kinh nghiệm dạy luyện từ và câu lớp 4 - Pdf 18

Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
I. Đặt vấn đề
1.Lý do chọn sáng kiến:
- Xuất phát từ mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:
+ Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe,
nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa
tuổi.
Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư
duy.
+ Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu
biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam
và nước ngoài.
+ Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt
và rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kỹ năng đọc cho học sinh.
Khác với các lớp dưới, ở lớp 4 bắt đầu có những tiết học dành riêng để trang bị
kiến thức cho học sinh, giúp học sinh:
a. Mở rộng, hệ thống hoá vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ
giản về từ và câu.
b. Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các dấu
câu.
c. Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu; có ý
thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp.
2. Thực trạng , nguyên nhân:
a. Về giáo viên:
1
Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong

Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
trong giảng dạy. Những kiến thức không chắc chắn, thiếu tính hệ thống, trong
lúc nội dung luôn quyết định phương pháp dạy học, không thể dạy tốt khi không
nắm chắc nội dung và tất nhiên học sinh lĩnh hội các kiến thức này sẽ bị hạn chế
phần nào.
- Các hình thức dạy học giáo viên hay sử dụng đối với phân môn Luyện từ và
câu là: cá nhân, nhóm, tổ, lớp nhưng qua dự giờ thì chúng tôi thấy phần lớn chỉ
là hình thức, hiệu quả thấp vì học sinh kém linh hoạt và rất chậm chạp trong học
với hình thức học nhóm, bàn ghế không phù hợp (bàn ghế 5 chỗ ngồi); cách dạy
của giáo viên chủ yếu dưạ vào sách giáo viên, sách thiết kế ít chủ động tổ chức
các hoạt động dạy và học cho phù hợp với điều kiện hiện tại, giáo viên có giao
nhiệm vụ cho học sinh nhưng ít chú ý đến từng đối tượng, sự giúp đỡ của giáo
viên đối với học sinh yếu kém có phần hời hợt, còn xa rời, kiến thức có lúc giáo
viên áp đặt cho học sinh.
Trong khi đó Luyện từ và câu là phân môn khó dạy nhất trong các phân
môn của môn Tiếng Việt. Phân môn này có nhiều dạng bài tập ảnh hưởng tới
việc lựa chọ hình thức, phương pháp dạy, cách tổ chức trong lúc đó giáo viên
còn phải dạy các môn học khác cũng không kém phần quan trọng như môn
Tiếng Việt.
b. Về học sinh:
- Trình độ học sinh không đồng đều, vốn từ trước khi đến trường rất ít; khi
nói, khi viết rơi vào tình trạng “bí từ, nghèo từ” khi nghe, đọc không có cơ sở
để hiểu đầy đủ và hiểu được khá chính xác nội dung.
- Học sinh vùng nông thôn trung du, miền núi ít được giao tiếp với xã hội
rộng hơn, ít được tham gia các hoạt động ngoại khoá ngoài vùng trường, không
được tham quan du lịch mà chỉ giao tiếp với những người trong gia đình, bạn
bè trong lớp, bạn chăn trâu cắt cỏ và đó cũng là nguyên nhân làm cho sự hiểu
biết bị hạn chế vốn từ hàng ngày ít được bổ sung. Điều kiện học còn thiếu thốn
cả về thời gian, cả về vật chất lẫn tinh thần, đó là các em còn phải lao động cùng
3

Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
hiểu ý nghĩa danh từ, ý nghĩa của chủ ngữ, đặt câu theo khuôn mẫu cũ, gộp luôn
cả danh từ đơn vị với danh từ chỉ sự vật là một danh từ.
Ví dụ: rặng + dừa = rặng dừa
Trong câu “ Con gà trống nhà em có bộ lông rất mượt.”, học sinh cho “ con
gà trống” là danh từ.
Qua khảo sát đầu năm tại lớp 4B tôi chủ nhiệm thu được kết quả như sau:
Số học
sinh
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL SL TL SL TL SL TL
20 0 0 2 10 13 65 5 25
Với những lý do trên đây, tôi đã chọn “ Kinh nghiệm dạy một số bài khó
trong phân môn Luyện từ và câu Lớp 4” với mong muốn khắc phục tình trạng
nêu trên góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt trong trường
Tiểu học.
II. Nội dung
Đề xuất cách dạy một số bài khó trong phân môn luyện từ và câu
lớp 4.
Từ thực tế nêu trên nên tôi chỉ đề xuất cách dạy một số vấn đề theo chúng
tôi là khó của 4 bài trong phân môn Luyện từ và câu, lớp 4, đó là:
1. Danh từ ( tiết 2 - tuần 5).
2. Danh từ chung và danh từ riêng ( tiết 1 - tuần 6).
3. Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì? ( tiết 1 - tuần 19).
4. Chủ ngữ trong câu kể Ai thế nào? ( tiết 1 - tuần 22).
1. Một số bài khó và cách dạy trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4.
1.1. Bài " Danh từ" ( tiết 2 - tuần 5).
a. Cấu trúc bài học: 3 phần, có 4 bài tập.
b. Nội dung từng phần:

minh hoạ học sinh tìm sai hoặc tìm không được và gợi ý cách tháo gỡ.
Bài tập2: Xếp các từ em mới tìm được vào nhóm thích hợp.
+ Từ chỉ người: ông cha,
6
Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
+ Từ chỉ vật: sông,
+ Từ chỉ hiện tượng: mưa,
+ Từ chỉ khái niệm: cuộc sống,
+ Từ chỉ đơn vị: cơn,
- Khó khăn: Đối với bài tập này khó khăn ở chỗ là khả năng sắp xếp, liệt kê và
nhầm lẫn giữa danh từ chỉ khái niệm với danh từ chỉ đơn vị.
- Biện pháp khắc phục: Giáo viên phải bám sát từng nhóm để hướng dẫn và
giải thích rõ về danh từ chỉ khái niệm và danh từ chỉ đơn vị.
Phần 2: Ghi nhớ.
Danh từ là những từ chỉ sự vật ( người, vật, hiện tượng, khái niệm, hoặc
đơn vị)
- Mục đích: Học sinh tự nêu được định nghĩa danh từ.
- Khó khăn: Theo định hướng là giáo viên cho học sinh căn cứ vào bài tập 2
(phần nhận xét), tự nêu định nghĩa danh từ thì học sinh không nêu được định
nghĩa.
- Biện pháp khắc phục: Cho học sinh lần lượt đọc các từ chỉ người, chỉ vật, chỉ
hiện tượng, chỉ khái niệm, chỉ đơn vị sau đó cho một số em khá tìm thêm. Giáo
viên kết luận “ Những từ đó gọi là danh từ ” và hỏi “ Vậy danh từ là những từ
chỉ gì ? ”
Phần 3: Luyện tập ( 2 Bài tập).
Bài tập1: Tìm danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ được in đậm dưới
đây:
“ Một điểm nổi bật trong đạo đức của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là lòng thương
người Chính vì thấy nước mất, nhà tan mà Người đã ra đi học tập kinh

Sau đó yêu cầu mỗi em tự đặt một câu khác 5 câu cả lớp vừa làm.
1.2. Bài "Danh từ chung và danh từ riêng" (tiết1 - tuần 6).
a. Cấu trúc : 3 phần , có 5 bài tập.
b. Nội dung từng phần:
Phần1: Nhận xét: có 3 bài tập.
8
Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
Bài 1: Tìm các từ có nghĩa như sau.
a. Dòng nước chảy tương đối lớn, trên đó thuyền bè đi lại được.
b. Dòng sông lớn nhất chảy qua nhiều tỉnh phía Nam nước ta.
c. Người đứng đầu nhà nước phong kiến.
d. Vị vua có công đánh giặc Minh, lập ra nhà Lê ở nước ta.
- Mục đích: Học sinh tìm ra được hai cặp danh từ chỉ người và chỉ vật.
- Khó khăn: Học sinh gặp khó khăn ở câu b,c,d vì học sinh nắm kiến thức địa lí
và lịch sử rất hạn chế nên nhiều em tìm sai từ.
- Biện pháp khắc phục: + Khi dạy sử dụng bản đồ
+ Hỏi: Hoàng Hậu là vợ của ai?
+ Hỏi: Lê là họ cuả vị vua nào mà tên có cùng phụ âm đầu là L
Bài tập2: Nghĩa của các từ tìm được ở bài tập1 khác nhau như thế nào?
- So Sánh a với b.
- So Sánh c với d.
- Mục đích: Học sinh nhận biết được danh từ chung và danh từ riêng dựa trên ý
nghĩa khái quát chung.
- Khó khăn: sông/ Cửu Long ( sông là danh từ chung; Cửu Long là danh từ
riêng ); vua / Lê Lợi ( vua là danh từ chung ; Lê Lợi là danh từ riêng ).
Học sinh khó nói được ý nghĩa khái quát của từng từ, khó diễn đạt rõ ý nghĩa.
- Biện pháp khắc phục: Giáo viên gợi ý:
+ Trong hai từ “sông” và “ Cửu Long” thì từ nào là tên chung để chỉ những
dòng nước chảy tương đối lớn mà không chỉ cụ thể một dòng nước nào cả? Và

- Mục đích: Dựa vào dấu hiệu để nhận biết danh từ chung, danh từ riêng trong
đoạn văn để củng cố kiến thức vừa học.
- Khó khăn: Một số nhầm lẫn giữa danh từ chung với tiếng đầu câu được viết
hoa, đó là từ “Chúng”; từ “Nhìn”; tìm thiếu các danh từ “ánh”, “cái”, “phải”,
“giữa”, “trước”.
- Biện pháp khắc phục: + Giáo viên lưu ý học sinh các tiếng đầu câu người ta
viết hoa cần phải xem có phải danh từ không?
10
Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
+ Người ta gọi nắng bằng gì? (ánh)
+ Chỉ vị trí trong không gian người ta dùng những từ nào?
Bài tập2: Viết họ và tên 3 bạn nam và 3 bạn nữ trong lớp em. Họ và tên các
bạn ấy là danh từ chung hay danh từ riêng? Vì sao?
- Mục đích: Học sinh nắm được quy tắc viết hoa danh từ riêng và bước đầu vận
dụng quy tắc đó vào thực tế.
- Khó khăn: Học sinh còn lúng túng.
- Biện pháp khắc phục: Giáo viên viết mẫu tên hai bạn 1 nam và 1 nữ.
1.3. Bài "Chủ ngữ trong câu kể Ai làm gì?".
a. Cấu trúc: 3 phần, có 7 bài tập.
b. Nội dung từng phần:
Phần1: Nhận xét: (Gồm 1 đoạn văn và 4 bài tập)
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
" Một đàn ngỗng vươn dài cổ, chúi mỏ về phía trước, định đớp bọn trẻ.
Hùng đút vội khẩu súng gỗ vào túi quần, chạy biến. Thắng mếu máo nấp vào
sau lưng Tiến, Tiến không có súng, cũng chẳng có kiếm. Em liền nhặt một cành
xoan, xua đàn ngỗng ra xa. Đàn ngỗng kêu quàng quạc, vươn cổ chạy miết."
Theo Tiếng Việt 2 -1998
Bài tập 1: Tìm các câu kể Ai làm gì ? trong đoạn văn trên.
Bài tập 2: Xác định chủ ngữ trong mỗi câu vừa tìm được.

Phần 3: Luyện tập (có 3 bài tập)
Bài 1: Đọc lại đoạn văn sau.
Cả thung lũng như một bức tranh thuỷ mặc. Những sinh hoạt của ngày mới
bắt đầu. Trong rừng, chim chóc hót véo von. Thanh niên lên rẫy. Phụ nữ giặt
giũ bên những giếng nước. Em nhỏ đùa vui trước nhà sàn. Các cụ già chụm đầu
bên những ché rượu cần.
Theo Đình Trung
a. Tìm các câu kể Ai làm gì? trong đoạn văn trên.
b. Xác định chủ ngữ của từng câu vừa tìm được.
12
Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
- Mục đích: Học sinh củng cố lí thuyết ở phần ghi nhớ.
- Khó khăn: Học sinh trung bình trở xuống xác định không đúng các câu
3,4,5,6,7 là câu kể mà xác định lộn xộn, lung tung.
- Biện pháp: Giáo viên giải thích rõ thêm các câu kể là những câu nói đến
người, con vật như chim chóc và có gắn với các động từ chỉ hoạt động còn
các câu khác không phải là câu kể Ai làm gì?
Bài 2: Đặt câu với các từ ngữ sau làm chủ ngữ:
a. Các chú công nhân
b. Mẹ con
c. Chim sơn ca
- Mục đích: Học sinh biết đặt câu với bộ phận chủ ngữ cho trước.
- Khó khăn: Học sinh đặt câu rất chậm, ở câu a học sinh lúng túng khó hiểu các
chú công nhân thường làm những công việc gì?
- Biện pháp khắc phục: Giáo viên gợi ý “Các chú công nhân thường làm những
công việc gì ?” cho những học sinh khá trả lời ( VD: chạy máy; sửa chữa; khai
thác; )
Bài 3: Đặt câu nói về hoạt động của từng nhóm người hoặc vật được miêu tả
trong bức tranh bên.

đó là câu kể Ai thế nào? và nhấn mạnh “Ai” ở đây là “Hà Nội”.
Bài tập 2: Xác định chủ ngữ của những câu vừa tìm được.
- Mục đích: Giúp học sinh xác định được chủ ngữ trong các câu kể Ai thế nào?
tìm được ở bài tập1.
- Khó khăn: Cách học sinh đặt câu hỏi để tìm chủ ngữ còn lúng túng, nhiều em
không tìm đúng chủ ngữ ,tự đặt câu hỏi và trả lời để xác định chủ ngữ cũng yếu.
- Biện pháp: + Hỏi: .ở đâu tưng bừng màu đỏ?
Trả lời: Hà Nội.
Kết luận: Gạch chân từ “Hà Nội” là chủ ngữ.
14
Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
Sau đó cho học sinh hoạt động theo cặp (1em khá hoặc 1em trung bình với
1em trung bình yếu trở xuống) yêu cầu em khá hoặc trung bình hỏi em học yếu
và gợi ý trả lời; sau đó cho em yếu hỏi lại.
Bài tập3: Chủ ngữ trong các câu trên biểu thị nội dung gì? Chúng do những từ
ngữ nào tạo thành?
- Mục đích: Giúp học sinh nắm được ý nghĩa của chủ ngữ biểu thị nội dung gì?
- Khó khăn: Học sinh hầu như là không hiểu nội dung yêu cầu của bài tập, rất
khó diễn đạt.
- Biện pháp: Tách thành hai bài tập,cho học sinh làm theo nhóm bốn.
a. Em hãy cho biết?
Đặc điểm, tính chất ở vị ngữ Của sự vật nào
Câu1: Tưng bừng màu đỏ Hà Nội
Câu2:
Câu4:
Câu5:
Vậy Chủ ngữ của các câu đều chỉ có đặc điểm, tính chất nêu ở vị ngữ.

b. Chủ ngữ Là do danh từ riêng hay do

- Biện pháp khắc phục:
+ Hỏi học sinh cuối câu câu 2 có dấu gì? và sau khi học sinh trả lời, giáo viên
nói cho học sinh biết đó là câu cảm sau sẽ học. Cho học sinh đọc câu 7 và hỏi
“Chú chuồn chuồn đang làm gì?”, sau khi học sinh trả lời gợi ý các em kết luận
đó là câu kể Ai làm gì?
+ Hỏi “Cái gì lấp lánh” dẫn dắt học sinh trả lời để tìm chủ ngữ cho đầy đủ là
“Màu vàng trên lưng chú”.
Bài tập2: Viết một đoạn văn khoảng 5 câu về một loại trái cây mà em thích,
trong đoạn văn có dùng câu kể Ai thế nào?
- Mục đích: Học sinh viết được một đoạn văn có dùng câu kể Ai thế nào?
16
Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
- Khó khăn: Vẫn là học sinh viết không đúng câu và không có sự liên kết giữa
các câu trong đoạn văn.
- Biện pháp khắc phục: Giáo viên nêu một số câu hỏi để yêu cầu học sinh suy
nghĩ và trả lời:
+ Loại quả nào em thích ăn nhất và đã được ăn rồi ?
+ Nó có hình gì ?
+ Vỏ có màu như thế nào? Có đẹp không ?
+ Mùi thơm có dễ chịu không ?
Sau đó mời một em khá trả lời trước lớp, rồi yêu cầu cả lớp làm việc.
Qua việc áp dụng các biện pháp như đã phân tích và trình bày ở trên, tôi thấy
đã mang lại cho học sinh kết quả rõ rệt. Kết quả đó đã được minh chứng qua lần
khảo sát sau (học kỳ II):
Số học
sinh
Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL TL SL TL SL TL SL TL
20 5 25% 7 35% 8 40% 0 0%

các em hiểu vốn từ ngữ trong phân môn Luyện từ và câu là đã giúp cho các em
học tốt các phân môn còn lại như: Tập đọc, Tập làm văn và đặc biệt là các em
biết cách sự dụng ngôn ngữ trong giao tiếp. Thông qua các bài tập Luyện từ và
câu học sinh được cung cấp thêm vốn từ ngữ, vốn diễn đạt, những hiểu biết sơ
giản về Tiếng Việt từ đó nâng cao trình độ Tiếng Việt cho học sinh và là tiền đề
cho các em học lên lớp trên.
Trong quá trình giảng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4, tôi đã gặp không
ít khó khăn từ đó tôi đã mạnh dạn đưa ra kinh nghiệm của mình khi dạy một số
bài khó trong phân môn Luyện từ và câu lớp 4. Mong rằng sáng kiến này được
bổ sung và hoàn thiện hơn để áp dụng rộng rãi trong quá trình dạy học, nhằm
tăng thêm hiệu quả lao động sư phạm của người giáo viên khi giảng dạy môn
Tiếng Việt ở bậc tiểu học nói chung và giảng dạy phân môn Luyện từ và câu ở
lớp 4 nói riêng.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
18
Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
Tân Kì , ngày tháng 4 năm 2009.
Người viết sáng kiến.
19
Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
Phòng gd & đt tân kỳ
Trường tiểu học nghĩa hành
***
Sáng kiến kinh nghiệm:
Kinh nghiệm dạy một số bài khó trong
phân môn luyện từ và câu lớp 4.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Chung Thủy
Giáo viên Trường Tiểu học Nghĩa Hành

Phần1: Nhận xét.
Đọc các câu sau:
22
Dạy Luyện từ và Câu lớp 4
Nguyễn Thị Chung Thủy- Phòng GD&ĐT Quế Phong
a. Ruộng rẫy là chiến trường.
Cuốc cày là vũ khí
Nhà nông là chiến sĩ
Hậu phương thi đua với tiền phương.
Hồ Chí Minh.
b. Kim Đồng và các bạn anh là những đội viên đầu tiên của Đội ta.
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status