!"#$%
!"#$%
&'( )#*# +,
&'( )#*# +,
Kiều Quý Hợp
Kiều Quý Hợp
&'( #'-,&./,
&'( #'-,&./,
TS chu thị hà thanh
TS chu thị hà thanh
01)2 3.4,&)56#7
01)2 3.4,&)56#7
học tập
học tập
)58,&.9:
)58,&.9:
$
$
vần ở tiểu học
vần ở tiểu học
AB=0?C
Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sử dụng trò chơi học
tập trong dạy Học vần nói riêng, trong dạy học Tiếng Việt nói chung.
DB EF0GHIC
DBJBE#K#)#!,&# L,M"
Quá trình dạy học phân môn Học vần ở tiểu học.
DBA0N )'O,&,&# L,M"
Sử dụng trò chơi học tập trong dạy Học vần ở tiểu học.
PBQER
Nếu xác định đúng cơ sở lí luận, làm rõ thực trạng sử dụng trò chơi trong
dạy Học vần ở tiểu học thì sẽ đề xuất được một số biện pháp hợp lý nhằm nâng cao
chất lượng dạy học phân môn này.
SBT=C
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy
Học vần tiểu học.
5.2. Nghiên cứu thực trạng sử dụng trò chơi học tập trong Học vần ở
tiểu học.
5.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sử dụng trò
chơi học tập vào dạy Học vần.
5.4. Thử nghiệm sư phạm.
UBVC
Luận văn tập trung nghiên cứu việc sử dụng trò chơi học tập trong dạy
học phân môn Học vần ở một số trường tiểu học trên địa bàn thị xã Hồng Lĩnh và
huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh.
WB;HX;;C
Trong luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
WBJB;#'7,&Y#KY,&# L,M"Z[Z",
Phân tích, so sánh, hệ thống hoá, các quan điểm lí luận từ các công trình
nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
mục đích giáo dục và phát triển một số năng lực, phẩm chất trí tuệ cho học
sinh.
Ở nước ta, việc tổ chức trò chơi trong dạy học ở tiểu học đã được quan tâm. Đối
với môn Toán có “112 trò chơi toán lớp 1 và 2” của nhà giáo Phạm Đình Thực [16].
Trong dạy học Tự nhiên và xã hội có “Trò chơi học tập môn Tự nhiên và xã hội lớp
1,2,3” do tác giả Bùi Phương Nga chủ biên. Cuốn “Học mà vui, vui mà học” của tác
giả Vũ Xuân Đĩnh
Trong dạy học môn Đạo đức có “Trò chơi học tập môn Đạo đức ở tiểu học” của tác
giả Lưu Thu Thuỷ [17].
Đối với môn học Tiếng việt có “Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương
trình mới” [16], cuốn “Vui học Tiếng Việt” [9], “Trò chơi thực hành Tiếng Việt 1” [17],
…
Một số tài liệu tham khảo đã xây dựng, giới thiệu hệ thống trò chơi Học vần như
“Trò chơi học âm vần Tiếng Việt”[12], “Trò chơi với chữ cái và phát triển ngôn
ngữ”[13]…. những tài liệu nói trên mới chỉ chú ý đến việc nghiên cứu về cơ sở lí
luận chung của trò chơi, các trò chơi dạy Học vần đã được giới thiệu chưa phong
phú mới chỉ dừng lại ở một số trò chơi quen thuộc, việc hướng dẫn chơi còn sơ
sài, có nhiều hạn chế. Vì vậy, xây dựng biện pháp tổ chức trò chơi Học vần có ý
nghĩa cả về mặt lí luận cả về mặt thực tiễn đối với việc tổ chức trò chơi dạy Học
vần ở tiểu học hiện nay.
JBAB=h)iN]#K , +j7k,
1.2.1.56#7 B
JBABJBJBE#K , +j
Hiện nay có một số định nghĩa và khái niệm về trò chơi.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì trò chơi là "Hoạt động bày ra để vui chơi,
giải trí"
Chúng tôi cho rằng, trò chơi là hoạt động vui chơi mang một chủ đề,
một nội dung nhất định, có tổ chức của nhiều ng ười tham gia (từ 2 ng ười trở lên)
cầu của trẻ. Trò chơi phát triển các chức năng tâm lí và hình thành nên nhân
cách.
Trò chơi nếu được tổ chức hợp lí thì sẽ kích thích sự phát triển trí
tuệ của trẻ.
Trong khi chơi, trẻ phát triển tri giác nhanh, phát triển trí nhớ, phát
triển các thao tác tư duy, phát triển tưởng tượng và phát triển ngôn ngữ.
Từ chổ ý thức của trẻ hướng tới bản thân thao tác chơi chuyển dần
sang mục đích, nội dung và yêu cầu khách quan của trò chơi, hành động
chơi được hình thành ở trẻ. Từ đó hình thành động cơ học tập.
Trước hết, tính chủ động của các quá trình tâm lí được hình thành
và phát triển trong lòng hành động chơi. Bởi lẽ chính nội dung chơi, luật chơi
đòi hỏi đứa trẻ phải tập trung chú ý và ghi nhớ có chủ định. Qua chơi, một
mặt giúp trẻ tích luỷ được những biểu tượng làm cơ sở cho hoạt động tư
duy. Trò chơi còn ảnh hưởng lớn đến sự phát triển ngôn ngữ, tình cảm của
trẻ.
Khi chơi là dịp tốt nhất để trẻ phát hiện thăm dò thế giới xung
quanh, qua đó mà kích thích tính tò mò, óc quan sát, năng lực phán đoán, trí
tưởng tượng… Chính vì vậy mà nhiều nhà giáo dục đã gọi trò chơi là trường
học của cuộc sống trẻ em. Chơi là phương tiện để giáo dục toàn diện cho
trẻ. Chính vì thế cần giáo dục trẻ trong trò chơi với phương thức là “Học mà
chơi, chơi mà học”.
JBABAB56#7 #$)Y
JBABABJBE#K , +j
Trò chơi học tập là loại trò chơi có chứa nội dung dạy học, đ ợc bày ra để thông
qua việc chơi mà học.
A.I Xụrụkina ó a ra mt lun im vụ cựng quan trng v c thự ca trũ chi hc
tp: Trũ chi hc tp l mt quỏ trỡnh phc tp, nú l hỡnh thc dy hc v ng thi
nú vn l trũ chiKhi cỏc mi quan h chi b xúa b, ngay lp tc trũ chi bin mt
v khi y, trũ chi bin thnh tit hc, ụi khi bin thnh s luyn tp.
thức, nhiều khái niệm và hình thành được những biểu tượng rõ rệt về các sự vật, hịên
tượng xung quanh.
Trò chơi học tập còn là phương tiện rất tốt để khắc phục những mặt khó
khăn trong hoạt động tư duy của học sinh
Trò chơi học tập có ảnh hưởng giáo dục sâu sắc tới học sinh.
Các nhà tâm lí học lớp 1 coi trò chơi học tập là một phương tiện quan trọng
trong quá trình dạy học tiểu học
JBABABSB;#p,Z89 )56#7 #$)Y
Về phương diện phát triển các chức năng tâm lí của học sinh, trò chơi học
tập cũng có nhiều loại khác nhau:
Trò chơi học tập nhằm phát triển các giác quan.
Trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy.
Trò chơi học tập nhằm phát triển óc tưởng tượng.
Trò chơi học tập phát triển trí nhớ.
Trò chơi học tập giúp cho sự phát triển, chú ý, ngôn ngữ… của học sinh.
Sự phân loại trên chỉ có tính tương đối. Trong thực tế nhiều trò chơi học tập có ý
nghĩa tổng hợp.
JBABABUB56#7 #$)Y)58,&jv,$uw,x) !"#$
Theo chúng tôi: Trò chơi học tập trong môn Học vần là các trò chơi trong
đó có chứa các nội dung kiến thức của phân môn Học vần.
1.3. SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC VẦN Ở TIỂU HỌC
1.3.1. =4) L"no.9:$uw,
Coi trọng sự hình thành rèn luyện cả 4 kĩ năng: nghe, đọc, nói, viết trong
đó kĩ năng đọc và kĩ năng viết vẫn được đặt ở vị trí hàng đầu trong đó chú ý nhiều
hơn đến kĩ năng viết.
Ngoài ra, thông qua việc dạy chữ, dạy âm, Học vần còn phải phát triển
vốn từ của các em và tạo cho các em sự ham thích thơ văn. Đây là điều kiện
chuẩn bị để các em học tốt hơn môn Tiếng Việt ở các lớp trên.
1.4.1.2. Tri giác
Tri giác của học sinh lới 1 gắn với hành động và hoạt động thực tiễn. Tri giác
của các em còn mang nặng tính xúc cảm.
1.4.1.3. Trí nhớ
Tính không chủ động chiếm ưu thế trong trí nhớ của học sinh lớp 1.
1.4.1.3. Tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh lớp 1 chủ yếu là tưởng tượng tái tạo.
1.4.1.5. Tư duy
Tư duy của học sinh lớp 1 thường là tư duy cụ thể, mang tính hình thức.
1.4.1.5. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của học sinh được hình thành thông qua giao tiếp và hoạt động.
JBPBAB0st !j,#p,K#no#$i ,#|Z[Y}~") _"#•
1.4.2.1. Nhu cầu
Theo nghiên cứu của tác giả Trịnh Quốc Thái về “nhu cầu của học sinh lớp
1 những ngày đầu đi học” thì “nhu cầu vui chơi của trẻ vẫn còn chiếm ưu thế (90%)
trong khi nhu cầu nhận thức lại ở vị trí thấp hơn (63%) trong hệ thống các nhu cầu”.
1.4.2.2. Ý chí và hành động ý chí
Ý chí học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng chịu sự chi phối
rất nhiều của tình cảm.
1.4.2.3. Tự ý thức - tự đánh giá
Ở học sinh lớp 1, các biểu tượng về bản thân thường không đầy đủ, không ổn định và
dựa theo nhận xét của người ngoài.
1.4.2.4. Đời sống tình cảm
Ở học sinh lớp 1 vẫn tồn tại một loạt những đặc điểm tình cảm đặc trưng của
lứa tuổi mẫu giáo. Tình cảm của các em dễ nảy sinh nên không bền vững.
1.4.2.5. Tính cách
Hành vi của học sinh lớp 1 thường mang tính tự phát. Các em rất cả tin, hồn
nhiên trong quan hệ với thầy cô, bạn bè, với người lớn.
1.4.2.6. Mối quan hệ liên nhân cách
ABJBPBKY#'7,&Y#KYt 1")5oz]#k8iK)
+ Điều tra bằng Anket
+ Phương pháp quan sát
+ Phỏng vấn, toạ đàm
+ Thống kê toán học
ABJBSB#$,j/"]#k8iK)
Để đảm bảo cho việc đánh giá chính xác và khách quan thực trạng mà không
phải điều tra với số liệu quá lớn, chúng tôi tiến hành điều tra chọn mẫu theo cách:
Ngẫu nhiên mang tính chất điển hình đại diện cho các khu vực, loại hình trường.
+ Các trường thuộc khu vực đồng bằng, miền núi huyện Đức Thọ
+ Các trường thuộc khu vực thị xã Hồng Lĩnh
ABJBUB0ƒot !jz)#( & o,]#k8iK)
Tiến hành điều tra, khảo sát một số trường tiểu học trên địa bàn 2 đơn vị
huyện Đức Thọ và thị xã Hồng Lĩnh trong năm 2009
ABAB;?EQ„C€c
ABABJB#*)59,&,#,)#Mno& K8u L,u1)K.4,&noY#'7,&
Y#KY)56#7 #$)Y)58,&.9:$uw,xZ-YJ
Qua kết quả điều tra chúng tôi thấy 107/107 giáo viên khi được hỏi đều
khẳng định đây là phương pháp có tác dụng tốt đối với hoạt động học tập của học
sinh. Như vậy tất cả các giáo viên được điều tra đều có nhận thức đúng về vai trò, tác
dụng của phương pháp này trong dạy học Tiếng Việt nói chung và Học vần nói riêng.Mặt khác qua quan sát 4 tiết Học vần chúng tôi nhận thấy tất cả các giáo viên đều
sử dụng phương pháp này khi dạy học. Như vậy từ nhận thức đến thực tiễn giảng
dạy, giáo viên được tiến hành điều tra đều có nhận thức đúng đắn và tổ chức tương
đối thành công phương pháp này.
ABABAB#*)59,&… .'†,&,‡,&Z*)ˆ#M)56#7 .9:$uw,no& K8
u L,
Qua kết quả điều tra cho thấy hầu hết các giáo viên đều tự tổ chức trò chơi theo
tổ chức cho cá nhân đại diện thi đấu và hoạt động cả lớp.
Ngoài ra có nhiều giáo viên cho rằng: Thực ra khó mà lựa chọn được cách
nào là ưu việt hơn cách nào vì có khi thì chọn cách này cho một trò chơi nào đó, tới
trò chơi khác thì lại chọn cách thực hiện khác.
60 % những giáo viên được điều tra đã lựa chọn cách tiến hành theo nhóm, còn lại
hơn 40 % chọn tất cả các cách trên”. Điều đó chứng tỏ rằng đại đa số giáo viên đều
nhận thức rõ phải làm như thế nào để trò chơi học tập thực sự có hiệu quả. Cách
thức tổ chức hoạt động vui chơi theo nhóm được lựa chọn nhiều hơn cũng chứng tỏ
tiến hành trò chơi theo cách này là tốt nhất.
2.2.7.2. Thực trạng về cách thức chọn thời điểm tổ chức trò chơi học tập
trong dạy Học vần ở tiểu học
Qua kết quả điều tra nhận thấy gần 70% giáo viên được hỏi đã lựa chọn
thời điểm tổ chức trò chơi vào cuối tiết học.
Tuy nhiên cũng có ý kiến chọn cách tổ chức trò chơi giữa tiết học và có
một bộ phận nhỏ khác chọn cách tổ chức vào đầu tiết.
2.2.7.3. Thực trạng về cách thức phổ biến luật chơi
Qua trò chuyện và quan sát chúng tôi nhận thấy một điều rằng đại đa số
giáo viên đều phổ biến luật chơi bằng lời. Nhưng không phải giáo viên nào cũng có
cách phổ biến luật chơi tốt và hiệu quả. Điều quan trọng là mục đích trò chơi phải
được thực hiện nhưng muốn thực hiện được mục đích đã đề ra thì mọi khâu tổ
chức phải thật tốt, mà một trong những khâu quan trọng đó là phổ biến luật chơi.
2.2.7.4. Thực trạng về cách thức tổ chức đánh giá sau khi kết thúc trò
chơi
Có một số trò chơi không cần lời đánh giá, nhận xét vẫn phân biệt được
đội thắng, đội thua. Nhưng có nhiều trò chơi sau khi các em chơi xong phải kiểm
tra kết quả chơi. Có ý kiến thì cho là thường sau khi học sinh chơi xong, giáo viên
tự mình đánh giá, nhận xét và công bố kết quả. Nhưng cũng có ý kiến khác:
Thường cho học sinh nhận xét, chữa lại nếu thấy kết quả đó là không đúng. Sau
đó giáo viên mới đánh giá tổng kết lại và đưa ra kết quả chung cuộc. Bên cạnh đó
trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. Bởi đây là một trong những phương pháp
thực sự phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập của học
sinh.
2.2.8. Chất lượng học tập môn Học vần của học sinh lớp 1
Nhìn chung chất lượng học tập phân môn Học vần lớp 1 chưa cao. Qua 2 đơn vị
kiểm tra với số lượng 213 học sinh lớp 1 cho thấy điểm trung bình cả 2 đơn vị:
Giỏi 42,5 %; Khá 53,0%; Trung bình 4,5% ; Yếu 0,0%.
Qua dự giờ chúng tôi nhận thấy giờ học chỉ sinh động hơn, học sinh học tập tích
cực hơn khi giáo viên sử dụng trò chơi để các em tiến hành hoạt động. Những giờ
mà giáo viên không tổ chức cho học sinh tiến hành trò chơi thường rất nặng nề uể
oải, học sinh mệt mỏi, kém hào hứng dẫn đến hay nói chuyện riêng, làm việc riêng
trong lớp.
2.3. Đánh giá chung về thực trạng.
Từ sự phân tích trên, chúng tôi rút ra những nhận xét sau:
Trước tiên về thực trạng dạy Học vần hiện nay. Mặc dù phần lớn giáo viên tiểu học
được điều tra đánh giá rất cao vai trò của việc tổ chức trò chơi cho học sinh trong
giờ Học vần là góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy. Tuy nhiên từ việc nhận thức
đúng đến việc làm đúng là một vấn đề đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của mỗi giáo
viên.
Chất lượng học tập phân môn Học vần còn hạn chế, học sinh học tập chưa tích cực và
hứng thú, giáo viên chủ yếu là giảng giải và thuyết trình, học sinh lĩnh hội kiến thức còn
thụ động áp đặt.
Các trò chơi mà giáo viên sử dụng trong giờ dạy thường rất đơn điệu, cách thức tổ
chức còn thiếu tính khoa học, giáo viên chưa chịu khó sưu tầm các loại trò chơi nên
không kích thích được sự hứng thú của học sinh. Học sinh chán học, giờ học nhàm
chán không khí học buồn tẻ, tiết học đơn điệu.
Trong các tiết dạy có sử dụng trò chơi cho học sinh thì việc tổ chức trò chơi cho học
sinh còn tiến hành một cách gò bó, gượng ép hoặc tiến hành một cách lộn xộn chưa
theo quy trình nhất định hiệu quả giờ học chưa cao.
DBJBJBJB&":L,)•Z*o#$,)56#7
Nguyên tắc 1: Trò chơi đảm bảo tính giáo dục.
Nguyên tắc 2: Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu.
Nguyên tắc 3: Trò chơi đảm bảo tính vừa sức.
Nguyên tắc 4: Trò chơi đảm bảo tính khả thi.
Nguyên tắc 5: Đảm bảo tính hiệu quả.
Nguyên tắc 6: Đảm bảo tính khoa học và sư phạm.
DBJBJBAB&":L,)•)ˆ#M)56#7
- Nguyên tắc thứ nhất: Đảm bảo cho học sinh hiểu rõ yêu cầu, nội dung và cách
thức tổ chức trò chơi.
- Nguyên tắc thứ hai: Đảm bảo phát huy được tính tích cực, độc lập,
sáng tạo của học sinh trong quá trình tổ chức trò chơi.
- Nguyên tắc thứ ba: Đảm bảo tổ chức trò chơi một cách tự nhiên không
gò ép. Học sinh phải tự nguyện tham gia chơi và chơi một cách thoải mái.
- Nguyên tắc thứ tư: Đảm bảo luân phiên, thay đổi các trò chơi một cách
hợp lý.