SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO KIÊN GIANG
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN
ĐỊNH HƯỚNG KHI DẠY BÀI
“CHẤT BÉO” CỦA HÓA HỌC 9
Người viết : Quách Ngọc Uyển
Chức vụ : Giáo viên
1
Năm học: 2011 - 2012
Năm học: 2011 - 2012
SÁNG KIÊN KINH NGHIỆM
- Họ và tên: Quách Ngọc Uyển
- Đơn vị: Trường THPT Ngô Sĩ Liên
- Tên đề tài: ĐỊNH HƯỚNG KHI DẠY BÀI “ CHẤT BÉO”
CỦA HÓA HỌC 9
I. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Bối cảnh của đề tài.
Ở bất kì đất nước nào, những đổi mới ở giáo dục phổ thông mang tính
cải cách giáo dục đều bắt đầu từ việc xem xét điều chỉnh mục tiêu giáo dục với
những kì vọng mới về mẫu người học sinh có được trong quá trình giáo dục.
Việc dạy và học hóa học ở trường THCS cần được đổi mới nhằm góp
phần thực hiện tốt mục tiêu của nhà trường phổ thông trung học cơ sở. Một
trong những nhiệm vụ ưu tiên là cần coi trọng việc hình thành và phát triển tiềm
lực trí tuệ cho học sinh. Cần bồi dưỡng và tạo điều kiện cho học sinh được rèn
luyện năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có ý thức và biết vận dụng tổng hợp
kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn. Một trong những biện pháp quan
trọng là người giáo viên coi trọng hơn việc chỉ dẫn cho học sinh (HS) con đường
tìm ra kiến thức mới mà không chỉ dừng lại ở việc cung cấp những kiến thức có
sẵn, chú ý rèn luyện kĩ năng cho học sinh, chú ý đánh giá kiểm tra năng lực vận
dụng tổng hợp kiến thức, đó cũng là một biện pháp dạy học cho học sinh cách
sách vở để tìm ra phương pháp dạy tốt nhất giúp học sinh nắm vững kiến thức lý
thuyết bộ môn, khi nắm vững lý thuyết thí các em mới tự tin giải quyết bài tập.
Với mong muốn đó tôi mạnh dạn viết ra đây một số kinh nghiệm nhỏ đó là:
Định hướng khi dạy bài “chất béo” ở hóa học lớp 9 .
3. Phạm vi và đối tượng của đề tài.
3.1. Phạm vi đề tài.
Trong đề tài này tôi chỉ đề cập đến việc định hướng khi dạy dạng bài
nghiên cứu về cấu tạo, tính chất của một hợp chất hữu cơ cụ thể thông qua bài “
Chất béo” ở hóa học lớp 9.
3
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu phương pháp dạy học tích cực trong các dạng bài về cấu tạo,
tính chất của một hợp chất hữu cơ cụ thể.
Học sinh lớp 9 Trường THPT Ngô Sĩ Liên.
4. Mục đích đề tài.
Nhằm trao dồi nâng cao trình độ, chất lượng chuyên môn cho bản thân.
Giúp học sinh phát huy cao độ tính tích cực, tự giác trong học tập bộ môn
Hoá học
5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.
Một số kinh nghiệm khi giảng dạy bài chất béo nói riêng và các dạng bài
nghiên cứu cấu tạo, tính chất của hợp chất hữu cơ cụ thể nói chung đã giúp học
sinh nắm bắt kiến thức sâu hơn, từ đó hình thành và rèn luyện được kĩ năng viết
phương trình hóa học, làm tăng hứng thú học tập, giờ học sinh động không
nhàm chán, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
II. PHẦN NỘI DUNG.
1. Cơ sở lý luận.
Hóa học là một môn học có tầm quan trọng vô cùng to lớn bởi vì đây là
nhiệm vụ do Đảng - Nhà nước đề ra trong lĩnh vực phát triển ngành hóa học và
vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, nhiệm vụ của việc dạy
học Hóa học ở trường trung học cơ sở là không chỉ chú ý cung cấp kiến thức
2.1. Thuận lợi
Được sự quan tâm của Đảng ủy xã Phi Thông, các cấp lãnh đạo Phòng
giáo dục Thành phố Rạch Giá, Sở giáo dục và Đào tạo Tỉnh Kiên Giang, trường
THPT Ngô Sĩ Liên đã được trang bị khá tốt về cơ sở vật chất (sách giáo khoa,
tài liệu tham khảo, mô hình, dụng cụ, hóa chất), điều kiện đi lại của giáo viên đã
được cải thiện.
Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên trẻ và rất nhiệt tình trong công tác giảng
dạy. Trong hoạt động chuyên môn tôi luôn nhận được sự hướng dẫn chỉ đạo tận
tình từ phía Ban giám hiệu, tổ chuyên môn cùng các bạn bè đồng nghiệp.
Giáo viên được tập huấn đầy đủ về chương trình chuẩn kiến thức kĩ năng
môn Hóa học 8 - 9 nên phần nào cũng hiểu được nội dung kiến thức cần truyền
đạt cho học sinh .
Đối với học sinh thì một số em học rất tích cực, biết phát huy khả năng
hiểu biết của mình, biết tham gia đóng góp ý kiến để cùng giáo viên giải quyết
5
những khó khăn để tìm ra những kết quả tốt nhất trong các bài luyện tập cũng
như bài học lý thuyết.
Một số phụ huynh cũng quan tâm đến việc học của con em mình qua việc
góp ý kiến với giáo viên và rèn luyện cách học thêm ở nhà. Từ đó giáo viên có
phương pháp và định hướng dạy một cách tốt hơn. Ðó cũng là một phần thuận
lợi mang lại hiệu quả rất cao .
Bản thân tôi là giáo viên (GV) nhiều năm liền giảng dạy Hóa học 9 nên
tôi hiểu và có kế hoạch chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo, chủ động đề ra cách
sử dụng các phương tiện dạy học như thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo
của học sinh nhằm giúp tiết học đạt kết quả tốt hơn.
Các mẫu vật chứa chất béo gắn liền với thực tiễn đời sống con người nên
các em sưu tầm mẫu vật dễ hơn, có thể dự đoán được một số tính chất vật lí của
chất béo thông qua thực tế.
Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc vẽ biểu đồ so sánh năng lượng
tỏa ra khi oxi hóa chất béo, chất đạm và chất bột nên học sinh dễ rút ra một số
đến tất cả kiến thức ở mỗi bài đều mới lạ nên quá trình xây dựng và tiếp thu bài
ở HS sẽ gặp nhiều khó khăn hơn so với khi học hợp chất vô cơ.
Thứ hai: Do các năm học trước, khi dạy phần: “Tính chất vật lí của chất
béo” tôi chưa nghĩ đến việc đưa các yêu cầu nội dung thí nghiệm vào phiếu học
tập nên việc thảo luận nhóm và báo cáo kết quả thí nghiệm của HS còn mất
nhiều thời gian. Mặt khác, khi cho HS thí nghiệm tôi chưa nhấn mạnh nội dung
và các thao tác thí nghiệm dẫn đến 4 nhóm có kết quả báo cáo hiện tượng quan
sát được như sau:
+ Có 2 nhóm nêu kết luận đúng là: chất béo tan được trong benzen, xăng.
+ Có 2 nhóm nêu kết luận ngược lại là: chất béo không tan trong benzen, xăng.
Tôi tìm hiểu nhanh nguyên nhân thí nghiệm không thành công, thì được biết
thao tác thí nghiệm chưa chính xác và các em cho quá nhiều dầu ăn vào ống
nghiệm trên dẫn đến dầu ăn tan không hoàn toàn trong benzen, trong xăng cho
nên có 2 nhóm HS đã ngộ nhận và rút ra kết luận sai.
Thứ ba: Do các năm học trước khi dạy phần: “Cấu tạo và thành phần phân
tử của chất béo” tôi chỉ đơn thuần thông báo cho HS biết được công thức của
glixerol, các axít béo, chất béo như SGK Hóa học 9 trang 145 đã nêu.
● Với phương pháp giảng dạy trên, tôi đã khảo sát thực tế ngẫu nhiên của
02 lớp (9
1
, 9
2
) bằng cách kiểm tra 15 phút vào đầu giờ học của tiết sau với nội
7
dung: Trình bày tính chất hóa học của chất béo, viết phương trình hóa học minh
họa?
Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ điểm kiểm tra 15 phút của tổng HS lớp 9
1
,
9
Đây là dạng bài nghiên cứu cấu tạo, tính chất hóa học của một chất hữu cơ
cụ thể, GV cần chú ý thể hiện được phương pháp sau:
+ GV nêu vấn đề cần nghiên cứu, nhằm kích thích tính tò mò của HS.
+ GV sử dụng thí nghiệm hóa học theo hướng kiểm tra, dự đoán và kết
luận đồng thời GV sử dụng thí nghiệm nghiên cứu, nhằm giúp HS rút ra tính
chất mới. Lưu ý đối với thí nghiệm, GV phải nắm vững kĩ thuật thí nghiệm, đảm
bảo thí nghiệm phải thành công do đó GV phải chuẩn bị từng dụng cụ, hóa chất
phục vụ thí nghiệm của GV (hoặc HS) thật tỉ mỉ, chu đáo, phải thực hiện thí
nghiệm trước khi dạy và nhất là không được chủ quan.
+ GV sử dụng mẫu vật, tranh ảnh, như là nguồn để HS khai thác kiến
thức mới.
+ GV phải hướng dẫn HS quan sát, mô tả hiện tượng, giải thích, nhận xét
và rút ra kết luận.
+ GV cho HS đọc và tóm tắt được thông tin trong bài học.
+ GV sử dụng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề cần tránh những câu hỏi quá
vụn vặt, không logic.
+ Đối với phương pháp thảo luận nhóm GV cần quy định nội dung
nhiệm vụ, thời gian cụ thể cho mỗi nhóm để tất cả HS đều có vai trò nhất định
và tích cực tự giác hoạt động theo tinh thần hợp tác nhằm hoàn thành nhiệm vụ
được giao. Cần tránh tình trạng chỉ một HS làm còn các HS khác làm việc riêng
hoặc gây mất trật tự trong lớp.
+ Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy GV phải biết phối hợp các
phương pháp trên một cách linh hoạt thì tiết dạy mới đạt hiệu quả cao.
Tùy điều kiện từng trường, từng địa phương mà GV thực hiện đổi mới phương
pháp dạy học Hóa học một cách linh hoạt. Chẳng hạn như để tiến hành bài giảng
này thành công, bản thân tôi và HS có sự chuẩn bị như sau:
Thứ nhất: GV phải xác định đúng mục tiêu cụ thể của bài:
* Kiến thức:
9
- Khái niệm chất béo, trạng thái thiên nhiên, công thức tổng quát của chất béo
đựng dầu ăn.
- Bảng phụ (kiểm tra bài cũ), bảng phụ (củng cố).
- Tranh vẽ biểu đồ: so sánh năng lượng khi oxi hóa chất đạm, chất bột,
chất béo.
- Phiếu học tập/ nhóm có nội dung như sau:
10
STT Thí nghiệm Hiện tượng Kết luận
1
Nhỏ 2-3 giọt dầu ăn vào
ống nghiệm đựng 4 ml
nước, lắc nhẹ, quan sát.
2
Nhỏ 2-3 giọt dầu ăn vào
ống nghiệm đựng 4 ml
benzen, lắc nhẹ, quan sát.
3 Nhỏ 2-3 giọt dầu ăn vào
ống nghiệm đựng 4 ml
xăng, lắc nhẹ, quan sát.
● Học sinh: Chuẩn bị dầu máy may, các mẫu vật có chứa chất béo, chất
đường - bột như: lạc, vừng, dầu thực vật, dầu gấc, hạt đào, gạo, tinh bột, muối
ăn, đường, mẫu dừa khô, dầu cá, mỡ lợn,…
Thứ ba: giáo viên phải xác định phương pháp, kĩ thuật dạy học chủ yếu.
Đây là dạng bài: nghiên cứu hợp chất hữu cơ cụ thể cho nên trong quá
trình giảng dạy, tôi có thể phối hợp một số phương pháp: nêu vấn đề cần nghiên
cứu, trực quan, thí nghiệm nghiên cứu, thí nghiệm kiểm chứng, thảo luận nhóm,
đàm thoại, thông báo,…
Thứ tư: Giáo viên biết thiết kế các hoạt động dạy học theo hướng tích cực ở
trên lớp
* Trước khi vào bài tôi tiến hành kiểm tra bài cũ: (5 phút)
- Giáo viên treo bảng phụ:
pháp như sau:
Hoạt động 1: I. Chất béo có ở đâu? (4 phút)
Phương pháp: nêu vấn đề, trực quan, thảo luận nhóm, đàm thoại, tái hiện
kiến thức cũ,…
Vì chất béo rất gần gũi với đời sống thực tiễn của con người nên để cho tiết
học sinh động tôi tổ chức cho HS hoạt động nhóm dựa trên những mẫu vật đã
đem để tự tìm tòi phát hiện tri thức:
Bước 1: Tôi thông báo: Mỡ dùng để ăn được lấy từ động vật và dầu ăn
được lấy từ thực vật, dầu ăn và mỡ động vật đều được gọi là chất béo.
Bước 2: Dựa trên cơ sở đó tôi yêu cầu các nhóm lấy mẫu vật đã đem để
trên bàn và sắp xếp chúng thành 2 nhóm: nhóm có chứa chất béo và nhóm
không chứa chất béo với thời gian 2 phút.
Bước 3: Sau khi HS sắp xếp xong cho đại diện báo cáo kết quả.
Bước 4: Từ đó cho HS rút ra kết luận về nguồn chất béo có trong thiên
nhiên.
Bước 5: Giáo viên nêu vấn đề: Dầu, mỡ bôi trơn các ổ bi, xe máy có phải là
chất béo không? (HS: Dầu, mỡ bôi trơn các ổ bi, xe máy…không phải là chất
béo).
12
- Vì sao dầu mỡ bôi trơn các ổ bi, xe máy… không phải là chất béo?
(HS: Vì chúng là sản phẩm của dầu mỏ).
● Giáo viên áp dụng phương pháp trên kết hợp việc sử dụng mẫu vật thật
sẽ giúp HS dễ quan sát, thảo luận tốt, không khí lớp học sôi nổi. Kết quả: 100%
HS tự rút ra kết luận rất nhanh, dẫn đến HS hứng thú học tập hơn so với dùng
tranh vẽ.
Hoạt động 2: II. Chất béo có những tính chất vật lí quan trọng nào? (5 phút)
Phương pháp: nêu vấn đề cần nghiên cứu, trực quan, thí nghiệm kiểm tra dự
đoán, thí nghiệm nghiên cứu, quan sát, thảo luận nhóm,…
Bước 1: Từ những mẫu vật chứa chất béo, yêu cầu HS nêu trạng thái của
chất béo?
cơ sở dựa vào các kiến thức cũ đã học như công thức cấu tạo của rượu etylic,
axitaxetic, phản ứng este hoá. Ví dụ như khi dạy:
* Công thức cấu tạo của glixerol
Bước 1: GV thông báo glixerol có công thức cấu tạo thu gọn là:
C
3
H
5
(OH)
3
(kiến thức này HS không thể tìm tòi được).
Bước 2: GV tái hiện kiến thức cũ ở HS đồng thời nêu nhiệm vụ cần giải
quyết:
+ Công thức C
3
H
5
(OH)
3
giống với công thức hóa học của chất nào đã học?
(HS: Công thức C
3
H
5
(OH)
3
giống với công thức cấu tạo thu gọn của rượu
etylic: C
2
H
OH - OH - OH
* Công thức chung của các axit béo
Bước 1: GV thông báo công thức của 1 số axit hữu cơ (axit béo) như:
Axit stearic: C
17
H
35
-COOH (có trong ca cao, mỡ động vật…)
Axit oleic: C
17
H
33
-COOH (có trong dầu oliu, …)
Axit panmitic: C
15
H
31
-COOH (có trong mỡ động vật, dầu cọ…)
Bước 2: Yêu cầu HS so sánh đặc điểm cấu tạo của các axit này với
axitaxetic (CH
3
-COOH) đã học?
(Dựa trên kiến thức kiểm tra bài cũ HS so sánh:
+ Giống nhau: đều có nhóm –COOH
+ Khác nhau: axit axetic có nhóm –COOH gắn với gốc hidrocacbon
CH
3
-
Còn các axit béo: có nhóm –COOH gắn với gốc
+ Yêu cầu HS phát biểu gốc axit RCOO-
có hóa trị mấy? (HS: Hóa trị I,
vì liên kết với 1 nguyên tử H)
* Công thức chung của chất béo
Bước 1: Dựa trên phương trình phản ứng este hóa:
CH
3-
COOH + C
2
H
5
OH CH
3
COOC
2
H
5
+ H
2
O
GV đặt vấn đề: Nếu thay CH
3
-COOH bằng 1 axit béo khác như C
17
H
35
-COOH
và thay C
35
COO)
3
C
3
H
5
+ 3H
2
O
Từ phương trình trên yêu cầu HS ghi dưới dạng phương trình tổng quát:
3 R-COOH + C
3
H
5
(OH)
3
(R-COO)
3
C
3
H
5
+ 3H
2
O
(GV cần lưu ý HS: Khi lập phương trình nên cân bằng số gốc axit, gốc
hidrocacbon trước, rồi mới đến H và O).
Bước 3: Dựa trên công thức (R-COO)
3
Vì các thí nghiệm thủy phân chất béo trong môi trường kiềm hoặc axit xảy
ra rất chậm, không có hiện tượng rõ ràng và khó nhận biết nên không tiến hành
các thí nghiệm này trên lớp được.
Khi dạy phần: Phản ứng thủy phân chất béo trong axit GV tiến hành:
Bước 1: GV nêu vấn đề: Cơ thể chúng ta hấp thụ chất béo như thế nào?
(Điều này đã được học trong môn sinh học)
Bước 2: GV cho HS đọc thông tin SGK để tìm hiểu phản ứng thủy phân
chất béo trong môi trường axit, đồng thời hướng dẫn HS ghi phương trình chữ
của phản ứng: Chất béo+ nước → glixerol + các axit béo.
Bước 3: Từ sơ đồ trên, yêu cầu HS lên bảng hoàn thành phương trình phản
ứng bằng công thức của các chất vừa học:
(R-COO)
3
C
3
H
5
+ 3H
2
O C
3
H
5
(OH)
3
+ 3 R-COOH
GV hướng dẫn HS thấy được phản ứng trên làm cho este bị phân tích bởi
nước nên có tên là phản ứng thủy phân.
Cho HS so sánh phản ứng thủy phân với phản ứng este hoá?
(HS: Phản ứng giữa este với nước taọ ra axit và rượu (glixerol là rượu đa
hóa học ta chỉ thấy có một muối (hoặc một axit) nhưng thực tế đó là một hỗn
hợp muối (hoặc một hỗn hợp axit)?
GV chỉ cần giải thích dưới dạng đơn giản nhất để HS dễ hiểu: “Vì chất béo
là một hỗn hợp nhiều este và ngay cả trong một phân tử este cũng có nhiều gốc
axit khác nhau nên khi thủy phân sẽ tạo ra một hỗn hợp muối (hoặc một hỗn hợp
axit)”.
GV liên hệ thực tế: Hiện nay bên cạnh xà phòng sản xuất từ chất béo người
ta còn sản xuất các chất giặt rửa tổng hợp dạng bột gọi là “bột giặt” hay xà
phòng bột, xà phòng kem, …chúng xuất phát từ dầu mỏ và một số nguyên liệu
khác.
Để củng cố phần này GV cho HS hoạt động nhóm (1’).
Bài tập: Hoàn thành các phương trình sau:
(C
17
H
35
COO)
3
C
3
H
5
+ H
2
O
,
o
axit t
→
? + ?
Sau khi dạy xong kiến thức của bài, tôi tổ chức cho HS tham gia trò
chơi: “Đi tìm chìa khóa vàng” bằng cách chia lớp thành 2 đội: A và B (GV phổ
biến luật chơi).
GV treo bảng phụ: “ ĐI TÌM CHÌA KHÓA VÀNG”
Hàng dọc của từ: “Chìa khóa vàng”
* Nội dung gợi ý từ hàng ngang:
1/ Hạt lạc còn có tên gọi là hạt gì?
2/ Một trong các dung môi dễ tìm hòa tan được chất béo (sản phẩm của dầu
mỏ).
3/ Đây là tên của phản ứng dùng để sản xuất xà phòng.
4/ Thịt, cá, trứng, sữa, đậu que gọi chung là gì?
5/ Đây là từ chỉ một trong các biện pháp để bảo quản thực phẩm.
6/ Tên gọi của một loại este được tạo ra từ axit axetic và rượu etylic.
ĐÁP ÁN
19
1
3Hàng dọc: Từ “Chìa khóa vàng”
T H U Y P H A N
● Thông qua trò chơi “Đi tìm chìa khóa vàng”, tôi thấy các em rất hào
hứng, sôi nổi, tham gia rất nhiệt tình, hăng hái và đa số các em hiểu bài, tiếp thu
bài nhanh, trả lời rất chính xác các kết quả trò chơi.
● Với phương pháp giảng dạy trên, tôi đã khảo sát thực tế ngẫu nhiên của 2
lớp (9
%
T
S
%
2010-2011 9
1
, 9
2
70 7 10 10 14,3 27
38,
6
20
28,
6
6 8,5
2011 -2012 9
1
,9
2
84 14
16,
7
19 22,6 42 50 9
10,
7
0 0
20
1 Đ A U P H O N G
X A N G
3 X A P H O N G H O A
công tác giảng dạy. Luôn phải tích cực học hỏi, trao dồi kiến thức chuyên môn
để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
21
Qua thực tế giảng dạy bộ môn hóa học nói chung và phương pháp dạy bài:
“Chất béo” nói riêng tôi rút ra bài học kinh nghiệm sau:
- Giáo viên phải thực sự có tâm huyết với nghề nghiệp, có tinh thần trách
nhiệm trong công tác, nhiệt tình giảng dạy.
- Giáo viên cần quán triệt tư tưởng: Đổi mới phương pháp dạy học là sử
dụng một cách hợp lý tổng hợp các phương pháp dạy học vốn có kết hợp với
một số kĩ thuật thiết kế, tổ chức hoạt động học tập của HS theo đúng mục tiêu
mỗi bài học, nhằm mục đích phát huy cao độ tính tích cực, tự giác của HS trong
học tập bộ môn Hóa học. HS không chỉ nắm được các tri thức, kĩ năng cần lĩnh
hội mà điều quan trọng hơn là có kĩ năng hoạt động thực tiễn để tìm tòi, phát
hiện ra các tri thức, có kĩ năng hoạt động tích cực để giải quyết các vấn đề một
cách linh hoạt và sáng tạo.
- Giáo viên phải biết phân loại từng kiểu bài mà lựa chọn phương pháp,
phương tiện kỹ thuật, sao cho phù hợp.
- Giáo viên phải biết tích hợp một số nội dung môn học khác, giáo dục
môi trường vào chương trình Hóa học.
- Tuyệt đối GV phải ghi bảng cẩn thận, chính xác, trình bày bảng khoa
học, phải có sổ tay, bảng thống kê các bài kiểm tra để theo dõi cách ghi công
thức cấu tạo, kĩ năng lập phương trình hóa học, nhận biết các chất hữu cơ, của
mỗi học sinh để từng bước theo dõi mức độ tiến bộ nhằm tuyên dương, thúc đẩy
tinh thần học tập của các em. Đồng thời giáo viên cũng biết được những kiến
thức mà học sinh bị hỏng để kèm cặp, uốn nắn kịp thời, nhằm tạo cho các em
niềm tin trong học tập, không khí lớp học thoải mái hơn.
- Bản thân GV phải có tinh thần học hỏi, trao đổi kinh nghiệm với đồng
nghiệp nhằm nâng cao tiềm lực về hóa học như kiến thức Hóa học, kĩ năng thí
nghiệm hóa học, kĩ năng sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học và áp dụng
công nghệ thông tin vào bài học.
của ngành.
Xin chân thành cảm ơn!
Rạch giá, ngày 15 tháng 04 năm 2012
Người viết
23
Quách Ngọc Uyển
Ý KIẾN XẾP LOẠI CỦA
HỘI ĐỒNG TĐ- KT TRƯỜNG
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
______________________________
Ý KIẾN XẾP LOẠI CỦA
HỘI ĐỒNG TĐ- KT SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TỈNH KIÊN GIANG
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
_____________________________________________________________________
______________________________
24
MỤC LỤC
Trang
I. PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Bối cảnh lịch sử 1
2. Lý do chọn đề tài 1