LỊCH SỬ QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT - MỸ - Pdf 18

Phần mở bài
Sau chiến tranh lạnh, tình hình thế giới diễn biến phức tạp đầy biến động.
Trong tình hình đó nổi lên những xu thế chủ yếu trong quan hệ quốc tế: Hoà bình,
ổn định và hợp tác để cùng phát triển, ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các
quốc gia và dân tộc trên thế giới; xu thế liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh
tế, thơng mại, chính trị ngày càng tăng, ý thức độc lập tự chủ, ý thức về chủ quyền
và bản sắc dân tộc ngày càng đợc nâng cao, nổi bật là xu thế vừa hợp tác vừa đấu
tranh trong cùng tồn tại hoà bình giữa các chế độ chính trị xã hội khác nhau.
Trớc xu thế nh vậy, Tổng thống Bill - Clinton tuyên bố thiết lập quan hệ
ngoại giao với Việt Nam (11/7/1995) là phù hợp với xu thế phát triển của thế giới
hiện nay. Đó là một mốc quan trọng, chấm dứt 50 năm quan hệ bất bình thờng, mở
ra một trang sử mới trong quan hệ hai nớc.
Xuất phát từ nhận thức trên, việc nghiên cứu quan hệ Việt - Mỹ là rất cần
thiết vì đây là một vấn đề có ý nghĩa chính trị, thời sự quan trọng đợc khu vực và
thế giới quan tâm nghiên cứu. Qua đó làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra
trong quan hệ giữa hai nớc, tiến tới đề xuất các kiến nghị, đóng góp vào chính
sách đối ngoại của Việt Nam đối với Mỹ.
Từ thực tiễn quan hệ Việt - Mỹ hơn 5 năm qua kể từ khi hai nớc bình th-
ớng hoá quan hệ ngoại giao cho thấy sự lựa chọn đề tài này là phù hợp và cần
thiết.
Thời gian 5 năm cũng mới chỉ là giai đoạn đầu của quá trình lâu dài còn đang
tiếp tục tiếp diễn trong tơng lai, nhiều vấn đề cha bộc lộ hết còn đang tiềm ẩn. Do
vậy đề tài chỉ đánh giá quan hệ Việt - Mỹ 5 năm qua để thấy rõ những biểu hiện
cụ thể của hai nớc. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cần thiết và đa ra những kiến
nghị mới.
Chuyên đề đợc hoàn thành nhờ sự hớng dẫn, giúp đỡ tận tình của thầy giáo
Thái Văn Long - Viện quan hệ quốc tế - Học viện chính trị quốc gia.
Do hiểu biết và trình độ có hạn, bài viết khó tránh khỏi thiếu sót. Tác giả rất
mong nhận đợc sự chỉ bảo của thầy cô và các bạn.
1
Ch ơng I

(1)
Lu Văn Lợi, Năm mơi năm ngoại giao Việt Nam, NXB Công an nhân dân, năm 1998, tập 2, trang 268
2
Từ đó về sau, trong tình hình thâm nhập ngày càng sâu của Chủ nghĩa thực
dân Pháp ở Việt Nam, không có thêm cuộc tiếp xúc nào của Hoa Kỳ với Triều
đình Huế.
Nửa cuối thế kỷ XIX, trong lúc Thiên Hoàng Minh Trị đang đa nớc Nhật Bản
tiến mạnh mẽ vào con đờng duy tân thì tình hình nớc Việt Nam ngày càng có nguy
cơ mất nốt Trung Kỳ, Bắc Kỳ. Vua Tự Đức nhu nhợc trớc âm mu mở rộng xâm lợc
của thực dân Pháp, bác bỏ đề nghị cách tân của Nguyễn Trờng Tộ và nhiều nhà
cách tân tâm huyết khác. Tuy vậy, ông vẫn muốn nắm tình hình phơng Tây để liệu
điều chỉnh chính sách. Tháng 7/1873 Tự Đức cử Bùi Viện, một nhà nho thức thời
và năng động, đi ra nớc ngoài, trớc hết là tới Hơng Cảng. Do có sự giúp đỡ của
Viện lãnh sự Mỹ tại Hơng Cảng mà ông đã làm quen. Bùi Viện đáp tàu sang Mỹ
với hy vọng tìm đợc ngời bạn mới giúp Việt Nam đánh Pháp. Tới Mỹ, ông đợc
Tổng thống Ulysse Grant tiếp và hứa sẽ giúp Việt Nam bảo vệ đất nớc nhng cần có
quốc th uỷ nhiệm chính thức của Nhà nớc Việt Nam. Khi Bùi Viện trở lại Mỹ,
thực hiện chuyến công cán lần hai vào năm 1875 với quốc th của Vua Tự Đức
trong tay, nhng tình hình quan hệ Mỹ - Pháp đã khác, Mỹ không còn muốn viện
trợ cho Việt Nam chống Pháp nữa vì lúc này Mỹ cha có điều kiện cạnh tranh với
thực dân Pháp.
Nếu trớc đây Edmund Roberts hai lần tới Việt Nam mà đại sự không thành
thì Bùi Viện cũng hai lần sang Mỹ mà cũng trở về tay không, hai nớc vẫn cha thiết
lập đợc quan hệ ngoại giao. Khi nớc Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, Mỹ
đặt lãnh sự quán tại Sài Gòn và Hà Nội trong lúc đó họ cai trị Philippin sau khi
đánh bại Tây Ban Nha.
Cả hai cuộc tiếp cận lịch sử đều thất bại và từ đó Hoa Kỳ từ bờ Thái Bình D-
ơng đứng nhìn quá trình chủ nghĩa thực dân Pháp bóc lột nhân dân Việt Nam cho
tới khi nó bị gót sắt của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản đè bẹp trong chiến tranh
thế giới thứ II.

trong những sự tích thần kỳ nhất trong lịch sử Việt Nam - ngày Việt Nam tuyên bố
độc lập.
Với cơng vị Chủ tịch nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, lại trực tiếp phục trách
công tác ngoại giao, Hồ Chí Minh đã thảo bản tuyên bố về chính sách ngoại giao
trong đó khẳng định chủ trơng quan hệ hoà bình hữu nghị với tất cả các nớc trên
thế giới, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của mỗi nớc. Với Mỹ,
Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì những quan hệ đã có trong chiến tranh. Nhân dân
Chính phủ Việt Nam, Ngời đã gửi hàng chục bức th, điện, công hàm tới Tổng
thống Truman, Chính phủ và Bộ Ngoại giao Mỹ. Nội dung của các văn bản ấy
xoay quanh vấn đề yêu cầu Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam, khẳng định sự
hợp tác của Nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Tháng 10/1945 Tổng thống Truman ra tuyên bố 12 điểm về chính sách đối
ngoại của Mỹ, Hồ Chí Minh đã bày tỏ thái độ hoan nghênh và mong muốn Chính
phủ Mỹ sẽ thực hiện đúng tinh thần của Bản tuyên bố, ủng hộ chủ quyền của các
dân tộc nhợc tiểu. Song lúc này Chính phủ Mỹ đã ngả hẳng sang chủ trơng ủng hộ
4
Pháp trở lại Đông Dơng. Những cố gắng trong quan hệ ngoại giao chính thức với
Mỹ đã không đạt kết quả. Tuy vậy, Việt Nam vẫn luôn chú ý đến việc giữ tôn
trọng của Chính phủ mình đối với vai trò của Mỹ trong đồng minh, sự có mặt của
đại diện phái bộ Mỹ trong các buổi lễ ký Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 cũng nh
trong các văn bản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi cho Chính phủ Mỹ đã nói lên
điều đó.
Trong thời gian này, tuy quan hệ ngoại giao chính thức không thành công nh-
ng quan hệ của Việt Nam với Chính phủ Mỹ vẫn có dấu hiệu khả quan thông qua
hình thức ngoại giao nhân dân mà điển hình là Hội hữu nghị Việt - Mỹ.
Ngày 2/9/1947, trong th gửi Việt - Mỹ ái hữu hội, Hồ Chủ Tịch đã viết:
"Chúng ta không bao giờ quên sự hợp tác giúp đỡ thân ái của các bạn ngời Mỹ hồi
chúng ta du kích chống Nhật và chúng ta mong rằng sự hợp tác đó đợc tiếp tục
trong cuộc tranh đấu của chúng ta chống thực dân phản động Pháp giành thống
nhất và độc lập. Chúng ta mong rằng Hoa Kỳ, nớc đầu tiên đã tranh đấu cho nền

trận chính trị cùng đánh Mỹ. Ta tăng cờng đoàn kết với Liên Xô và Trung Quốc
cùng các nớc xã hội chủ nghĩa khác, củng cố và phát triển mặt trận nhân dân Đông
Dơng, đoàn kết với phong trào phản chiến ở Mỹ, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại.
Tuy nhiên, Nhà nớc Việt Nam luôn luôn phân biệt rõ bạn - thù, phân biệt rõ
nhân dân Mỹ với những nhà cầm quyền của Mỹ theo đuổi chính sách chiến tranh.
Mục đích của nhân dân Việt Nam là đấu tranh để giành độc lập tự do, đem lại
hạnh phúc cho dân tộc và chung sống hoà bình với cộng đồng thế giới trên cơ sở
bình đẳng, hữu nghị. Vì vậy Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẵn sàng đàm phán
với điều kiện là quân Mỹ phải rút khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam. Với mục đích
đó, ta chủ trơng buộc địch xuống thang từng bớc, giành thắng lợi từng phần. Sau
thắng lợi tết Mậu Thân (1968), Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, mở cho ta
cục diện vừa đánh vừa đàm, kết hợp đấu tranh quân sự và ngoại giao, tạo điều kiện
cho thắng lợi sau này.
Sau bốn năm kiên trì đấu tranh, thơng lợng, vào năm 1973, Mỹ phải ký Hiệp
định Paris, chịu rút quân Mỹ và đồng minh ra khỏi miền Nam trong lúc quân miền
Bắc vẫn ở lại miền Nam. Theo Hiệp định Paris 1973 thì "Hiệp định này sẽ tạo điều
kiện thiết lập quan hệ mới, bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt Nam dân chủ cộng
hoà và Hoa Kỳ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can
thiệp vào công việc nội bộ của nhau".
Ngày 29/4/1975: sứ quán Mỹ đã rút hết số nhân viên và đóng cửa.
Ngày 30/4/1975 ta giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nớc mở ra một chơng
mới trong lịch sử 4.000 năm của dân tộc Việt Nam. Cũng từ đó, sau khi thua trên
chiến trờng, Mỹ lại quyết định lệnh cấm vận toàn Việt Nam. Việt Nam và Mỹ cắt
đứt quan hệ ngoại giao.
6
3. Quan hệ ngoại giao Việt - Mỹ từ năm 1976 - 1995
Nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức ra đời ngày 2/7/1976
đánh dấu bớc phát triển rực rỡ của nớc Việt Nam. Cũng trong thời gian này, hai
Chính phủ Việt Nam và Mỹ đã bắt đầu đàm phán để thiết lập quan hệ ngoại giao.

phía Mỹ cho rằng Việt Nam đã vi phạm Luật quốc tế khi đa quân vào Campuchia
để lập ra chính quyền Campuchia - Hiengxemrin. Mỹ đã lấy lý do này để lôi kéo
các nớc ủng hộ những hành động chống phá Việt Nam dới danh nghĩa bảo vệ ổn
định an ninh thế giới. Vấn đề Campuchia đã kéo theo sự dính líu của nhiều nớc và
(3)
Lu Văn Lợi, Năm mơi năm ngoại giao Việt Nam, Nhà Xuất Bản Công an nhân dân, năm 1998, tập II, tr273
(4)

7
sự phân cực gay gắt trong nền chính trị khu vực. Từ đó đánh dấu thời kỳ băng giá
trong quan hệ Việt - Mỹ.
Tháng 1/1981, Tổng thống Mỹ Regan tuyên hệ nhậm chức. Dới sức ép mạnh
mẽ về vấn đề MIA, ông đã hứa coi việc tìm kiếm ngời mất tích là u tiên cao nhất
của ông. Nhng trong nhiệm kỳ đầu của ông, ngoại giao giữa hai nớc ít đạt đợc kết
quả. Năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới cải thiện vị thế của mình trong khu
vực và trên thế giới nên Mỹ bắt đầu thay đổi chính sách quan hệ với Việt Nam.
Từ tháng 1 đến 3/8/1987 Tớng Vétxi đặc phái viên của Tổng thống Regan
thăm Việt Nam lần thứ nhất, thảo luận vấn đề nhân đạo mà 2 bên cùng quan tâm.
Ngày 20/1/1988 Tổng thống Regan tuyên bố: Trong khung cảnh một giải
pháp cho vấn đề Campuchia bao gồm Việt Nam rút hoàn toàn quân đội ra khỏi
Campuchia, Mỹ sẵn sàng đi vào bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam trên cơ sở
tiến bộ trong vấn đề MIA trở lại trại cải tạo
(5)
.
Năm 1989, Tổng thống Bush đắc cử và đã quyết định thay đổi chính sách đối
với Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới với nhiều hy vọng.
Ngày 26/9/1989, Việt Nam hoàn thành việc rút quân khỏi Campuchia.
Ngày 6/8/1990 đối thoại Việt - Mỹ vòng 1 giữa đại sứ Trịnh Xuân Lãng và
Phó trợ lý Bộ trởng Ngoại giao K.Quyn về quan hệ Việt - Mỹ.
Từ ngày 29 đến 30/9/1990 Bộ trởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gặp Bộ tr-

đúng lịch trình này. ở giai đoạn 3, có 2 điều kiện Việt Nam phải thực hiện là:
- Tiếp tục ủng hộ và khuyến khích sự ủng hộ của Chính phủ Phnôm Pênh với
Hiệp định hoà bình Campuchia, rút hết các cố vấn, lực lợng quân sự Việt Nam ra
khỏi Camuchia.
- Giải quyết các trờng hợp POW/MIA không trùng khớp thông tin. Trên thực
tế, điều một Việt Nam đã hoàn thành và điều hai cũng đợc giải quyết tích cực với
sự giúp đỡ to lớn của Việt Nam. Phía Mỹ đã thực hiện đầy đủ các điều ghi trong
khoản 3: Huỷ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam ngày 3/2/1994,
mở văn phòng liên lạc và ngoại giao tại Hà Nội và mời Việt Nam lập văn phòng tại
Washingtơn cũng nh ủng hộ các cơ quan hành chính quốc tế viện trợ để đáp ứng
các nhu cầu cơ bản của con ngời ở Việt Nam.
ở giai đoạn 4, không có đòi hỏi bổ xung yêu cầu Việt Nam thực hiện trong
giai đoạn này, Mỹ sẽ lập quan hệ ngoại giao cấp Đại sứ với Việt Nam, xem xét
việc giành chế độ tối huệ quốc cho buôn bán với Việt Nam của Mỹ.
Ngày 28/1/1995, Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Mỹ chính thức thông
báo mở cơ quan liên lạc ở thủ đô 2 nớc.
Với nỗ lực và thiện trí của cả hai bên, 7/1995 chính thức bình thờng hoá
quan hệ ngoại giao. Đây là một bớc đi quan trọng đáp ứng nguyện vọng của
9
nhân dân hai nớc, phù hợp với xu thế phát triển hiện nay của tình hình quốc tế,
đồng thời góp phần vào sự nghiệp hoà bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam
á.

10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status