TRƯỜNG THCS THỊ TRẤN SỞ GD & ĐT TỈNH QUẢNG
BÌNH
QUY ĐẠT PHÒNG GD & ĐT
HUYỆN MINH HÓA
KINH NGHIỆM DẠY HỌC “ PHƯƠNG PHÁP DẠY
CÁC BÀI KHÁI NIỆM” TIẾNG VIỆT LỚP 6.
CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC
NGƯỜI THỰC HIỆN: Nguyễn Thị Thu Hướng
NĂM: 2007-2008
KINH NGHIỆM DẠY HỌC “ PHƯƠNG PHÁP DẠY CÁC BÀI KHÁI
NIỆM “ TIẾNG VIỆT LỚP 6 CHƯƠNG TRÌNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC
Phầng I: Giới thiệu.
Yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học hiện nay là phát huy cao
độ tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình học tập. Đây là
một yêu cầu rất cao và thực hiện được yêu cầu này không phải là dễ.
Bỡi vì bất kỳ phương pháp dạy học nào cũng được xây dựng từ những
điều kiện cụ thể như: đối tượng dạy học, phương tiện dạy học , môi
trường dạy học v.v Trong tình hình thay sách giáo khoa hiện hành thì
cấu trúc chương trình bộ môn Ngữ văn có sự thay đổi, đặc biệt là cấu
trúc một bài Tiếng Việt. Vì thế mà có nhiều nguyên nhân hạn chế đến
việc đổi mới phương pháp dạy học. Đứng trước nhu cầu thực tế đó và
nhu cầu bức thiết của giáo dục, bản thân tôi xin đưa ra một kinh
nghiệm dạy- học môn Tiếng Việt lớp 6- THCS để chúng ta cùng tham
khảo, áp dụng các phần nâng cao chất lượng dạy và học lớp 6 hiện nay.
Phần II: Nội dung.
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. Cơ sở lý luận.
1.1 Cũng như việc dạy học các môn học khác, trong quá trình dạy học
Tiếng Việt học sinh phải tích cực chủ động biến quá trình học tập thành
quá trình tự học tập, còn giáo viên thì giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn
hoạt động của học sinh.
Chương II: Nội dung
I. Mục đích yêu cầu :
Từ cơ sở lý luận và thực tiển về sách giáo khoa Ngữ văn 6 ở trên
đòi hỏi người giáo viên giạy chuyên môn TV cần phải năm bắt cái tinh
thần đổi mới của sách giáo khoa . Đồng thời cần phải có sự đổi mới
phương pháp dạy học, phù hợp với đối tượng HS.
Để học sinh nắm được những kiến thức cơ bản và nội dung thực
tiễn giao tiếp được tốt đòi hỏi người giáo viên cần có một phương giạy
học phù hợp với sự đổi mới của sách giáo khoa .
II Vai trò và vị trí
“Kinh nghiệm dạy học môn TV lớp 6”, giúp chúng ta phần nào
tháo gở những lúng túng về phương pháp trước tình hình đổi mới sách
giáo khoa .
III Nội dung: “kinh nghiệm dạy học môn TV lớp 6”:
Trong quá trình dạy học cần chú ý tổ chức các hoạt động giúp HS
tự tìm hiểu, phân tích và nhận ra các đơn vị tri thức ( hình thành khái
niệm về một đơn vị nào đó của Tiếng Việt ) thực hành luyện tập các tri
thức Tiếng Việt .
3.1 Mỗi mục kiến thức ở sách giáo khoa đều gốm nhiều câu hỏi và
bài tập, giáo viên gợi ý cách thức, tổ chức, hướng dẫn tìm hiểu, phân
tích nhân ra tri thức. Để làm làm được việc này, giáo viên cần hướng
dẫn học sinh : quan sát, tìm hiểu, phân tích các ngữ liệu đã dẫn ở sách
giáo khoa . mặt khác giáo viên cũng cần khơi gợi những hiễu biết về
tiếng việt sẵn có của học sinh . để giúp học sinh tự hoàn thiện về tri
thức .
Ví dụ: Khi dạy mục I . So sánh là gì? của bài “ so sánh” ( Sách giáo
khoa ngữ văn 6, tập hai, trang 24 –25). giáo viên cần cho học sinh đọc
kĩ các câu thơ câu văn đã dẫn ( ngữ liệu ) ở bài tập một của mục này để
tìm hiểu phương tiện và mục đích giao tiếp của mổi câu . giáo viên cần
gợi lại những kiến thức đã học về phép so sánh ở bậc tiểu học cho học
thể biến đổi ít nhiều cho phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp.
3.2. Hoạt động thực hành, luyện tậpTiếng Việt là hoạt động chủ yếu
trong giờ Tiếng Việt. Ở hoạt động này giáo viên cần chú ý hướng dẫn
học sinh tìm hiểu yêu cầu của bài tập và cách làm bài tập.
Ví dụ: Hướng dẫn học sinh làm bài tập 1 của bài “so sánh” ( Sách
giáo khoa, Tập II, Trang 25 ) giáo viên cần giúp học sinh nắm được yêu
cầu của bài tập là tìm một số ví dụ có chứa phép so sánh theo mẫu đã
cho. Đây là loại bài tập nhận xét, nhưng ở mức độ cao, yêu cầu học
sinh phải có sự hiểu biết và đọc nhiều văn bản mới làm được. Vì thế
giáo viên cần hướng dẫn học sinh phân tích kỹ mẫu đã cho để học sinh
dễ nhận biết.
3.3 Trong quá trình dạy- học, ở các hoạt động hình thành tri thức,
thực hành luyện tập, củng cố, kiểm tra, giáo viên có thể linh hoạt dùng
bài tập ở mục luyện tập và bổ sung một số bài tập nêu tình huống hoặc
bài tập trắc nghiệm, bài tập tạo đoạn theo yêu cầu thích hợp để học
sinh rèn luyện kỹ năng sử dụng Tiếng Việt.
Chương III. Kết quả ứng dụng.
Qua 2 năm giảng dạy bộ môn Ngữ văn 6 bản thân tôi đã ứng dụng
thực nghiệm và rút ra kết luận như sau:
- Kiến thức Tiếng Việt ở lớp 6 đa số các em đã có tiếp xúc, khám
phá ở cấp tiểu học nên phần nào đã nắm được sơ lược khái niệm.
Chính vì thế, khi giảng dạy ở cấp THCS, giáo viên không khơi gợi những
hiểu biết về Tiếng Việt có sẵn của học sinh mà cứ dạy theo kiểu xem
như các em chưa biết gì thì sẻ dẫn đến kết quả học sinh dễ nhàm chán,
mất hứng thú trong học tập.
- Khi dạy Tiếng Việt cần đặt các em trong mối quan hệ giao tiếp
để rèn luyện kỹ năng ứng dụng tri thức Tiếng Việt trong thực tiễn như
tạo lập văn bản, nhận biết tri thức nhanh nhạy. Kết quả tạo lập văn bản
của các em rất cao so với khi chưa vận dụng phương pháp dạy học này.
Phần III. Kết Luận và đề xuất sư phạm