- Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Theo nghĩa hẹp, CNH được hiểu là quá trình chuyển dịch từ nền kinh tế
trong đó nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo sang nền kinh tế công nghiệp
là chủ đạo. Theo nghĩa rộng, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế
nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) sang kinh tế công nghiệp, từ xã hội
nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp sang
văn minh công nghiệp. Người ta cũng phân biệt "CNH cổ điển" theo
kiểu nước Anh và châu Âu hai thế kỷ trước với "CNH kiểu mới" có kết
hợp với tin học hóa, toàn cầu hóa kinh tế và kinh tế tri thức.
Theo cách hiểu phổ biến hiện nay, HĐH là quá trình chuyển biến từ tính
chất truyền thống cũ sang trình độ tiên tiến, hiện đại. Về ý nghĩa kinh tế,
HĐH được giải thích là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền
thống sang xã hội hiện đại, bắt đầu từ thế kỷ XVII đến nay và vẫn còn
chưa kết thúc. Có người chia quá trình HĐH thành hai giai đoạn: Hiện
đại hóa lần thứ nhất tương ứng với thời kỳ CNH cổ điển, và HĐH lần
thứ hai tương ứng với thời kỳ tri thức hóa.
Ở nước ta, hiện nay thường dùng cụm từ CNH, HĐH với cách hiểu là
"công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn kết với nhau trong cùng một quá
trình, ngay từ đầu và suốt trong các giai đoạn phát triển". Ở đây, CNH
được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ giới hạn ở khía cạnh kinh tế, mà
còn cả về mặt xã hội, văn hóa. Hiện đại hóa hiểu theo nghĩa thông dụng,
thời gian chỉ là thứ nguyên so sánh. Nói cách khác, chúng ta đang trong
giai đoạn công nghiệp hóa, song không hoàn toàn như công nghiệp hóa
kiểu cổ điển, chỉ chú ý phát triển công nghiệp để tăng cao tỷ trọng công
nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội, mà đồng thời phát triển công nghệ,
thực hiện tin học hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức, nghĩa là thực
hiện "công nghiệp hóa kiểu mới" hay nói như văn kiện Đại hội IX công
nghiệp hóa theo hướng hiện đại.
Căn cứ vào các văn kiện của Đảng và Nhà nước, CNH ở nước ta có
những đặc điểm là CNH gắn kết với HĐH trong suốt các giai đoạn phát
triển, vừa mang tính chất công nghiệp hóa về kinh tế - xã hội, vừa có
Tiêu chí đánh giá không thể, hoặc rất khó, quy về một chỉ số đơn nhất vì
các yếu tố đặc trưng có thể khác nhau khá lớn về bản chất, song số
lượng tiêu chí cũng không nên quá lớn để dễ phân tích và tìm kiếm số
liệu. Để thuận tiện cho việc so sánh, có thể sắp xếp các tiêu chí vào các
nhóm, mỗi nhóm đại diện cho một khía cạnh của sự phát triển. Ứng với
yêu cầu CNH ở nước ta, có thể có các nhóm về kinh tế, khoa học - công
nghệ, chính sách xã hội, cải thiện môi trường, chất lượng cuộc sống
Từ các tiêu chí phản ánh các đặc trưng CNH trên, có thể tính toán hoặc
suy diễn ra các chỉ tiêu định lượng và lựa chọn mức độ của mỗi chỉ tiêu
tương ứng với trình độ hoàn thành CNH. Theo kinh nghiệm nước ngoài,
trình độ hoàn thành CNH có thể lấy tương đương với mức bình quân của
18 nước phát triển nhất (theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới WB) vào
những năm 60 của thế kỷ XX. Nếu có đủ cơ sở, cũng có thể tham chiếu
một số ít chỉ tiêu liên quan hiện đại hóa vào khoảng 1-2 thập niên sau.
Qua nghiên cứu, bước đầu có thể nêu ra một danh mục tiêu chí và chỉ
tiêu sau:
- Chỉ tiêu kinh tế: GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương
đương PPP; tỷ trọng kinh tế nông nghiệp trong GDP; tỷ trọng lao động
nông nghiệp trong tổng số lao động; năng suất lao động bình quân; tiêu
hao năng lượng đầu người; tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trên GDP; chỉ
số cạnh tranh quốc tế.
- Chỉ tiêu xã hội và chất lượng cuộc sống: chỉ số phát triển con người
(HDI); tỷ lệ đô thị hóa; khoảng cách đô thị và nông thôn; chỉ số GINI.(1)
- Chỉ tiêu môi trường: tỷ lệ sử dụng nước sạch; chi phí bảo vệ và cải
thiện môi trường trong GDP; tỷ lệ chất thải được xử lý; tỷ lệ phủ xanh
đất nước.
- Chỉ tiêu tin học hóa và kinh tế tri thức: tỷ lệ hộ gia đình có máy tính và
nhập mạng; tỷ lệ kinh phí cho nghiên cứu và triển khai R&D chiếm
trong GDP; số chứng chỉ về phát minh - sáng chế trên 10.000 dân; tỷ
trọng sản phẩm công nghệ mới, công nghệ cao trong sản lượng công
nghiệp mới.
Vấn đề đuổi kịp các nước đi trước có thể thực hiện được trong một
khoảng thời gian hợp lý hay không cũng là một vấn đề cần được làm rõ.
Nếu so sánh với một vài nước khu vực, thì thời gian đuổi kịp còn khá
dài. Ví dụ, thu nhập bình quân đầu người hiện nay của Thái Lan, Trung
Quốc cao gấp 3- 4 lần so với Việt Nam, nhưng tốc độ tăng thu nhập
cũng xấp xỉ hoặc cao hơn ta. Trong khi đó, nếu tốc độ phát triển của Việt
Nam được giữ liên tục như hiện nay thì sau 30 năm nữa cũng vẫn chưa
thể đuổi kịp họ về thu nhập. Như vậy, bài toán đuổi kịp tính với hai nước
trên hầu như không khả thi trong trung hạn.
Tuy nhiên, nếu tính so sánh với bình quân của các nhóm nước, mà
chúng ta cần đặt mục tiêu đuổi kịp, như nhóm các nước đang phát triển,
nhóm nước châu Á, hay mức bình quân toàn cầu v.v., thì kết cục bài
toán lại hoàn toàn khác. Ví dụ, so với nhóm các nước đang phát triển, thì
sẽ cần 20 năm để đuổi kịp và bắt đầu vượt lên trước. So với bình quân
toàn cầu sẽ cần khoảng 30 năm, và thậm chí so với mức khởi đầu của
các nước đã phát triển, mà tốc độ tăng trưởng liên tục thường rất thấp,
chúng ta cũng sẽ thấy rõ khả năng đuổi kịp là hiện thực.
Hơn nữa, những ước tính trên đây mới chỉ xét đến một yếu tố tăng
trưởng về kinh tế - thu nhập bình quân đầu người, chưa tính đến ảnh
hưởng của tỷ giá hối đoái đang có lợi cho chỉ số tăng trưởng của những
nước như Việt Nam và cũng chưa kể đến khả năng có thể có bước phát
triển đột biến khi có cơ hội như dự kiến của Chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội. Các nhà nghiên cứu nước ngoài ước tính Trung Quốc đã đi
được 73% trên con đường công nghiệp hóa, và cũng theo ước tính trên,
Việt Nam cũng đã đạt được 61%. Như vậy, mục tiêu năm 2020 "cơ bản
trở thành một nước công nghiệp" không phải là không có cơ sở để thực
hiện.
4 - Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
a - Cần tạo trong nông nghiệp, nông thôn môi trường ban đầu thích hợp
phải đóng góp vào việc mở rộng quy mô khai thác, nhờ đó các biện pháp
kỹ thuật mới phát huy được hiệu quả. Mặt khác, muốn đưa nông nghiệp
lên trình độ hiện đại thì đã đến lúc cần tạo điều kiện để áp dụng một
cách phổ biến các công nghệ mới vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,
xây dựng những khu nông nghiệp công nghệ cao, đổi mới kỹ thuật và tổ
chức sản xuất, kể cả tổ chức lại cuộc sống ở các vùng nông thôn.
c - Một nhân tố quan trọng trong CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là
vấn đề phát triển công nghiệp ở các vùng nông thôn hay là vấn đề cơ cấu
lại kinh tế và lao động nông thôn. Theo số liệu thống kê, lao động nông
nghiệp hiện đang đóng góp khoảng 20% GDP toàn quốc, tỷ lệ đó sẽ
giảm dần (tuy giá trị tuyệt đối vẫn tăng), dự báo có thể xuống dưới 10%
sau năm 2020. Như vậy, muốn tăng thu nhập của nông dân lên gần với
mức chung của cả nước thì tỷ lệ lao động trong nông nghiệp còn cần
giảm nhiều, diện tích đất canh tác cho mỗi lao động phải tăng lên Do
đó số lao động dôi dư ở vùng nông thôn sẽ rất lớn. Tạo việc làm mới sẽ
là vấn đề cấp bách và kéo dài trong suốt thời kỳ CNH, HĐH.
Đương nhiên là khu vực công nghiệp và dịch vụ (sẽ chiếm đến 80% -
90% nền kinh tế) phải có nhiệm vụ thu hút số lao động dôi dư đó. Song
nếu chuyển tất cả về mấy thành phố lớn và các khu công nghiệp sẽ
không thể là phương án tối ưu. Tuy có thể tăng nhanh tỷ lệ đô thị hóa,
nhưng những nhu cầu về đất đai, kết cấu hạ tầng và rủi ro về môi trường
là rất khó giải quyết, chưa kể nhu cầu về vốn đầu tư để tạo ra việc làm
trong công nghiệp hiện đại. Giải pháp thích hợp sẽ là tích cực phát triển
công nghiệp và dịch vụ ở các vùng nông thôn, hình thành một mạng lưới
công - thương vừa, nhỏ và siêu nhỏ vừa nằm gần các vùng nguyên liệu
và hộ tiêu thụ, vừa tạo nhiều việc làm và có thể xử lý tốt vấn đề môi
trường và đô thị hóa.
Ngoài những khu công nghiệp tập trung lớn hàng trăm héc-ta, trong quy
hoạch phát triển cần sắp xếp một mạng lưới "tiểu khu công nghiệp" hay
cụm công nghiệp vừa và nhỏ ở khắp các tỉnh (trong đó có các cụm làng
nước, kinh phí nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ chủ yếu là
từ ngân sách nhà nước. Trong khi đó, doanh nghiệp (nhất là doanh
nghiệp nhà nước) không bị ràng buộc (đúng ra là chưa có động lực) phải
tìm đến tiến bộ khoa học. Các cơ quan khoa học, công nghệ lớn phần
nhiều là thuộc sở hữu nhà nước, tình trạng bao cấp làm cho lao động của
các nhà khoa học chưa được đánh giá đúng mức do hoạt động khoa học,
công nghệ còn tập trung quá nhiều vào Nhà nước, phụ thuộc vào cơ chế
hành chính quan liêu, phần lớn được ngân sách nhà nước bao cấp.
Để khắc phục những nhược điểm trên, Nhà nước nên tập trung chủ yếu
vào việc ban hành các chính sách quản lý và khuyến khích hoạt động
nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, xác định các hướng ưu
tiên cho từng thời kỳ tương ứng với các chính sách phát triển kinh tế - xã
hội. Về nhu cầu nghiên cứu, Nhà nước đặt hàng bằng phương thức giao
thầu hoặc đấu thầu các đề tài về quản lý nhà nước và khoa học cơ bản,
đồng thời lập các quỹ hỗ trợ phát triển khoa học, công nghệ và quỹ "mạo
hiểm" để hỗ trợ một phần cho các đề tài về sản xuất, kinh doanh phục vụ
các hướng ưu tiên quốc gia và bù đắp cho phần rủi ro trong nghiên cứu
khoa học, công nghệ.
Có cơ chế khuyến khích và ràng buộc để các doanh nghiệp trực tiếp đặt
hàng với các tổ chức nghiên cứu, được nhận sự hỗ trợ của các quỹ hỗ trợ
phát triển khoa học, công nghệ, được ưu đãi trong việc lập quỹ khoa học,
công nghệ và trong khai thác, sử dụng các kết quả nghiên cứu công nghệ
trong nước. Các tổ chức khoa học, công nghệ áp dụng cơ chế sự nghiệp
mới, có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kế hoạch hoạt động, về
tổ chức nhân sự và thu chi tài chính, không phân biệt thuộc trung ương
hay địa phương, công lập hay dân lập, chỉ còn sự khác nhau về trình độ,
năng lực chuyên môn, khoa học, nghĩa là năng lực cạnh tranh. Thu nhập
của cán bộ khoa học phải dựa vào kết quả của lao động khoa học bỏ ra,
có thể rất cao nếu đem ứng dụng vào thực tế có hiệu quả, nhưng cũng có
thể chỉ đạt mức bình thường nếu chưa được ứng dụng, hoặc chưa có kết