủ đáp ứng được nhu cầu
trong giai đoạn này. Do đó một nhiệm vụ quan trọng được đặt ra là phải thu hút
được một cách có hiệu quả các nguồn vốn từ bên ngoài. Hiện nay một nguồn vốn
có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của các quốc gia đó là vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA), nguồn vốn này đã và đang có vai trò quan trọng
trong tiến trình tăng trưởng và hội nhập của nền kinh tế Việt Nam. Phát triển cơ
sở hạ tầng, giao thông vận tải là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu được
đầu tư bằng nguồn ODA đã có những bước phát triển vượt bậc, góp phần đáng
kể vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên ODA không chỉ là một
khoản cho vay, mà đi kèm theo nó là các điều kiện ràng buộc về chính trị, kinh
tế. Sẽ là gánh nặng nợ nần cho các thế hệ sau hoặc phải chịu sự chi phối của
nước ngoài nếu chúng ta không biết cách quản lý và sử dụng vốn ODA. Mặt
khác việc quản lý và sử dụng vốn ODA ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập, thiếu
sót gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc. Nhận thấy vấn đề trên, em quyết định thực
hiện đề tài “ Phân tích thực trạng và hiệu quả sử dụng vốn hỗ trợ phát triển
chính thức(ODA) ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” nhằm đưa ra một số
biện pháp để quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA có hiệu quả nhất.

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐẨY MẠNH THU HÚT VỐN HỖ TRỢ PHÁT
TRIỂN CHÍNH THỨC
1.1 Vốn hỗ trợ phát triển chính thức và các khái niện có liên quan.
1.1.1 Khái niện về vốn hỗ trợ phát triển chính thức.
ODA là tên viết tắt của cụm từ Official Development Assistance có nghĩa là:
Hỗ trợ phát triển chính thức hay Viện trợ phát triển chính thức. Hiện nay trên thế
giới có nhiều quan điểm khác nhau về ODA nhưng nói chung những quan điểm này
đều có chung một bản chất. Theo cách hiểu chung nhất thì ODA là các khoản viện
trợ không hoàn lại hoặc cho vay với những điều kiện ưu đãi của các cơ quan tài
chính , các tổ chức quốc tế các nước, các tổ chức phi chính phủ nhằm hỗ trợ phát
triển cho các nước khác.
1.1.2 Phân loại vốn ODA.
1.1.2.1Theo tính chất:
a) ODA không hoàn lại: Đây là nguồn ODA mà nhà tài trợ cấp cho các nước nghèo
mà không cần hoàn lại. Đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn này thường cấp
dưới dạng các dự án hỗ trợ kỹ thuật, các chương trình xã hội. ODA không hoàn lại
thường là các khoản tiền nhưng cũng có khi là hàng hóa.
b) ODA vốn vay ưu đãi: Đây là khoản tài chính mà chính phủ nước nhận phải trả
nước cho vay, chỉ có điều đây là khoản vay ưu đãi. Tính ưu đãi thể hiện quan mức
lãi xuất cho vay thấp thường dưới 3%/năm, thời gian kéo dài. Loại ODA này thường
được đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng như xây dựng đường xá, cầu cảng…Muốn
được nhà đầu tư đồng ý cung cấp, nước sở tại phải đệ trình các văn bản dự án lên
các cơ quan có thẩm quyên của chính phủ nước tài trợ. Sau khi xem xét tính khả thi
và tính hiệu quả của dự án, cơ quan này sẽ đệ trình lên chính phủ để phê duyệt. Loại
ODA này chiếm phần lớn khối lượng ODA trên thế giới hiện nay.
c) Hình thức hỗn hợp: ODA theo hình thức nay bao gồm một phần là ODA không
hoàn lại và một phần là ODA vốn vay ưu đãi. Đây là loại ODA được áp dụng phổ
biến trong thời gian hiện nay. Loại ODA này được áp dụng nhằm mục đích nâng cấp
hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.

1.2.1 Đối với nước xuất khẩu vốn.
Trong xu thế hội nhập các nước phát triển cũng đang tìm kiếm cơ hội đầu tư, mở
rộng thị trường ra bên ngoài, để làm được điều đó trước tiên phải cải tạo, đổi mới cơ
sở hạ tầng ở các nước đang phát triển, mở đường cho nguồn vốn đầu tư trực tiếp.
Ngoài ra, nguồn vồn ODA song phương tạo điều kiện thuận lợi cho nước viện trợ
trong việc củng cố vị thế chính trị cũng như kinh tế. ODA giúp các nước phát triển
dễ dàng tìm hiểu thị trường các nước đang phát triển, vươn ra chiếm lĩnh thị trường,
khai thác tài nguyên phong phú, nguồn nhân lực dồi dào từ nước nhận viện trợ, tiêu
thụ được hàng hóa thông qua các điều kiện buộc các nước nhận viện trợ phải mua
hàng hóa, thiết bị, công nghệ của mình.
Bên cạnh đó, nguồn vốn ODA hỗ trợ cho các nước nghèo không đơn thuần chỉ
vì mục đích kinh tế mà còn vì mục đích chính trị. VD: Năm 2003 Mỹ sẵn sàng viện
trợ và cho Thổ Nhĩ Kỳ vay một khoản tiền lớn để đổi lấy việc Thổ Nhĩ Kỳ cho
phép Mỹ đóng quân trong cuộc chiến tranh tấn công I- Rắc.
1.2.2 Đối với nước nhập khẩu vốn.
Các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng muốn đẩy mạnh phát
triển kinh tế thì phải có một lượng vốn lớn để tập trung đầu tư vào các lĩnh vực quan
trọng như xây dựng cơ sở hạ tầng. Do đó không chỉ dựa vào nguồn vốn trong nước
mà còn phải biết tận dụng nguồn vốn từ bên ngoài. Một thực tế là muốn phát triển
kinh tế, các nước phải có một khoản đầu tư tương xứng. Đáp ứng nhu cầu trên,
nguồn vốn ODA thường có đặc thù là lãi suất thấp, thời hạn dài ( thường từ 15-40
năm lại thêm thời gian ân hạn từ 10 đến 20 năm), bên cạnh đó nguồn vốn này còn
hỗ trợ các nước nghèo giải quyết các vấn đề trên, điều mà nguồn vốn đầu tư trực tiếp
không làm được. VD: Cầu Cần Thơ được xây dựng nhờ vốn ODA của Nhật với tổng
mức đầu tư khoảng 4832 tỷ VND.
Xét mối quan hệ giữa ODA và tăng trưởng kinh tế không hoàn toàn tỉ lệ thuận
tức là không phải cứ viện trợ tăng lên thì tăng trưởng kinh tế cũng tăng lên. Nó còn
phụ thuộc vào khả năng quản lý tốt của nước nhận viện trợ.
ODA giúp tăng thu nhập bình quân đầu người dẫn đến tăng phúc lợi và mức
sống cho người dân cũng tăng theo, đặc biệt là các dự án liên quan đến phổ cập giáo

Ngoài ra, nguồn vốn ODA còn hỗ trợ các địa phương, đặc biệt các tỉnh còn
nghèo, những các công trình phục vụ trực tiếp đời sống của nhân dân như giao thông
nông thôn, cấp điện và nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế xã và các bệnh viện
tỉnh và huyện, các công trình thủy lợi, các chợ nông thôn,
Thứ ba, ODA có vai trò quan trọng hỗ trợ Việt Nam xây dựng và hoàn thiện
khung thể chế, pháp lý (xây dựng và hoàn thiện các Luật, các văn bản dưới Luật)
thông qua việc cung cấp chuyên gia quốc tế, những kinh nghiệm và tập quán tốt của
quốc tế và khu vực trong lĩnh vực pháp luật đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Thứ tư, nguồn vốn ODA có vai trò tích cực hỗ trợ phát triển năng lực con
người trong việc đào tạo và đào tạo lại hàng vạn cán bộ Việt Nam trong thời gian
qua trên rất nhiều lĩnh vực như nghiên cứu cơ bản và ứng dụng khoa học, công
nghệ, quản lý kinh tế và xã hội, thông qua việc cung cấp học bổng nhà nước, cử
chuyên gia nước ngoài để đào tạo tại chỗ trong quá trình thực hiện các chương trình,
dự án ODA, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, cung cấp trang
thiết bị nghiên cứu và triển khai,
Tóm lại, ODA đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc phát triển kinh tế của
các nước đang phát triển đặc biệt là trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng do tính chất ưu đãi
đặc thù của nguồn vốn này. Tuy vậy, việc sử dụng nguồn vốn này không phải là
không còn hạn chế.
1.2.3 Trong điều kiện hội nhập ở Việt Nam.
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại háo đất nước và nhất là phấn đấu đến
năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để đạt được mục tiêu nay cần nhanh chong phát triển đất nước, thu hút các nguồn
lực từ bên ngoài trong đó có nguồn vốn ODA. Điểm qua các sự kiện hội nhập của
Việt Nam:
- Ngày 3 tháng 2 năm 1994, Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam.
- Ngày 28 tháng 7 năm 1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức của
ASEAN.
- Ngày 14 tháng 11 năm 1998, Việt Nam là thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh

năm, những nguồn vốn này có thời gian hoàn lại rất lâu nhằm tạo điều kiện cho các
nước nghèo tận dụng nguồn vốn này để phát triển kinh tế- xã hội. Bên cạnh đó ODA
còn có hình thức không hoàn lại có được nguồn vốn này sẽ tạo điều hiện rất lớn để
phát triển đất nước. Với những ưu điểm trên mà nguồn vốn khác không có được thì
ODA thực sự cần thiết cho những nước đang trong giai đoạn phát triển như Việt
Nam.
1.4.2 Nhược điểm.
Với những ưu điểm trên thì nguồn vốn ODA đang được các quốc gia đang phát
triển tận dụng tối đa, biểu hiện qua việc đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao để thu
hút nguồn vốn này. Một thực tế là nguồn vốn ODA không hoàn lại chỉ chiếm một
phần nhỏ trong vốn ODA mà các nước phát triển viện trợ ra bên ngoài. Còn lại phần
lớn là nguồn vốn ODA cho vay với lãi xuất thấp đây là nguồn vốn có vay có trả, sẽ
là ghánh nặng về nợ cho đất nước và thế hệ tương lai. Nếu các quốc gia kém phát
triển không sử dụng nguồn vốn này hiệu quả và cân nhắc thì sẽ gây ra “ Tiền mất tật
mang”.
Trong khi các nước kém phát triển tận dụng ODA để phát triển kinh tế thì các
nước phát triển tận dụng nguồn vốn này vì mục đích chính trị. Để nhận được nguồn
vốn ưu đãi này đôi khi các kém phát triển phả chấp nhận một số điều kiện về kinh
tế- chính trị mà nước tài trợ đề ra, vấn đề này hết sức quan trọng nên đòi hỏi các
quốc gia phải hết sức thận trọng để không trở thành quân cở trong bàn cờ chính trị
của các nước phát triển.
1.5 Sự cần thiết phải thu hút và quản lý nguồn vốn ODA.
Đi lên từ một nền kinh tế nông nghiệp, đất nước ta còn nghèo nàn và lạc hậu,
hiện nay chúng ta chưa có đủ các tiền đề cần thiết cho một sự phát triển bền vững.
Để phát triển nền kinh tế với tốc độ nhanh trong khi nền kinh tế nhỏ bé đang
thiếu vốn nghiêm trọng và tiết kiệm trong nước còn quá thấp thì cần phải bổ sung
nguồn vốn từ nước ngoài. Các công trình thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng của nước ta
hiện nay đã xuống cấp nghiêm trọng, không thể duy trì phát triển kinh tế lâu dài. Hệ
thống đường giao thông thì chấp vá, mỗi năm phải chi tiền để tu bổ. Hệ thông sân
bay, cầu cảng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu của đất nước trong quá trình phát

rộng rãi: Nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ bình quân 7,5%/năm, GDP năm
2010 đạt 102.2 tỷ USD, mức đói nghèo giảm từ trên 50% vào đầu những năm 90
xuống còn dưới 10% vào năm 2010, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện đánh
dấu bằng việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO), được bầu là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp
Quốc, Việt Nam là thành viên tích cực của ASEAN, APEC, và nhiều Diễn đàn, tổ
chức quốc tế khác, Những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua có
phần đóng góp quan trọng của viện trợ phát triển như một phần trong sự nghiệp phát
triển của Việt Nam.
Theo tập quán tài trợ quốc tế, hàng năm các nhà tài trợ tổ chức Hội nghị viện trợ
quốc tế để vận động tài trợ cho các quốc gia đang phát triển. Đối với Việt Nam, sau
Hội bàn tròn về viện trợ phát triển dành cho Việt Nam diễn ra lần đầu tiên vào năm
1993, các hội nghị viện trợ tiếp theo được đổi tên thành Hội nghị Nhóm tư vấn các
nhà tài trợ dành cho Việt Nam (gọi tắt là Hội nghị CG) và Việt Nam từ vị thế là
khách mời đã trở thành Đồng chủ trì Hội nghị CG cùng với Ngân hàng Thế giới. Địa
điểm tổ chức Hội nghị CG cũng thay đổi từ việc tổ chức tại nước tài trợ như tại
Pháp, Nhật Bản, sang về tổ chức tại Việt Nam.
Hội nghị CG thường niên thực sự là diễn đàn đối thoại giữa Chính phủ và cộng
đồng các nhà tài trợ quốc tế về chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế
- xã hội của Việt Nam, trong đó quan hệ hợp tác phát triển và việc cung cấp, sử dụng
viện trợ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo là một
nội dung gắn kết chặt chẽ, không tách rời. Ngoài Hội nghị CG thường niên, còn tổ
chức Hội nghị CG giữa kỳ không chính thức tại các địa phương, tạo điều kiện cho
các nhà tài trợ gần với người dân và nắm bắt được nhu cầu phát triển cần được hỗ
trợ của họ.
Là diễn đàn đối thoại về chính sách và viện trợ, song không khí chung của tất cả
các Hội nghị CG cho đến nay là dựa trên tinh thần quan hệ đối tác và mang tính xây
dựng, trong đó các nhà tài trợ tôn trọng vai trò làm chủ và lãnh đạo quốc gia của
Việt Nam trong quá trình phát triển.
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều

ưu đãi nước ngoài (ODA kém ưu đãi) dự kiến sẽ huy động khoảng từ 1,5-2,0 tỷ
USD mỗi năm.
Nguồn vốn này sẽ nhằm hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật quy mô
lớn, đồng bộ và hiện đại, bao gồm: Phát triển đường cao tốc, cảng biển, sân bay
quốc tế… ; Phát triển công nghiệp điện (nguồn và lưới điện) trong đó tập trung xây
dựng các nhà máy điện sử dụng nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo có tác
dụng bảo vệ môi trường; Phát triển thông tin liên lạc và bưu chính viễn thông, đặc
biệt ở khu vực nông thôn, ; Phát triển các ngành nông nghiệp sử dụng công nghệ
cao, các công trình thủy lợi quy mô lớn và các lĩnh vực hạ tầng khác liên quan đến
chương trình nông nghiệp, nông thôn và nông dân theo tinh thần của Nghị quyết
Trung ương 5.
Từ những thông tin trên cho biết Việt Nam đang thực hiện rất tốt các chính sách
thu hút đầu tư ODA. Tuy nhiên, nguồn vốn ODA giải ngân vẫn còn thấp so với cam
kết, điều này đã ảnh hưởng không ít tới hiệu quả đầu tư của nguồn vốn này.
2.1.2 Cơ cấu đầu tư theo ngành nghề, lĩnh vực.
Có thể nhận thấy trong thời kỳ này tình hình giải ngân vốn ODA có những cải
thiện nhất định với chiều hướng tích cực qua các năm. Tuy nhiên, mức giải ngân này
vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và
tỷ lệ giải ngân vẫn còn thấp hơn mức trung bình của thế giới và khu vực đối với một
số nhà tài trợ cụ thể.
Căn cứ vào nhu cầu vốn đầu tư và định hướng phát triển theo ngành, lĩnh vực và
vùng lãnh thổ đề ra trong các chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Chính
phủ Việt Nam đã đưa ra định hướng chiến lược, chính sách và những lĩnh vực ưu
tiên sử dụng vốn ODA cho từng thời kỳ. Gần đây nhất, trên cơ sở tham vấn rộng rãi
các nhà tài trợ, ngày 29 tháng 12 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 290/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát
triển chính thức thời kỳ 2006-2010. 5 lĩnh vực ưu tiên thu hút và sử dụng ODA
trong thời kỳ 5 năm 2006-2010 bao gồm:
− Phát triển nông nghiệp và nông thôn (bao gồm nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm
nghiệp, thuỷ sản kết hợp xóa đói, giảm nghèo).

4,3-4,9 36% 5,8-6,6
Tổng 12-13,6 100% 16-18,2
2.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút ODA vào Việt Nam.
2.2.1 Phân tích các yêu tố bên trong.
- Thời gian phê duyệt thẩm định dự án: Hiện nay, quy định về trình tự và thủ tục xét
duyệt dự án của phía Việt Nam còn rườm rà, phải qua nhiều bước, nhiều cấp xét
duyệt. Hơn nữa, thủ tục hành chính của cơ quan Nhà nước còn chậm đổi mới.
- Công tác đấu thầu, xét thầu: Qua thực tế triển khai công tác này bộc lộ nhiều thiếu
sót, chưa sát với thực tế và chưa hài hòa với quy trình thủ tục của bên tài trợ. Riêng
với quy chế Đấu thầu 88/CP và quy chế quản lý Đầu tư 52/CP, Bộ kế hoạch và đầu
tư, các ban quản lý dự án và các nhà tài trợ đều thừa nhận rằng có sự thiếu nhất quán
trong hai quy định này, chẳng hạn như quy định mang tính nguyên tắc về lựa chọn
nhà đầu tư chưa phù hợp với đặc thù của từng dự án, các nội dung về quản lý đấu
thầu và chỉ định thầu còn nhiều điểm chưa đồng nhất khiến việc thực hiện các dự án
gặp nhiều khó khăn.
- Thủ tục giải ngân các dự án: Hiện nạy công tác giải ngân nguồn vồn còn chậm
chưa đáp ứng tiến độ công trình của dự án, gây chậm tiến độ so với kế hoạch đặt ra.
- Nguồn nhân lực cho các dự án ODA: Nguồn nhân lực của nước ta trong lĩnh vực
này còn thiếu và yếu về năng lực. Chúng ta cần xây dựng được một đội ngũ chất
lượng cao về thẩm định, giám sát các dự án có nguồn vốn ODA.
2.2.2 Phân tích các yêu tố bên ngoài.
Trong những năm qua nền kinh tế thế giới phát triển không ổn định, đặc biệt là
cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 đã làm các nước phát triển trên thế giới
lâm vào khủng hoảng, tiếp theo là lạm phát xảy ra ở hầu hết các nền kinh tế lớn đã
ảnh hưởng không ít đến đầu tư của các nước này vào các nước đang phát triển.
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THU HÚT VỐN ODA VÀO VIỆT NAM
3.1 Mục tiêu, quan điểm các giải pháp.
3.1.1 Mục tiêu đề xuất các giải pháp.
Mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2010-2020 là

kinh tế xã hội, phát triển nguồn nhân lực và tăng cường thể chế.
Quan điểm 5: Đầu tư vốn ODA để phát triển hạ tầng kinh tế có trọng tâm
trọng điểm.
Quan điểm 6: Ưu tiên bố trí viện trợ không hoàn lại cho các dự án văn hóa
xã hội ở miền núi, vùng sâu vùng xa trên cơ sở định hướng chung và các quan
điểm, mục tiêu của việc thu hút và quản lý sử dụng ODA.
3.2 Các giải pháp đẩy mạnh thu hút ODA vào Việt Nam.
3.2.1 Về Cơ chế chính sách:
- Ban hành các văn bản luật, các quy định cụ thể về thu hút, quản lý, sử dụng vốn
ODA. Xây dựng một đề cương về thu hút ODA trong tương lai.
- Tăng cường các biện pháp ngoại giao, quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên
thế giới, từ đó tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè trên thế giới.
- Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính để nguồn vốn ODA có thể nhanh chóng đi
vào các dự án.
- Cần điều chỉnh chính sách thuế phù hợp. Trên thực tế chỉ trừ những dự án ODA ở
dạng viện trợ không hoàn lại mới được miễn thuế hàng hóa, còn các dự án vay lại từ
phía chính phủ thì tiền thuế cho các hàng hóa thuộc dự án đều được giải ngân từ
nguồn vốn đối ứng, lấy từ ngân sách nhà nước. Do đó, việc đánh thuế hàng hóa các
dự án sử dụng vốn ODA thực chất là “ lấy tiền từ túi này bỏ vào túi kia” của Nhà
nước, làm cho các dự án chậm tiến độ mà lại tốn kém chi phí quản ly. Vì vậy cần
tiến tới miễn thuế cho các hàng hóa nhập khẩu của dự án.
3.2.2 Vế tổ chức thực hiện dự án:
- Công tác thẩm định phê duyệt dự án:
Giảm bớt thời gian cho công tác chuẩn bị dự án.Để có thể chuẩn bị tốt dự án
cần phải có đội ngũ cán bộ am hiểu cách thức lập dự án khả thi cũng như các điều
kiện của nhà tài trợ để đảm bảo không có sự sai lệch.
Tiến hành thẩm định, phê duyệt dự án một cách nhanh nhất. Muốn vậy thì phải
giảm bớt các thủ tục hành chính phiền hà, có những linh hoạt trong việc xét duyệt
đối với chủ đầu tư. Một giải pháp nữa là phải tăng cường hiệu quả của các đầu mối
quản lý và điều phối ODA, các cơ quan này có vai trò quan trọng đối với quá trình

tác vận động ODA mà nó còn là đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển
chung của ngành giao thông vận tải.
Phát huy những thành tựu đạt được trong những năm vừa qua, với đội ngũ
nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao từ ban quản lý dự án, Tư vấn, tới các nhà
thầu trong việc triển khai các dự án. Tôi tin rằng ngành giao thông vận tải Việt Nam
nói riêng và các ngành khác nói chung sẽ đạt được mục tiêu đề ra và vươn tới những
tầm cao mới trong tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS Nguyễn Văn Sĩ (2010). “Giải pháp tiếp nhận và sử dụng hiệu quả nguồn
vốn ODA tai Việt Nam giai đoạn 2010-2020”, Tr 5-7.
2. ThS Nguyễn Hữu Tâm (2008). Bài giảng phương pháp nghiên cứu kinh tế.
3. Bản tin ODA (2009), Bộ kế hoạch và đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status