Vài chia sẻ về xây dựng nhóm nghiên cứu
khoa học
Trong điều kiện năng lực nghiên cứu và phát triển còn thấp, tính liên kết
và cạnh tranh khoa học chưa cao, kinh phí nghiên cứu khoa học còn ít ỏi
và dàn trải như ở Việt Nam, mô hình nghiên cứu khoa học (NCKH) theo
nhóm sẽ có tác dụng khuyến khích phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao và tạo ra những bước đột phá trong một số lĩnh vực cần tập trung
phát triển. Vậy làm thế nào để xây dựng được nhóm NCKH mạnh? Dưới
đây, tác giả chia sẻ một số ý kiến và kinh nghiệm về vấn đề này.
KHÁI NIỆM VỀ NHÓM NCKH
Nhóm NCKH không giống với một cơ quan hành chính (nhà nước),
cũng không giống với cấu trúc nghiệp đoàn. Nhóm làm việc trên tinh
thần không có lương cơ bản. Các khoản thu, chi của nhóm phụ thuộc
vào kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phụ thuộc vào các đề
tài/dự án khoa học. Do vậy, cấu trúc của nhóm cần gọn nhẹ, linh hoạt tối
đa.
Nhóm NCKH có vai trò như một yếu tố có tính chất quyết định tới hình
thức, quy mô và chất lượng của một hoạt động khoa học, công nghệ nào
đó. Đồng thời là nền tảng quan trọng bậc nhất trong đào tạo, nhất là đào
tạo sau đại học (đối với các trường đại học). Trong đào tạo, nhóm
NCKH chính là môi trường ươm tạo người tài, mảnh đất sinh sôi nảy nở
các thủ lĩnh khoa học trong tương lai. Bên cạnh đó, nhóm NCKH còn là
đơn vị cơ sở cho các hoạt động chuyển giao công nghệ, đặc biệt thuận
lợi đối với công nghệ cao.
Nhìn chung, có thể hiểu nhóm NCKH là một tập thể các nhà khoa học
và học thuật có năng lực chuyên môn tốt, có tâm huyết, đạo đức nghề
nghiệp, sự chân thật trong công việc (honesty), có khát vọng định hướng
cùng một mục đích, một lĩnh vực chuyên môn nhất định; thực hiện
nhiệm vụ nghiên cứu và đào tạo tại một đơn vị hạt nhân (hay xoay
quanh đơn vị hạt nhân đó); được dẫn dắt bởi một (hay một vài) nhà
nghiên cứu có uy tín khoa học, đạo đức và đồng thời phải có khả năng tổ
biệt cần có tính chuyên nghiệp. Hai tính chất này phải được cộng hưởng
nhằm tạo sức mạnh mới cho toàn nhóm. Trong quá trình tập hợp nhân
sự, nên chú trọng các nhân tố kế thừa. Trong một đề tài lớn có thể có
nhiều hướng nhỏ, mỗi hướng nhỏ cần phải tìm được người có khả năng
làm chủ được chuyên môn và triển khai thực hiện. Trên cơ sở đó, các
thành viên được lựa chọn sẽ tạo thành nhóm chủ lực, trực tiếp phụ trách
nghiên cứu (Chief Investigators), những người khác làm công tác hỗ trợ.
Nhiệm vụ của từng thành viên cần được quán triệt chi tiết và cụ thể. Lý
lịch khoa học của mỗi thành viên trong nhóm chủ lực phải được hệ
thống.
Có phong cách riêng
Phong cách của một nhóm NCKH được tạo dựng một cách có chủ đích
ngay từ ban đầu bởi người thủ lĩnh, và nó phụ thuộc rất nhiều vào khát
vọng, cá tính… của người thủ lĩnh đó, ví dụ: Năng động – Hiệu quả –
Ham học hỏi – Làm việc hết mình. Đó là một phong cách riêng. Phong
cách ấy phải được bồi bổ thường xuyên để trở thành biểu tượng và sau
đó trở thành niềm tự hào của tập thể. Nó sẽ ăn sâu vào tâm trí của mỗi
thành viên, biến thành kim chỉ nam cho mỗi hành động của mỗi cá nhân.
Phong cách riêng sẽ để lại dấu ấn rất sâu trong mỗi chương trình làm
việc của cá nhân, trong các hoạt động nghiên cứu cũng như các sinh hoạt
khác. Những người không hoà nhập được với phong cách của nhóm sẽ
tự động rút lui.
Tác dụng của phong cách riêng rất lớn:
Để thực hiện điều này phải chú trọng tới những chi tiết nhỏ nhất, chẳng
hạn khi mỗi thành viên đều nhất trí mặc đồng phục, hiệu quả sinh hoạt
và lao động của tập thể sẽ khác hẳn trong không gian khoa học của
nhóm; hoặc là tạo các khẩu hiệu (slogan) cho nhóm. Mỗi thành viên cần
làm quen với tất cả các hoạt động chuyên môn của hướng nghiên cứu
riêng trong nhiệm vụ chung.
Người thủ lĩnh
- Vai trò “chất keo”: Trong một tập thể đông người rất dễ xảy ra các va
chạm, do vậy người thủ lĩnh phải là tâm điểm xây dựng, bảo vệ sự đoàn
kết, thống nhất…
- Vai trò “hoạt náo viên”: Các hoạt động sáng tạo trong NCKH luôn
trầm lặng và căng thẳng, người thủ lĩnh cần biết cách tạo ra không khí
tươi vui lành mạnh, như vậy hiệu quả làm việc sẽ tăng, đồng thời không
gây sự nhàm chán.
- Vai trò “ngòi nổ”: Tất cả (hoặc hầu hết) các ý tưởng nghiên cứu, các
cải cách lớn, quan trọng đều phải xuất hiện đầu tiên ở người thủ lĩnh,
hoặc do người thủ lĩnh khởi động. Tất nhiên phải rất chú trọng kích thích
sự sáng tạo của mỗi thành viên. Nói chung, người thủ lĩnh phải biết cách
tạo ra chất sống và sức sống, phát triển sức sống ấy cho nhóm NCKH.
- Vai trò “bà đỡ”: Đón nhận, triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu, đưa
vào ứng dụng hoặc chuyển giao kết quả, liên kết… Nói cách khác, người
thủ lĩnh không những phải biết cách đón nhận “đầu vào” mà còn cần biết
triển khai tốt “đầu ra”.
PHƯƠNG PHÁP LẬP NHÓM NCKH
Nguyên tắc chung: Khi tiến hành thành lập nhóm NCKH, cần tuân thủ
các nguyên tắc sau:
Tinh thần “Optimum” – nhân sự tối thiểu, hiệu quả công việc tối đa;
chấp nhận thử thách, mạo hiểm, thậm chí rủi ro; gắn liền nghiên cứu –
đào tạo – triển khai ứng dụng; hợp tác các bên cùng có lợi (hợp tác trong
và ngoài nhóm); phải có hướng nghiên cứu mũi nhọn, trọng điểm, theo
nhu cầu của xã hội; phải có sự hỗ trợ của hội đồng khoa học hoặc thủ
trưởng trực tiếp; tranh thủ có được các đề tài lớn, cơ sở vật chất, trang
thiết bị; phải dựa tối đa vào năng lực của đơn vị; hình thành một không
gian khoa học lành mạnh, hiệu quả.
Các tiêu chí thành lập nhóm NCKH
Tiêu chí 5 không: Không giới hạn: Không gian, thời gian, số lượng, trình
độ, chuyên môn.
- Liên kết với các đoàn thể, chương trình khoa học của thanh niên.
- Các sinh hoạt ngoại khoá.
KINH NGHIỆM XÂY DỰNG NHÓM NCKH TẾ BÀO GỐC
PGS-TS Trần Linh Thước (nguyên là Trưởng khoa Sinh học, Trường
Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh) là
người đầu tiên trong Khoa khởi xướng xây dựng nhóm NCKH (1995-
1996). Mô hình này đã thành công ngay từ thời gian đầu mà kết quả của
nó là sự ra đời của Phòng thí nghiệm (PTN) Công nghệ sinh học phân tử
(2000) – một PTN đạt hiệu quả rất cao trong đào tạo và hiệu quả đặc biệt
trong NCKH. Bản thân tôi (và nhiều đồng nghiệp khác trong Khoa) đã
cố gắng tiếp cận và học tập mô hình này. Qua đó, Khoa Sinh học đã hình
thành được nhiều nhóm NCKH tốt.
PTN Tế bào gốc và Nhóm NCKH tế bào gốc của chúng tôi ra đời là kết
quả tất yếu của một quá trình phát triển mà tập thể cán bộ của Khoa, đặc
biệt là tập thể PTN Công nghệ sinh học phân tử đã cố gắng để đạt được.
Hiện tại, Nhóm NCKH tế bào gốc có 58 người, trong đó có 17 người
đang học ở nước ngoài (12 TS, 5 ThS). Trong số 17 người đang học ở
nước ngoài, có 8 là biên chế nhà nước, còn lại 9 người là hợp đồng thời
vụ với PTN. Trong số 41 người trong nước có 23 người biên chế nhà
nước, còn lại 18 người hợp đồng thời vụ. Ngoài ra còn có các GS, PGS
làm cố vấn. Trong 10 năm hoạt động, Nhóm NCKH tế bào gốc đã đạt
được các kết quả: Hình thành được một hướng đào tạo mới về công nghệ
cao; tạo dựng được PTN Tế bào gốc đầu tiên ở Việt Nam; đưa công
nghệ cao vào ứng dụng trong xã hội với các hướng: Tạo động vật trong
ống nghiệm, tạo động vật biến đổi gen, đào tạo cán bộ thụ tinh ống
nghiệm trên người, công nghệ tái tạo mô người bằng tế bào gốc, thao tác
biến đổi in vitro tế bào gốc; công nghệ tế bào gốc ứng dụng trong y sinh
học, công nghệ sinh dược phẩm… Về đào tạo, đã có được 2 TS, 5 NCS,
18 ThS, 267 cử nhân công nghệ sinh học và sinh học hướng công nghệ
tế bào và tế bào gốc; đào tạo giúp các đơn vị bạn 35 cán bộ kỹ thuật;