Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
LỜI NÓI ĐẦU
Chuyện người thầy phát hiện và bồi dưỡng HSG cũng như người trồng
hoa. Bông hoa đẹp bởi bàn tay người chăm bón, nâng niu. Nhưng đâu phải khi
nào hoa cũng khoe sắc rực rỡ. Chỉ cần một cơn trở gió, một sự thay đổi tiết trời,
một sự lãng quên bất cẩn của người là hoa kém sắc, cây không trổ bông.
Có đồng nghiệp nói với tôi rằng, Học sinh giỏi chỉ là “thiên bẩm”. Là
người trực tiếp giảng dạy đã nhiều năm ở phổ thông, với tôi không nghĩ như
vậy. Năng khiếu và tri thức văn hóa nói chung phải được bồi đắp theo năm
tháng, gắn liền với sự nhạy bén của tố chất cá nhân. Người thầy phải là “chất
xúc tác” trong quá trình biến đổi chất, người quản lí là nguồn động lực tiếp sức
định hướng cho cả thầy và trò.
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá hiện đại hoá đất
nước, với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công
nghiệp, hội nhập với quốc tế. Nhân tố quyết định thắng lợi CNH-HĐH và hội
nhập quốc tế là nguồn lực con người, phát triển cả về số lượng và chất
lượng,trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Việc này bắt đầu từ giáo dục
phổ thông mà trước hết bắt đầu từ mục tiêu đào tạo của nghành là giáo dục học
sinh trở thành những con người phát triển toàn diện: có phẩm chất năng lực, có
tri thức và kỹ năng, có khả năng chiếm lĩnh tri thức mới một cách độc lập sáng
tạo. Để thực hiện tốt những yêu cầu trên những người làm công tác giáo dục
ngoài việc trang bị cho học sinh kiến thức kỹ năng cơ bản, thì việc bồi dưỡng
học sinh mũi nhọn cũng rất quan trọng nhằm phát hiện bồi dưỡng nhân tài cho
đất nước. Xong để có được sản phẩm học sinh giỏi ở các môn nói chung và môn
Địa Lí nói riêng, người giáo viên phải dày công nghiên cứu, trang bị cho học
sinh về phương pháp học tập, về kiến thức kỹ năng tốt nhất phù hợp với từng đối
tượng học sinh và từng địa phương.
Môn Địa lí là một môn học ít được học sinh yêu thích,nên việc tuyển chọn
học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lí là hết sức khó khăn.Thông
thường những em học sinh giỏi môn Địa lí là học sinh giỏi toàn diện, hoặc giỏi
về khoa học tự nhiên, do đó các em không mấy hứng thú khi được chọn môn
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý
GV:Dương Thị Dung Trang 2 Trường THCS Phan Bội Châu
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
I/ĐẶT VẤN ĐỀ
1.Lí do chọn đề tài:
1.1Cơ sở lý luận :
Ở nước ta Việc dạy học nói chung và bồi dưỡng nhân tài nói riêng được
chú trọng ngay từ khi dựng nước vì như Thân Nhân Trung đã nói “ Hiền tài là
nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thế nước lên nguyên khí suy thế nước
xuống ”
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định" Giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đầu tư
cho giáo dục là đầu tư cho phát triển" điều đó được thể hiện trong các Nghị
quyết Trung ương.
Nghị quyết TW VIII " phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích
cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học. Bồi dưỡng năng lực tự
học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên".
Nghị quyết TW IV " Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc
học. Mục tiêu đào tạo phải hướng vào đào tạo những con người năng động
sáng tạo".
“Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mũi nhọn” Trích kết luận của
hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa 9.
Ở nước ta cũng như hầu hết các nước trên Thế giới, vấn đề dạy học và
chất lượng dạy học nói chung, dạy học Địa lý nói riêng ngày càng trở thành mối
quan tâm hàng đầu của toàn xã hội.
Như vậy với kết luận “Phát triển quy mô giáo dục cả đại trà và mủi
nhọn” Trích kết luận của hội nghị lần thứ 6 ban chấp hành trung ương Đảng
khóa 9. Thì giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu là một trong những động
lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH đất nước ,là điều kiện phát huy
nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng ,toàn dân trong đó nhà
giáo và cán bộ giáo dục là lực lượng nòng cốt có vai trò quan trọng .
Phòng giáo dục hàng năm thường xuyên thanh tra, kiểm tra chất lượng
giáo dục của tất cả các trường để thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục nhằm
tạo ra nền tảng cho việc lựa chọn học sinh giỏi bộ môn.
GV:Dương Thị Dung Trang 4 Trường THCS Phan Bội Châu
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
Cứ 3 năm một lần trường tổ chức cuộc thi giáo viên dạy giỏi cấp Huyện,
chọn ra những giáo viên dạy tốt tham gia dự thi giáo viên dạy gỏi cấp Tỉnh để từ
đó Phòng giáo dục lựa chọn những giáo viên có trình độ chuyên môn vững
vàng, phương pháp giảng dạy tốt và có nhiều kinh nghiệm trong việc bồi dưỡng
học sinh giỏi để tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh.
Đối với trường THCS Phan Bội Châu.
Đào tạo học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lý nói riêng
luôn được BGH nhà trường quan tâm và điều này được thể hiện rõ trong các
nghị quyết của đại hội CNVC hàng năm, qua các chỉ tiêu phấn đấu được đưa ra
trong phương hướng nhiệm vụ của nhà trường.
Nhà trường khuyến khích giáo viên có nhiều sáng kiến trong công tác
chuyên môn, trong việc đổi mới phương pháp dạy học để giáo viên học hỏi trao
đổi lẩn nhau nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đây là một nền tảng cho công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
Nhà trường luôn chủ động, đón đầu các kế hoạch trong việc bồi dưỡng
học sinh giỏi tránh gây sức ép quá lớn cho thầy và trò.
Nhà trường luôn chú trọng những chương trình tập huấn cho giáo viên
trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi qua các chuyên đề để giáo viên có sự
trao đổi lẩn nhau đặc biệt là trong các tham luận Đại hội công nhân viên chức.
Nhà trường chọn ra đội ngũ giáo viên ưu tú nhất để tham gia giảng dạy
bồi dưỡng cho các em .
Nhà trường mua những đầu sách nâng cao và các trang thiết bị để đầu tư
cho công tác bồi dưỡng và động viên khuyến khích bằng việc khen thưởng, động
viên kịp thời, ghi danh thầy cô giáo và học sinh đạt nhiều thành tích.
Song trên thực tế ở bậc học phổ thông từ trước tới nay quan niệm vẫn cho
2.1. Những điểm mạnh :
- Nhà trường có đủ 2 giáo viên giảng dạy bộ môn Địa lý chính ban, đạt trình độ
trên chuẩn (Trình độ đại học), giáo viên trẻ khỏe, nhiệt tình có trách nhiệm cao
trong công tác.
- Trong 2 đồng chí giáo viên có một đồng chí có nhiều kinh nghiệm trong công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi, có bề dày thành tích trong công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi nhiều năm liền có học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh.
GV:Dương Thị Dung Trang 6 Trường THCS Phan Bội Châu
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
Có năng lực chuyên môn, phương pháp dạy tốt.
- Được sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của các cấp lãnh đạo: Ban giám hiệu
nhà trường tổ chuyên môn, ủng hộ của bạn bè đồng nghiệp.
- Học sinh ngoan có ý thức phấn đấu, quyết tâm.
2.2. Những hạn chế cần giải quyết :
- Nhiều em không muốn tham gia vào các đội tuyển HSG.
- Một số em tham gia vào bồi dưỡng môn Địa lí không phải là các em ham thích
môn Địa lí, mà đây chỉ là cả nể lời giáo viên động viên của giáo viên hoặc các
em nhận thấy rằng đây là bộ môn mà hàng năm tỉ lệ đậu của trường tương đối
cao, hoặc là có em cho rằng các bạn vào đội tuyển hết rồi thì mình cũng vào đại
môn Địa lí để có tên trong danh sách là học sinh tham gia bồi dưỡng học sinh
giỏi. Nên khi bồi dưỡng giáo viên rất vất vã do khả năng nhận thức chậm, kỹ
năng tính toán còn hạn chế.
- Hai giáo viên bộ môn Địa lý đều công tác xa nhà, cuộc sông chưa ổn định một
phần làm ảnh hưởng đến quá trình bồi dưỡng, trong đó có một giáo viên mới ra
trường nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và bồi dưỡng.
- Phụ huynh học sinh không quan tâm đến việc các em tham gia bồi dưỡng
môn Địa lý.
- Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học, tài liệu phục vụ cho ôn luyện của học
sinh và giáo viên còn thiếu, đặc biệt là phòng học để ôn thi quá thiếu tài liệu
riêng phục vụ riêng cho công tác ôn thi học sinh giỏi còn có nhiều hạn chế.
Sáng kiến kinh nghiệm này được nghiên cứu trong phạm vi bồi dưỡng
học sinh giỏi của trường THCS Phan Bội Châu và học sinh giỏi của huyện nhà
từ năm học 2005-2010.
5. Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lý trường THCS Phan Bội Châu và đội tuyển
học sinh giỏi môn Địa lý dự thi cấp tỉnh của huyện KrôngBuk.
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Phương pháp tìm hiểu, quan sát
Phương pháp thống kê và tổng kết kinh nghiệm.
GV:Dương Thị Dung Trang 8 Trường THCS Phan Bội Châu
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
II/PHẦN NỘI DUNG
Những phương pháp vận dụng trong công tác bồi dưỡng học sinh:Để công
tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết qua cao trong quá trình bồi dưỡng tôi luôn áp
dụng các phương pháp sau:
Phương pháp 1: Điều tra học sinh có năng khiếu học bộ môn.
Tuy là bộ môn phụ ít được học sinh và phụ huynh quan tâm, song nếu
được quyền chon lựa như các bộ môn văn hoá cơ bản khác, thì bản thân tôi nhận
thấy việc điều tra phát hiện học sinh có năng khiếu học giỏi bộ môn là rất quan
trong. Do vậy trong quá trình giảng dạy trên lớp, chấm chữa bài kiểm tra của
học sinh giáo viên bộ môn phải: Chuẩn bị chu đáo bài dạy, sử dụng linh hoạt các
phương pháp dạy học, có hệ thống câu hỏi đưa ra phù hợp với mọi đối tượng
nhằm phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học,
nhằm cung cấp kiến thức cơ bản ở mỗi bài học cho học sinh. Đồng thời có
những hệ thống câu hỏi nâng cao nhằm phát hiện những học sinh có năng khiếu
học giỏi bộ môn. Từ đó tiếp tục bồi dưỡng nâng cao kiến thức để phát triển tài
năng sẵn có của học sinh.
Yêu cầu:
+ Đối tượng học sinh phải thực sự ham thích học, có ý thức đam mê nghiên cứu,
có năng khiếu đặc biệt về khả năng học tập.
+ Có những kiến thức địa lý cơ bản, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi.
Chính điều này là cái cốt lỏi nếu được sự dìu dắt chỉ bảo của giáo viên trong quá
trình bồi dưỡng các em dễ dàng thắp sáng lên tiềm năng của mình và có những
nhạy bén trong việc khám phá từ những khía cạnh sâu sắc của đề thi liên quan
đến việc tìm tòi, sáng tạo tư duy địa lý.
Vì vậy trong việc chọn đối tượng giáo viên không nhất thiết phải chọn học sinh
đạt điểm cao vì biết đâu đó là tính cần cù, chịu khó mang tính học thuộc lòng
khi đề kiểm tra mang tính lý thuyết, mà đối tượng đó thiếu đi tính tư duy sáng
tạo, khả năng về năng khiếu bộ môn. Do đó giáo viên cũng có thể dể dàng làm
thất thoát nhân tài bộ môn khi có những học sinh có năng khiếu nhưng gặp hoàn
cảnh khó khăn vì vậy kết quả học tập không cao. Trường hợp này dễ gặp trong
điều kiện các trường ở vùng nông thôn của huyện Krông Buk chúng ta.
Phương pháp 3: Tiến hành bồi dưỡng.
GV:Dương Thị Dung Trang 10 Trường THCS Phan Bội Châu
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
Trước khi đi vào nội dung chương trình bồi dưỡng người giáo viên cần phải làm
những công việc sau :
3.1.Kiến thức và phương pháp của giáo viên :
Như tôi đã khẳng định ban đầu việc bồi dưỡng học sinh giỏi là một công
việc rất khó khăn đòi hỏi người giáo viên vừa phải có tài vừa phải có tâm do
vây khi bắt tay vào bồi dưỡng thì theo tôi nhiệm vụ tối quan trọng của người
giáo viên là: Phải tham khảo nhiều tài liệu một cách thường xuyên để cập nhật
bổ sung và phát triển chuyên đề mà mình phụ trách, phải chủ động đi trước học
sinh một bước, phải dạy cho các em tiếp cận kiến thức một cách tự nhiên, chủ
động và sáng tạo. Cụ thể là dạy cho các em cách tìm đến kiến thức và nghiên
cứu nó, cách làm bài tập, cách đọc sách và tìm tài liệu, cách mở rộng và khai
thác kiến thức, cách chế tác và cụ thể hóa một bài tập cách ôn tập cho một kỳ thi
em lại ở nhà phụ huynh thì không mấy hứng thú khi con mình tham gia thi học
sinh giỏi môn Địa lý.
3.3. Thời gian ôn thi :
Thời gian để các em bước vào công đoạn ôn thi rất ngắn và gấp rút trong
khi đó thời gian của thầy và trò dành cho công tác ôn thi quá hạn chế. Cơ sở vật
chất cuả nhà trường không đảm bảo (phòng học ôn thi quá thiếu) thực trạng này
đã tồn tại từ lâu rồi do vậy bằng kinh nghiệm của bản thân mình thì tôi luôn tận
dụng mọi quỹ thời gian sẳn có (song không có nghĩa là nhồi nhét kiến thức ) của
thầy và trò, thời gian theo sự phân công của chuyên môn trên trường không thể
đủ cho chúng ta hoàn thành tốt công tác ôn thi do vậy chúng ta phải ôn thi nhiều
cho các em ở nhà.
3.4.Tài liệu ôn thi:
Tài liệu tối quan trọng và xuyên suốt quá trình ôn thi là: Sách giáo khoa
và sách giáo viên Địa lý từ lớp 6-9. Đây là tài liệu cơ bản nhất mà giáo viên và
học sinh cần bám sát trong quá trình ôn thi mà không có một tài liệu nào có thể
thay thế được.
Ngoài ra trong quá trình ôn luyện giáo viên cần có thêm các tài liệu tham
khảo như:
+ Sách giáo khoa (giáo viên +học sinh) Địa lý của chương trình phổ thông
trung học đặc biệt là sách Địa lý lớp 10.
GV:Dương Thị Dung Trang 12 Trường THCS Phan Bội Châu
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
+ Tài liệu rèn luyện kỹ năng thực hành (Do Bộ giáo dục biên soạn)
+ Giaó trình : Địa lý tự nhiên Việt nam (Do tác giả Lê Bá Thảo biên soạn)
+ Giaó trình : Trái Đất (Do nhóm tác giả của trường ĐHSP Hà Nội biên
soạn)
+ Tuyển tập đề thi Olimpic môn Địa lý (Nhà sách giáo dục biên soạn)
+ Các đề thi học sinh giỏi các cấp môn Địa lý của các huyện và của các
tỉnh thành.
Đây chỉ là những tài liệu tham khảo, hộ trợ cho việc ôn thi học sinh giỏi,
gồm có hai phần rất cụ thể là Phần kiến thức (Dân cư, kinh tế các vùng ) và
Phần rèn luyện kỹ năng (Vẽ và phân tích biểu đồ ) thì trọng tâm là:-Phần kiến
thức:Tự nhiên của các vùng
- Phần rèn luyện kỹ năng: Vẽ và phân tích biểu đồ
(Đây là hai nội dung của chương trình lớp 9 mà hầu như đề thi nào cũng đề
cập tới )
Lưu ý : Trong 4 chương trình thì chương trình quan trọng nhất là chương
trình của lớp 9 và lớp 6, lớp 8.
3.6. Nội dung ôn thi :
Trước khi bước vào nội dung bồi dưỡng giáo viên làm công tác bồi dưỡng
phải kiểm tra lại khả năng nhận thức, lưu giữ thông tin địa lý từ các học sinh,
nắm bắt những mặt còn hạn chế để có phương pháp bồi dưỡng thích một mắt
xích rất quan trọng (kiểm tra những kiến thức cơ bản về địa lý phổ thông có liên
quan đến thực tiễn cuộc sống, khả năng vận dụng kiến thức địa lý để giải thích
một số hiện tượng địa lý cơ bản xung quanh cuộc sống, hay kỹ năng sử dụng các
thiết bị đồ dùng học tập, kỹ năng phân tích biểu bồ, lược đồ, kỹ năng vẽ biểu
đồ ). Từ thực tế kiểm tra nắm bắt các đối tượng để có phương pháp bồi dưỡng
phù hợp cho từng đối tượng trong đội tuyển, đồng thời có kế hoạch để phân
công học sinh giúp đỡ nhau cùng học tập, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất
lượng hiệu quả đồng đội.
Nội dung ôn thi gồm có hai phần : Phần lý thuyết và Phần thực hành
Ở phần trên tôi đã giới hạn rất rõ về trọng tâm của từng chương trình rồi
do vậy ở phần nay tôi không đề cấp chi tiết từng nội dung cần ôn thi bởi tất cả
GV:Dương Thị Dung Trang 14 Trường THCS Phan Bội Châu
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
đã có trong sách giáo khoa. Tôi chỉ đưa ra những nội dung cần thiết nhất mà
nhiều giáo viên chúng ta còn mơ hồ chưa thực sự hiểu được phần trọng tâm để
ôn thi (tránh tình trạng ôn thi tràn lan ) hoặc không có tài liệu để tham khảo nên
không đề cập tới trong quá trình ôn thi .
*Đối với chương trình địa lý lớp 6:
0
27’ ra giây (”). 23
0
x 60’ + 27’ = 1407’ x 60” = 84.420”.
Trong 1 ngày Mặt Trời di chuyển 1 khoảng là: 84.420”: 93 ngày = 908”/ngày.
Ví dụ: Ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh tại 10
0
02’B (tại Cần Thơ).
Đổi 10
0
02’B ra giây ta có 36.120”. Vậy số ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh tại
10
0
02’B cách xích đạo là: 36.120” : 908” = 40 ngày
Ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh lần I: 21/3 + 40 ngày = 30/4 (tháng 3 có 31 ngày).
Ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh lần II: 23/9 - 40 ngày = 14/8 (tháng 8 có 31 ngày)
Ở Nam bán cầu: từ ngày 23/9 đến 21/3 mất 179 ngày (năm nhuận có 180 ngày)
- từ xích đạo đến chí tuyến Nam mất 89 ngày hoặc 90 ngày (năm nhuận).
Tương tự như ở BBC: 1 ngày Mặt Trời đi được: 84.420” : 90 ngày = 938”/ngày
Ví dụ: Tại vĩ độ 15
0
N sẽ có 2 ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh. Số ngày cách xích
đạo 54000”: 938” = 58 ngày. Ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh cụ thể sẽ là:
Lần I: từ ngày 23/9 + 58 ngày = 20/11 (tháng 10 có 31 ngày).
Lần II: từ ngày 21/3 - 58 ngày = 24/1 (tháng 2 chỉ có 28 ngày hoặc 29 ngày)
3. Cách tính tổng quát:
Muốn tính ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh của điểm A có A
0
vĩ, ta cần nắm số
ngày từ lúc Mặt Trời lên thiên đỉnh tại xích đạo 0
Cách tính góc nhập xạ:
2.1. Công thức tổng quát: h
0
= 90
0
- φ
± δ
Trong đó: . φ: độ vĩ của điểm cần tính.
δ: độ lệch của góc chiếu so với xích đạo.
Vào 2 ngày 21/3 và 23/9 Mặt trời lên thiên đỉnh ở xích đạo nên δ = 0.
Ngày 22/6 và 22/12 Mặt trời lên thiên đỉnh ở xích đạo nên ở CTB hoặc CTN nên
δ = ± 23
0
27’.
Ngày 21/3 và 23/9 tại xích đạo h
0
= 90
0
– 0
0
= 90
0
và giảm từ xích đạo về 2 cực.
Ngày 22/6: Mặt trời lên thiên đỉnh tại CTB (23
0
27’ B), nên mọi vĩ độ ở ngoài
vùng nội chí tuyến BBC có δ = + 23
0
27’ xích đạo và NBC có δ = - 23
0
N
0
0
23
0
27’
66
0
33’
90
0
66
0
33’
23
0
27’
0
0
23
0
27’
46
0
54’
90
0
66
0
0
= 66
0
33’+ φ
Ví dụ 1: Góc nhập xạ ngày 22/6:
- Ở vùng nội chí tuyến BBC: h
0
= 90
0
– δ + φ hay h
0
=66
0
33’+ φ.
+ Ở 10
0
B: h
0
= 90
0
– 23
0
27’ +10
0
= 76
0
33’ hay h
0
=66
0
27’
Ngày 22/12 thì ngược lại với ngày 22/6.
- Ở vùng nội chí tuyến NBC: h
0
= 90
0
– δ + φ hay h
0
=66
0
33’+ φ.
+ Ở 10
0
N: h
0
= 90
0
– 23
0
27’ +10
0
= 76
0
33’ hay h
0
=66
0
33’+10
0
= 76
. Tính độ vĩ ( φ ) khi biết góc nhập xạ:
Từ công thức tổng quát tính góc nhập xạ:
h
0
=90
0
- φ ± δ à φ = 90
0
– h
0
± δ
3.1. Đối với vùng nội chí tuyến: φ = h
0
- 90
0
+ δ
Ví dụ 1: Tính φ của điểm A nằm trong vùng nội chí tuyến BBC vào ngày 22/6
khi biết h
0
= 80
0
δ A = (80
0
- 90
0
) + 23
0
27’ = 13
0
27’ = 13
0
– h
0
+ δ = 90
0
– 43
0
06’ + 23
0
27’ = 71
0
01’B.
3.3. Đối với tất cả các độ vĩ ở NBC: vào ngày 22/6
Công thức tổng quát là φ = 90
0
– h
0
– δ
Ví dụ: Tính φ của điểm D khi biết h
0
= 43
0
06’
φ D = 90
0
– h
0
– δ = 90
0
– 43
33’N đến 90
0
N: Số ngày =(acscos x cos A : 0.398) x (90 : 45) - 1
A vĩ độ cần tính
- Các bài tập về tính khoảng cách trên bản đồ, trên thực tế và tính tỉ lệ bản đồ
Phần khí quyển : Đặc điểm cấu tạo của lớp võ khí, khí áp và gió, các
khối khí ,khí hậu, thời tiết, các đới khí hậu.
Phần thủy quyển: Nguyên nhân hình thành Sóng, Thủy triều, Dòng biển,
các khái niệm về các thành phần của tự nhiên .
*Đối với chương trình địa lý lớp 7: -Giaỉ thích một sồ hiện tượng tự
nhiên ở các châu lục ( VD ? Tại sao phía Bắc của Châu Phi hình thành hoang mạc
XaHaRa hoang mạc lớn nhất thế giới ? Giaỉ thích tại sao Châu Phi là một Châu lục
nóng và khô ? Tại sao Tây Âu và Trung Âu cùng nằm trên một vĩ độ song khí hậu ở
Tây Âu lại mát mẽ và mưa nhiều hơn ở Trung Âu (đối với câu hỏi như thế này
giáo viên chỉ cần cho học sinh nắm vững sự thay đổi của khí hâu theo vị trí gần hay
xa biển thì khi gặp những câu tương tự các em sẽ biết cách vận dụng để giả thích )
…….
*Đối với chương trình địa lý lớp 8: Giaỉ thích một sồ hiện tượng tự
nhiên ở Châu á ( Vd ? Giaỉ thích tại sao dãy núi HiMaLa là ranh giới phân chia khí
hậu giữa khu vực Trung á và Nam á ? Tại sao khí hậu của Tây Nam Á rất khô
nóng ? Tại sao Tây Nam Á là khu vực thường xuyên xảy ra chiến tranh…… )
Lưu ý : Phần kiến thức ở chường trình lớp 7 và đầu lớp 8 theo kinh nghiệm
của tôi thì nội dung ra đề chủ yếu là những câu hỏi giải thích mang tính tư duy vân
dụng do vậy trong quá trình ôn thi chúng ta không nên ôn thi nhiều kiến thức cho
GV:Dương Thị Dung Trang 19 Trường THCS Phan Bội Châu
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
các em mà chỉ nên đề cập tới những nội dung liên quan đến các sự vật hiện tượng
xảy ra cần phải được giải thích mà thôi song phần này không phải giáo viên nào
cũng có thể định hướng được hệ thống các câu hỏi tư duy nếu chúng ta chưa dạy
Phương pháp nhận dạng biểu đồ:
Các loại biểu đồ rất phong phú và đa dạng. Mỗi loại biểu đồ lại có thể được
dùng để vẽ biểu hiện nhiều chủ thể khác nhau. Nếu đề ra yêu cầu vẽ cụ thể biểu đồ
gì thì chỉ cần đọc kỹ, gạch dưới để tránh lạc đề và thực hiện đúng yêu cầu.
Đối với đề không ghi rõ yêu cầu cụ thể là vẽ biểu đồ gì mà chỉ yêu cầu vẽ dạng
thích hợp nhất thì cần phải phân tích đề thật kỹ trước khi thực hiện. Đây là dạng
đề khó nên học sinh muốn làm được cần có phương pháp phân tích để nhận
dạng thích hợp. Để nhận được dạng biểu đồ học sinh cần đọc kỹ đề và dựa vào
một số cụm từ gợi ý, một số yếu tố cơ bản từ đề bài để xác định đúng dạng cần
vẽ, cụ thể:
Biểu đồ hình cột:
Dạng biểu đồ này sử dụng để chỉ khác biệt về qui mô khối lượng của một hay một
số đối tượng địa lý hoặc sử dụng để thực hiện tương quan về độ lớn giữa các đại
lượng.
Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ : Tình hình, so sánh, sản
lượng, số lượng. Ví dụ: Vẽ biểu đồ so sánh dân số, diện tích … của 1 số tỉnh
( vùng, nước) hoặc vẽ biểu đồ so sánh sản lượng ( lúa, ngô, than…) của một số địa
phương qua một số năm.
Ví dụ cụ thể :Cho bảng số liệu về năng suất lúa của Đồng bằng sông Hồng,
Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. (Đơn vị: tạ/ha)
Năm
Vùng
1995 2000 2005
Đồng bằng sông Hồng 44,4 55,2 54,3
Đồng bằng sông Cửu Long 40,2 42,3 50,4
• Cả nước • 36,9 • 42,4 • 48,9
Vẽ biểu đồ so sánh năng suất lúa của Đồng bằng sông Hồng với Đồng
bằng sông Cửu Long và cả nước.
Nhận xét và giải thích.
Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế năm 2002.
• Các thành phần kinh tế • Tỉ lệ %
GV:Dương Thị Dung Trang 22 Trường THCS Phan Bội Châu
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
• Kinh tế nhà nước
• Kinh tế tập thể
• Kinh tế tư nhân
• Kinh tế cá thể
• Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
• 38,4
• 8,0
• 8,3
• 31,6
• 13,7
• Tổng cộng • 100,0
Hãy vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế năm
2002 .
4. Biểu đồ miền:
Biểu đồ miền còn được gọi là biểu đồ diện. Loại biểu này thể hiện được cả cơ
cấu và động thái phát triển của các đối tượng. Toàn bộ biểu đồ là 1 hình chữ nhật
( hoặc hình vuông), trong đó được chia thành các miền khác nhau.
Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ : Cơ cấu và có nhiều
mốc thời gian ( từ 4 mốc thời gian trở lên )
Ví dụ cụ thể :
a. Hãy đặt tên cho bảng số liệu trên.
b. Vẽ biểu đồ thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước ta từ năm 1990
đến 2002. Hãy quan sát bảng số liệu sau: (Đơn vị: %)
Ngành 1990 1991 1995 1997 1998 2002
Nông, lâm, ngư nghiệp 38,7 40,5 27,2 25,8 25,8 23,0
Công nghiệp, xây dựng 22,7 23,8 28,8 32,1 32,5 38,5
• 1983
7,2 6,8 0,4 22,0
• 1990
9,2 8,4 0,8 27,8
• 2005
12,4 9,5 2,9 37,7
a. Vễ biểu đồ thích hợp thể hiện sự thay đổi diện tích rừng và độ che phủ của rừng
giai đoạn 1945-2005 ở nước ta .
b. Nhân xét sự thay đổi đó .
Phương pháp vẽ biểu đồ:
Biểu đồ cột:
Các bước tiến hành:
Bước 1: Chọn tỉ lệ thích hợp
Bước 2: Kẻ hệ trục toạ độ vuông góc
+ Trục đứng thể hiện đơn vị của các đại lượng, có mũi tên, có mốc ghi cao hơn giá
trị cao nhất trong bảng số liệu. Phải ghi rõ danh số( nghìn tấn, tỉ đồng….)
+ Trục ngang thể hiện các năm hoặc đối tượng khác: có mũi tên và ghi rõ danh số.
Nếu trục ngang thể hiện năm thì chia mốc thời gian tương ứng với mốc thời gian
ghi trong bảng số liệu.
Bước 3: Tính độ cao của từng cột cho đúng tỉ lệ rồi thể hiện trên giấy.
Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ: ghi các số liệu tương ứng vào các cột, vẽ ký hiệu và
lập bản chú giải, ghi tên biểu đồ.
Một số dạng biểu đồ cột thường gặp: Biểu đồ cột đơn, biểu đồ cột chồng, biểu đồ
cột đơn gộp nhóm ( loại này gồm 2 loại: cột ghép cùng đại lượng và cột ghép khác
đại lượng), biểu đồ thanh ngang.
Lưu ý: Trong biểu đồ các cột chỉ khác nhau về độ cao còn bề ngang của các cột
phải bằng nhau. Tuỳ theo yêu cầu cụ thể mà vẽ khoảng cách giữa các cột bằng nhau
GV:Dương Thị Dung Trang 24 Trường THCS Phan Bội Châu
Nghìn ha
Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Địa Lý
Bước 1: Kẻ hệ trục toạ độ vuông góc
+ Trục đứng thể hiện đơn vị của các đại lượng, có mũi tên, có mốc ghi cao hơn giá
trị cao nhất trong bảng số liệu. Phải ghi rõ danh số( nghìn tấn, tỉ đồng….)
GV:Dương Thị Dung Trang 25 Trường THCS Phan Bội Châu
Chú giải:
Diện tích
nuôi trồng
thủy sản
Biểu đồ thể hiện diện tích nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh, thành phố
của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2002