TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI: MỐI LIÊN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI TƯ
DUY VỚI ĐỔI MỚI KINH TẾ Ở NƯỚC TA.
Họ và tên: Trần Thị Kim Dung
Lớp: Anh 8-Khối 2-TC
Giáo viên hướng dẫn: Thạc sĩ Trần Huy QuangHà Nội, ngày 5/11/2010
1
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
Chương 1. Lý luận và thực tiễn 2
1.1. Khái niệm lý luận 2
1.2. Khái niệm thực tiễn 2
1.3. Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn 3
Chương 2. Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta 5
2.1. Lý do đổi mới 5
2.2. Nội dung đổi mới 6
2.2.1. Đổi mới tư duy 6
2.2.2. Đổi mới kinh tế 7
2.3. Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế 9
Kết luận 12
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………….13
2
MỞ ĐẦU
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ
Lý luận học có quan hệ mật thiết với rất nhiều môn khoa học khác. Đối
tượng nghiên cứu của Lý luận học là tư tưởng của con người và công nghệ tư duy
của con người mang tính lý luận cùng những vấn đề cơ bản của lý luận nhằm cải
biến thực tế khách quan vì sự phát triển của con người và đem lại lợi ích cho con
người.
Lý luận là xuyên suốt và chi phối tư duy logic, qua đó, chi phối ngày càng
mạnh mẽ mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn của đời sống xã hội. Không thể
đồng nhất mọi khái niệm lý luận với chân lý vì lý luận có hai dạng - khái niệm lý
luận chân chính - khoa học và khái niệm lý luận giả tạo - phản khoa học.
Lý luận thường mang tính hệ thống, dù là chân chính - khoa học hay giả tạo -
phản khoa học. Tính hệ thống của một lý luận phản ánh - hoặc trung thực hoặc
xuyên tạc tính hệ thống vốn có ở bản thân đối tượng được phản ánh, qua đó mà phản
ánh trung thực hoặc xuyên tạc cấu trúc nội tại cùng với bản chất của đối tượng.
Lý luận không tự thân xuất hiện, tồn tại, vận động, phát triển. Xét đến cùng,
giá trị cũng như sự xuất hiện, tiêu vong của một khái niệm là ở khả năng phản ánh
đời sống thực tiễn một cách trung thực, chính xác và sâu sắc như thế nào và nhờ
đó, nó có khả năng định hướng cho đời sống thực tiễn như thế nào.
2. Khái niệm Thực tiễn
4
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch
sử, xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Thực tiễn có các đặc trưng: là hoạt động vật chất, không phải hoạt động tinh
thần; mang tính mục đích và có ý thức của con người; mang tính lịch sử - xã hội,
tùy thuộc bối cảnh, không gian, thời gian mà thực tiễn có cách thức, phương pháp
thực hiện khác nhau; hướng tới cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và từ đó cải tạo
chính bản thân con người.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là dạng hoạt động cơ
bản và phổ biến của xã hội loài người, mang tính lịch sử-xã hội cụ thể. Con người
phải lao động sản xuất, chế tạo và sử dụng công cụ lao động, để tạo ra của cải vật chất
nuôi sống mình. Do đó, thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã
dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực
chất lý luận, chỉ thuộc câu chữ lý luận và do đó cũng không thể hiểu được bản chất
và cũng không thể vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn
mới nảy sinh. Nếu có vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với thực
tiễn.
Tuy nhiên, Lý luận phải kết hợp chặt chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với
thực tiễn nếu không lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh giáo điều.Lý luận cốt
để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế
là lý luận suông.
Mối liên hệ của thực tiễn với lý luận còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu
chuẩn chân lý, lấy thực tiễn để kiểm tra lý luận. Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của
con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một
vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải
chứng minh chân lý. Nhận thức khoa học còn có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn
logic. Nhưng tiêu chuẩn logic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét
đến cùng, nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn.
6
Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận là một quá trình mang tính lịch sử - xã hội
cụ thể. Quan hệ giữa chúng là quan hệ biện chứng. Nắm bắt được tính chất biện
chứng của quá trình đó, là tiền đề quan trọng giúp chúng ta có được lập trường
thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng thiển cận, cũng như chủ nghĩa
giáo điều máy móc và bệnh lý luận suông.
7
Chương II
Mối liên hệ giữa đổi mới tư duy và đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay
1. Lý do đổi mới
Trong giai đoạn sau giải phóng, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu tìm
tòi, xây dựng đường lối, xác định đúng mục tiêu và phương hướng xã hội chủ
nghĩa. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách
quan: nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành
2.1. Đổi mới tư duy
Mục tiêu, bản chất của chủ nghĩa xã hội: Mỗi quốc gia, dân tộc đều phải suy
nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với
điều kiện, đặc điểm của nước mình. Hiện nay, nước ta còn đang ở thời kỳ quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội, có rất nhiều vấn đề cần được nhận thức, vận dụng đúng đắn,
phù hợp với thực tế và quy luật khách quan; không thể nôn nóng, giáo điều, máy
móc.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Đối với nước ta trong giai
đoạn hiện nay, giải phóng và phát triển sức sản xuất, bảo đảm cho kinh tế tăng
trưởng nhanh, phát triển bền vững phải là nhiệm vụ chính trị trọng đại số một,
nhiệm vụ trọng tâm.
Phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội: Tại Đại
hội VI lần đầu tiên trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã đặt đúng tầm
vấn đề xã hội trong mối quan hệ với kinh tế. Và càng về sau Đảng ta càng khẳng
định phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã
hội, phát triển kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
Phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hóa
thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội: Phát triển văn hóa đồng bộ và tương xứng
với tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, tiến bộ chính trị, là một định hướng căn
bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thể hiện sự nhận thức mới,
sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta.
9
. Giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị vì sự phát triển của đất nước:
Chúng ta đã đổi mới nhận thức về tình hình thế giới và khu vực; chuyển từ cách
nhìn thế giới chỉ dưới góc độ một vũ đài đấu tranh sang cách nhìn toàn diện hơn; coi
thế giới như môi trường tồn tại và phát triển của Việt Nam; đổi mới tư duy đối ngoại
theo tinh thần "thêm bạn bớt thù"…
Xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa:
Chúng ta từng bước nhận thức sâu sắc hơn, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa kinh tế và quốc
Ba là, từ quan niệm chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có một chế độ sở hữu duy
nhất là chế độ công hữu về tất cả các tư liệu sản xuất đã đi đến quan niệm về một
nền kinh tế nhiều sở hữu. Trong đó, không chỉ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
được thừa nhận, mà ngay chế độ công hữu cũng được hiểu không phải về tất cả các
tư liệu sản xuất mà chỉ là về các tư liệu sản xuất chủ yếu để làm chỗ dựa cho nền
kinh tế quốc dân.
Bốn là, từ quan niệm kinh tế quốc doanh là chủ đạo đã đi đến quan niệm kinh
tế nhà nước (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và những bộ phận khác như dự trữ
quốc gia, ngân sách nhà nước ) là chủ đạo.
Năm là, từ quan niệm hợp tác xã thuần túy là kinh tế tập thể, cho rằng tập thể
hóa tư liệu sản xuất càng mạnh, tỷ trọng sở hữu tập thể càng cao thì hợp tác xã càng
gần chủ nghĩa xã hội, do đó mà gò ép những người lao động cá thể vào hợp tác xã,
đã đi đến quan niệm hợp tác xã là một tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở
người lao động tự nguyện góp sức, góp vốn và quản lý dân chủ, với quy mô và mức
độ tập thể hóa tư liệu sản xuất khác nhau.
Sáu là, từ quan niệm hai thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể,
với việc xóa bỏ nhanh các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, ngay từ đầu, đã
là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đã đi đến quan niệm rằng muốn cho hai
thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững
chắc của nền kinh tế quốc dân, thì phải trải qua một quá trình xây dựng, củng cố và
phát triển hai thành phần đó với những bước đi thích hợp.
11
Bảy là, từ quan niệm Nhà nước phải chỉ huy nền kinh tế theo một kế hoạch
tập trung với những chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống, đã đi đến quan niệm
phân biệt rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh
doanh; chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chủ sở hữu tài sản công là thuộc
Nhà nước, còn chức năng quản lý kinh doanh thì thuộc về doanh nghiệp.
Tám là, từ quan niệm chỉ thừa nhận một hình thức phân phối duy nhất chính
đáng là phân phối theo lao động, đã đi đến quan niệm thực hiện nhiều hình thức
phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu,
Trong hoàn cảnh ấy, đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng trở thành
nhu cầu không thể thiếu.
Thực tiễn cho thấy, sức sống của một Đảng chính trị tập trung trước hết là ở
đường lối của chính Đảng ấy. Là một Đảng cầm quyền, Đảng ta lãnh đạo cách mạng
cũng chính bằng đường lối chính trị của mình.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa rõ ràng là những vấn đề hoàn
toàn mới cả về lý luận và thực tiễn. Mác, Ăng ghen, Lênin và kể cả các lãnh tụ tiền
bối của Đảng ta cũng chưa từng đề cập đến vấn đề này. Con đường phía trước đòi
hỏi chúng ta phải hoàn toàn sáng tạo mới.
Con đường ấy vừa thể hiện sự trung thành với quá khứ, nhưng không lệ thuộc
vào quá khứ. Trong kinh tế, chúng ta một mặt rất muốn phát triển, nhưng mặt khác
lại rất sợ phát triển vượt khỏi khuôn khổ chuẩn mực của chủ nghĩa xã hội theo
những tiêu chí truyền thống. Vì vậy, đường lối kinh tế vẫn mang nặng hơi thở của
lối tư duy cũ, tư duy thời kế hoạch hoá-tư duy bao cấp, đối lập với kinh tế thị
trường. Kết quả là đường lối đổi mới trong kinh tế chưa thực sự khơi dậy mọi nguồn
lực hiện có. Nguy cơ tụt hậu về kinh tế ngày càng xa hơn là có thật. Do đó, Đảng đã
chỉ đạo chuyển sang kinh tế thị trường, thiết kế một hệ thống chính sách nhằm tạo
điều kiện để tất cả mọi công dân ở trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài, có khả
năng làm kinh tế đều hoàn toàn có thể tham gia làm kinh tế, theo những định hướng
vĩ mô của nhà nước, trong khuôn khổ của luật pháp.
13
Đường lối đổi mới là sản phẩm của đổi mới tư duy, của sự khảo nghiệm từ
thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội nhiều năm trước đó, là sự kế thừa và phát triển
đường lối đã hình thành qua các thời kỳ và tổng kết thực tiễn một cách nghiêm túc,
sáng tạo.
Khẳng định đổi mới tư duy là trước tiên, là cơ sở cho việc đổi mới ở các lĩnh
vực khác, Đảng ta cũng khẳng định đổi mới kinh tế giữ vai trò trọng tâm. Điều
đó không chỉ có ý nghĩa là kinh tế có vị trí hàng đầu, có tác dụng quyết định mà
còn là vì phát triển kinh tế trong điều kiện bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa tiến lên
chủ nghĩa xã hội như nước ta, có tầm quan trọng đặc biệt, nếu không muốn nói là
Trải qua hơn 20 năm đổi mới thành công, sự nghiệp đổi mới đã được rất
nhiều học giả nghiên cứu ở phạm vi thế giới cũng như ở Việt Nam. Trong phạm vi
nghiên cứu đề tài này, tôi đã cố gắng bám sát lý luận đã được trang bị ở môn
Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, đặc biệt là nội dung về mối
liên hệ giữa lý luận và thực tiễn, từ đó phân tích về mối liên hệ giữa đổi mới tư duy
và đổi mới kinh tế trong sự nghiệp đổi mới toàn diện ở nước ta. Nhưng do thời
gian nghiên cứu có hạn, kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, tài liệu tản mạn,
đồng thời vấn đề mà tôi nghiên cứu không phải là dễ. Vì vậy, đề tài không tránh
khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi hy vọng rằng vấn đề này sẽ được tổ chức
nghiên cứu ở phạm vi rộng lớn và sâu sắc hơn.
15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa X về
“Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn
khoa học Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Giáo trình triết học Mác – Lê nin,
nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2004.
Lưu Hà Vĩ, Khái niệm lý luận, tạp chí Triết học, số đăng ngày 4/12/2006.
Nguyễn Phú Trọng, Đổi mới tư duy lý luận vì sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội, tạp chí Cộng sản điện tử, số đăng ngày 22/1/2007.
Phan Đình Diệu, Tiếp tục đổi mới tư duy về kinh tế xã hội, tạp chí Tia
sáng, số đăng ngày 28/9/2006.
Trần Nhâm, Tư duy đổi mới của đồng chí Trường Chinh, Việt báo, số đăng
ngày 8/2/2007.
Trần Văn Phòng, Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong Tư tưởng Hồ
Chí Minh, tạp chí Khoa học xã hội, số đăng ngày 28/4/2007.
Vi Thái Lang, Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, tạp chí
Triết học, số đăng ngày 11/5/2007.
Vũ Văn Phúc, Vai trò của chính trị đối với sự phát triển kinh tế, Tạp chí
cộng sản điện tử, số đăng ngày 25/10/2008.