Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Canada từ năm 1973 đến 2008 - Pdf 25


1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THÚY QUỲNH

QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM - CANADA
TỪ NĂM 1973 ĐẾN 2008

LUẬN VĂN THẠC SĨ
(Chuyên ngành: Châu Á học)

Hà Nội – 2012

2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MỤC LỤC Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2

LỜI MỞ ĐẦU
3
Chƣơng 1
CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU CHI PHỐI MỐI QUAN HỆ VIỆT
NAM – CANADA
8
1.1.
Nh×n l¹i quan hÖ ViÖt Nam - Canada tr-íc 1973
8
1.2.
Bối cảnh quốc tế và các nhân tố của quan hệ Việt Nam -
Canada từ 1973 – 2008
12
Chƣơng 2
QUAN HỆ VIỆT NAM – CANADA 1973 - 2008
26
2.1
Chính sách đối ngoại của Việt Nam và chính sách đối ngoại
của Canada trong quan hệ hai nƣớc
26
2.1.1.
Chính sách đối ngoại của Việt Nam với Canada

Khó khăn
72

KẾT LUẬN
74

TÀI LIỆU THAM KHẢO
77

4
PHỤ LỤC
80

5 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APEC
Asian Pacific Economic Cooperation
Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
ARF
ASEAN region Forum
Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN
Association of South East Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Canada là một quốc gia có chính sách đối ngoại rộng mở và cũng là
một trong số rất ít các quốc gia không có lịch sử xâm chiếm thuộc địa, mà lại
có truyền thống lịch sử hoạt động tích cực, mang tính xây dựng trong các diễn
đàn đa phương quốc tế cũng như vai trò trung gian hòa giải các tranh chấp
quốc tế, thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng trên toàn thế giới. Các mối quan
tâm đặc biệt, các mục tiêu cụ thể trong chính sách đối ngoại của Canada cũng
như các cách thức để theo đuổi mục tiêu phù hợp với nhiều quốc gia trên thế
giới. Trong nhiều thập kỷ qua, Canada đã phát huy và sử dụng hợp lý những
yếu tố nội lực và ngoại lực để phục vụ các mục tiêu phát triển đất nước và
hợp tác quốc tế.
Đối với Việt Nam, Canada đã sớm có mặt tại Việt Nam trong vai trò là
thành viên của Ủy ban Giám sát và Kiểm soát Quốc tế (ICCS) sau hiệp định
Geneva về Đông Dương năm 1954. Tuy nhiên tại thời điểm đó quan hệ giữa
hai nước còn mờ nhạt, chủ yếu là quan hệ giữa Canada và chính quyền miền
Nam Việt Nam. Đến năm 1973, quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ cộng hòa
với Canada mới chính thức được thiết lập. Kể từ đó đến nay, quan hệ giữa hai
nước đã không ngừng phát triển, Canada đã ủng hộ quá trình hội nhập quốc tế
của Việt Nam. Canada và Việt Nam là đối tác quan trọng của nhau trên các
diễn đàn đa phương như Cộng đồng các nước nói tiếng Pháp, Hiệp hội các
quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn kinh tế Châu Á- Thái Bình
Dương (APEC)…Với mục tiêu hướng về Châu Á của Canada, Việt Nam hiện

7 một số tạp chí như Châu Mỹ ngày nay, tạp chí Nghiên cứu Quốc tế Như:
“Vài nét về quan hệ kinh tế Việt Nam – Canada” cuả tác giả Vũ Đăng Hinh
trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 5/1998, “Quan hệ Việt Nam – Canada phát
triển vững chắc trong thế kỷ mới”, của tác giả Nguyễn Thiết Sơn đăng trên
tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 6/2008 phân tích chính sách của Canada với
Việt Nam trên khía cạnh chính trị, kinh tế, thương mại, hay “Hợp tác kinh tế
và viện trợ phát triển của Canada đối với Việt Nam” có trong Kỷ yếu hội thảo
“Việt Nam – Canada hướng tới hợp tác và phát triển” do Viện Nghiên cứu
Châu Mỹ- Viện Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, trong đó đáng chú ý là
bài viết “Quan hệ Việt Nam – Canada 1954-2008 lịch sử và triển vọng” của
PGS,TS Trần Thị Vinh. Một số nghiên cứu của một số cơ quan nghiên cứu có
liên quan đến đề tài nhưng cũng chỉ điểm qua chính sách của Canada với Việt
Nam như: nghiên cứu “Quan hệ Canada – Mỹ, những bài học kinh nghiêm”
của Đại sứ Việt Nam tại Canada Nguyễn Đức Hùng do Vụ Châu Mỹ, Bộ
Ngoại giao chủ biên năm 2006, hay “Canada thanh bình và thịnh vượng” của
tác giả Phạm Hoàng Hải do Nhà xuất bản Thế giới chủ biên. Ngoài những
công trình của tác giả Việt Nam còn có một số công trình khác của tác giả
nước ngoài được dịch sang tiếng Việt như: “Giá trị Canada trong chính sách
đối ngoại” của Steve Lee đăng trên tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 5/2003.
Như vậy có thế thấy nghiên cứu về quan hệ ngoại giao giữa Việt nam –
Canada ở Việt Nam còn rất hạn chế. Tuy nhiên, các bài viết trên đã giúp
người viết có thể hoàn thành bài luận văn của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, làm sáng tỏ chính sách ngoại giao
của Việt Nam với Canada và ngược lại đã làm rõ và phân tích quan hệ Việt
Nam – Canada.

9

Chương 2: Quan hệ Việt Nam – Canada từ 1973 - 2008
Chương 3: Đánh giá chung và triển vọng của quan hệ Việt Nam -
Canada
11 Chƣơng 1
CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU CHI PHỐI MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM –
CANADA
1.1 Nhìn lại quan hệ Việt Nam - Canada trƣớc 1973
Việt Nam và Canada chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm
1973, nhưng trên thực tế hai nước đã có những mối quan hệ bước đầu từ giữa

dễ dàng. Phần lớn họ được định cư tại các thành phố lớn như Montreal,
Toronto, Vancouver, đồng thời tham gia vào Liên hiệp Sinh viên vì hoà bình,
một tổ chức chống chiến tranh ở Canada và tổ chức này có liên hệ với Tổ
chức Sinh viên dân chủ Mỹ. Bên cạnh đó, số lượng công dân Mỹ, những
người chống chiến tranh Việt Nam nhập cư vào Canada cũng ngày càng tăng,
khoảng từ 50 ngàn đến 120 ngàn người. Vào năm 1971 -1972, lượng người
Mỹ nhập cư vào Canada nhiều hơn so với lượng người nhập cư từ các nước
khác. Điều này đã tạo nên làn sóng di cư vì lí do chính trị lớn nhất trong lịch
sử nước Mỹ kể từ sau cách mạng Mỹ[13]. Lượng người Mỹ di cư sang
Canada nhiều đã khiến cho phong trào chống chiến tranh ở Canada ngày càng
lan rộng, đặc biệt trong các trường đại học và cao đẳng với sự tham gia của
các nhóm sinh viên phản chiến.
Tuy nhiên, đấy là mới chỉ nhìn ở mặt tích cực và nó mới chỉ phản ánh
được một phần sự thật. Trên thực tế Canada đã can dự sâu vào chiến tranh
Việt nam. Theo hãng truyền hình quốc gia Canada CBC cho thấy, đã có “cuộc
chiến tranh bí mật của Canada”[9] . Canada là một trong những nhà cung cấp
chính về vũ khí, thiết bị quân sự chính cho Mỹ. Theo Hiệp định về trao đổi
sản phẩm quốc phòng ký với Mỹ năm 1958, Canada đã bán cho Mỹ tổng giá
trị vũ khí, đạn dược, bom napalm và hoá chất có trị giá lên đến 2,5 tỷ USD
trong những năm 1965 – 1973. Bên cạnh đó, cũng trong thời gian này,
Canada xuất khẩu sang Mỹ khoảng 10 tỷ USD các sản phẩm đồ uống, quân
trang quân dụng, vật liệu chiến tranh. Bộ Quốc phòng Canada đã hợp tác với

13 Mỹ trong các dự án thử nghiệm chất diệt cỏ để sử dụng trong chiến tranh Việt
Nam. Đồng thời, với tư cách là thành viên của NATO, Canada đã cho phép
NATO tiến hành các hoạt động thử vũ khí, tập trận trên lãnh thổ nước mình.
Vì vậy, một số tỉnh của Canada sau này đã phải gánh chịu những hậu quả của

31/7/1973, Canada đã gửi 240 người thuộc Lực lượng gìn giữ hoà bình tham
gia vào Uỷ ban Giám sát quốc tế (ICCS) cùng với Hungary, Indonesia và Ba
lan. Tháng 4/1975, sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, chính
phủ Canada tiếp nhận hàng chục ngàn người Việt Nam tị nạn sang Canada và
đây là dòng người nhập cư lớn nhất trong lịch sử Canada và chủ yếu sống tập
trung ở thành phố Vancouver, Toronto và Montreal.
Như vậy, chiến tranh Việt Nam đã tác động không nhỏ đến Canada trên
tất cả các mặt kinh tế, chính trị – xã hội và văn hoá. Nhiều người Canada có
thể cho rằng Canada là nước trung lập, trợ giúp cho cả Việt Nam và Mỹ trong
cuộc chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế thì cả Mỹ và Canada đều là
nước tư bản nên Canada đã đứng về phía Mỹ trong chiến lược ngăn chặn chủ
nghĩa cộng sản và tạo lợi ích chiến lược trong cuộc đối đầu Đông Tây. Do vậy
chính sách của Canada vào thời điểm đó là “Chính sách của một nước phương
Tây đối với một nước cộng sản”[6, tr5]. Đó là lí do lý giải vì sao Canada
không thể hoàn toàn đóng vai trò trung lập mà vẫn gián tiếp can dự vào chiến
tranh Việt Nam.
Hơn nữa, vào thập niên 50 của thế kỷ trước, trong bối cảnh của trật tự
thế giới hai cực và sự mở rộng ảnh hưởng sức mạnh của nước Mỹ, Canada
thực hiện chiến lược liên minh toàn diện với Mỹ và là một trong số những
nước phương Tây công nhận chính quyền Việt Nam Cộng hoà từ cuối năm
1955.
Đến cuối thập niên 50, Canada đã có sự điều chỉnh chính sách đối
ngoại theo hướng giảm dần sự lệ thuộc vào Mỹ bằng chính sách đa phương
hoá quan hệ quốc tế, bắt đầu từ chính phủ của Thủ tướng Diefenbaker (1957-

15 1963), tiếp theo là chính phủ của Thủ tướng Pearson (1963-1968) và được
đẩy mạnh dưới thời của Thủ tướng Trudeau (1968- 1979) (1980 -1984). Sự

hoà bình và trong lịch sử Canada chưa bao giờ tham gia chiến tranh hay gây
chiến tranh để giành thuộc địa. Điều này càng làm tăng vị thế của Canada trên
trường quốc tế.
Canada là một trong những nền kinh tế lớn trên thế giới, một quốc gia
phát triển hàng đầu thế giới về kinh tế và xã hội có thu nhập tính theo đầu
người lên tới 40.000 USD với nhiều tài nguyên, khoáng sản như: quặng sắt,
niken, kẽm, đồng, vàng, chì, potat, bạc, dầu mỏ, than, thuỷ lực, thuỷ sản… Có
nền khoa học công nghệ phát triển. Các ngành công nghiệp chính của Canada
gồm: khai mỏ, chế biến gỗ, giấy, thực phẩm, thiết bị vận tải, hoá chất, dầu
khí, điện năng, công nghệ viễn thông, sinh học và dược phẩm… Sản phẩm
nông nghiệp gồm: lúa mỳ, hạt có dầu, hoa quả, thịt gia súc, đồ uống, rượu…
Bạn hàng chính: Mỹ, Nhật, Anh, Liên minh Châu Âu. Canada là một thành
viên trong nhóm các nước công nghiệp phát triển G7, và G20 cũng là thành
viên tích cực trong hầu hết các tổ chức quốc tế quan trọng trên thế giới như:
Liên hợp quốc, Khối Liên hiệp Anh, Francophonie, WTO, IMF, WB, OECD,
NATO, NAFTA, APEC. Canada cũng là nước đối thoại tích cực với hầu hết
các tổ chức khu vực và diễn đàn trên thế giới trong đó có ASEAN và diễn đàn
ARF.
Về điều kiện xã hội, là một quốc gia có diện tích lãnh thổ rộng lớn
nhưng dân số của Canada khá ít, do đó, nguồn nhân lực của Canada khá hạn
chế. Thành phần cư dân của Canada khá đa dạng với hơn 200 nhóm sắc tộc
khác nhau, đa số là dân nhập cư từ khắp nơi trên thế giới. Do đó, xã hội
Canada là một xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa. Với thành phần dân cư phức tạp
như vậy nhưng về cơ bản Canada không có những cuộc xung đột sắc tộc. Mọi
công dân đều được hưởng quyền bình đẳng trong đời sống chính trị, kinh tế,
xã hội . Các cộng đồng cư dân nhập cư mặc dù vẫn giữ bản sắc văn hóa và

17

Nƣớc
Lĩnh vực
Canada
Mỹ
Pháp
Đức
Italia
Anh
Nhật
Dân số (năm 2007)
(đơn vị tính: triệu)
32.927
301.29
0
61.938
82.257
58.880
60.975
127.771
GDP (năm 2008,
đơn vị tính: tỷ USD)
1.502,2
14.196,
5
2.856,5
3.649,5
2.303,1
2.653,6
4.910,4

176,23
90,47
Chi phí cho giáo dục
năm 2006 (% của
GDP)
6,5
7,4
5,9
4,8
4,9
5,9
5,0
Chi phí cho y tế năm
2007 (% của GDP)
10,1
16,0
11,0
10,4
8,7
8,4
8,1
Tuổi thọ trung bình
của nam (số năm)
78,4
75,4
77,5
77,2
78,4
77,1
79,2

thọ trung bình của người Mỹ mặc dù Mỹ là nước có mức thu nhập bình quân
đầu người cao hơn mức của Canada. Đặc biệt, về sản xuất năng lượng, bao
gồm thủy điện, nhiệt điện và điện hạt nhân, Canada chỉ đứng sau Mỹ và cao
hơn hẳn mức sản xuất năng lượng của các nước Pháp, Đức, Anh, Italia và
Nhật Bản.
Mặc dù những số liệu trên đây chưa thật đầy đủ về bức tranh kinh tế –
xã hội của Canada nhưng nó đã cho thấy Canada là một đất nước có trình độ
phát triển cao trên nhiều lĩnh vực. Sự phát triển này phần lớn phụ thuộc vào
những chính sách đúng đắn trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội của
Canada. Canada đã đưa ra được những chính sách nhằm phát huy được mọi
nguồn lực trong nước, tạo ra những thành tựu đáng khâm phục cho Canada.
Ngoài chính sách đối ngoại, những nguồn lực mạnh mẽ trong nước chính là
cơ sở quan trọng cho chính phủ hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại
của mình một cách có hiệu quả. Điều này cũng hoàn toàn đúng với trường
hợp của Canada.
Tương ứng với vị thế về kinh tế, văn hóa, chính trị, Canada đã tham gia
và là thành viên của rất nhiều các tổ chức quốc tế như: Liên hợp quốc, Khối

20 Liên hiệp Anh, Francophonie, WTO, IMF, WB, OECD, NATO, NAFTA,
APEC, bên đối thoại ARF…
Còn Việt Nam là một nước ở Đông Nam Á với 85 triệu dân. Dân số
Việt Nam là một dân số trẻ, một thế mạnh đáng kể. Phát biểu nhân dịp 30
năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Canada, Đại sứ Richard Lecoq
đánh giá cao năng lực và sức sống đa dạng của Việt Nam, thể hiện rõ nhất ở
giới trẻ Việt Nam. Theo ông, sức trẻ Việt Nam là một thế mạnh sẽ tạo nên
những thay đổi lớn[16].
Hiện nay, Việt Nam là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh

có Việt Nam.
Bối cảnh quốc tế hiện nay cũng tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho
Canada trong quan hệ quốc tế. Với sự phát triển vượt bậc của toàn cầu hoá về
mọi mặt của đời sống quốc tế, với sự chấm dứt của chiến tranh lạnh làm cho
thế giới trở nên đa cực hơn và với xu hướng cởi mở hơn trong quan hệ quốc tế
của hầu hết tất cả các quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế, Canada ngày
càng có điều kiện tốt hơn để hoạch định và thực hiện chính sách đối ngoại của
mình. Canada có thể đối thoại trực tiếp và cởi mở với các nước, với các tổ
chức quốc tế và ngược lại trong việc xây dựng, hoạch định và thực hiện chính
sách đối ngoại của mình.
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhất là bước vào thập niên đầu của
thế kỷ XXI, xu thế hòa bình phát triển trở thành xu thế chủ đạo trên thế giới.
Các nước đều tập trung phát triển đất nước, phát triển kinh tế trở thành nhiệm
vụ hàng đầu của các quốc gia.
Quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa ngày càng đi vào chiều sâu và tốc
độ phát triển như vũ bão của khoa học – công nghệ không chỉ làm cho mức độ
tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng mà còn thúc đẩy mạnh mẽ
sự phát triển của tri thức con người. Toàn cầu hóa làm cho thị trường của mỗi
quốc gia được mở rộng ra phạm vi quốc tế, nhờ đó quan hệ mua bán hàng hóa

22 và dịch vụ được tăng lên nhanh chóng. Thêm vào đó, vốn tri thức to lớn của
nhân loại ngày càng được xã hội hoá, quốc tế hóa và toàn cầu hóa cao độ
cũng tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của
từng quốc gia. Thông tin, tri thức được phổ biến rộng rãi trên phạm vi toàn
thế giới và do đó gắn kết con người với nhau, kết quả là các quốc gia tác động
qua lại lẫn nhau, chịu ảnh hưởng của nhau ngày càng sâu sắc. Có thể nói,
chưa bao giờ mối quan hệ của các quốc gia được mở rộng như trong bối quốc

1962 rằng: “Nếu chúng ta (Canada) theo Mỹ lúc này thì chúng ta sẽ mãi mãi
là chư hầu của Mỹ”[6, tr25]. Bất chấp lệnh cấm vận của Mỹ đối với Cuba,
Canada tăng cường quan hệ với Cuba trên nhiều lĩnh vực. Canada là đối tác
thương mại lớn thứ ba của Cuba. Cho đến nay, Canada đã cung cấp hàng chục
triệu USD viện trợ phát triển chính thức cho Cuba[6,tr 28]. Đối với Trung
Quốc, Canada đã sớm thực hiện tiến trình bình thường hóa quan hệ với cường
quốc xã hội chủ nghĩa này trong những thập niên cẳng thẳng của cuộc Chiến
tranh Lạnh. Năm 1960, Canada ký hiệp định mua bán lúa mì đầu tiên với
Trung Quốc. Năm 1970, Canada thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc.
Năm 1973, Thủ tướng Canada Pierre E. Trudeau thăm Trung Quốc, chuyến
thăm đầu tiên của một nguyên thủ Canada đến Trung Quốc. Từ năm 1984-
1989, Canada và Trung Quốc đã trao đổi năm chuyến thăm cấp nguyên thủ
quốc gia, Chính phủ và Quốc hội.
Ngoài sự khác biệt về chính sách đối với các nước xã hội chủ nghĩa,
Canada cũng có những khác biệt trong chính sách đối với một số vấn đề khác
như việc Mỹ rút khỏi Hiệp ước ABM (ký với Liên Xô năm 1972) và Tòa án
hình sự quốc tế, vấn đề Iraq, vấn đề phòng thủ tên lửa, chi phí quân sự.
Canada cũng có một số bất đồng lớn trong quan hệ song phương với Mỹ về
thương mại và chủ quyền lãnh thổ[29]. Tuy nhiên, Canada không để cho
những khác biệt về quan điểm và chính sách giữa hai nước làm phương hại
đến quan hệ với Mỹ và lợi ích quốc gia của Canada. Điều này thể hiện rõ

24 trong một phát biểu năm 1994 của Thủ tướng Canada Jean Chrétien nói rằng:
“Chúng tôi (Canada và Mỹ) yêu quí nhau. Nhưng tôi chỉ không muốn thấy
Canada bị coi là bang thứ 51 của nước Mỹ”[29,tr1]. Trên thực tế, những bất
đồng giữa hai nước không cản trở mối quan hệ tốt đẹp giữa Canada và Mỹ.
Trong một cuộc thăm dò công luận tháng 1-2009,có tới 86% người Canada

Commonwealth, Francophonie và OAS là những diễn đàn đa phương cho sự
đối thoại và hợp tác, thông qua đó “Canada có nhiều cơ hội hơn để đóng một
vai trò quốc tế quan trọng trong các lĩnh vực ngôn ngữ, văn hóa, chính trị,
kinh tế và công nghệ mới” và xúc tiến lợi ích quốc gia của Canada trong hợp
tác với các quốc gia trên thế giới. Đồng thời, những đóng góp quan trọng của
Canada đối với các tổ chức này sẽ được các nước công nhận như là những
đóng góp cho sự phát triển của các cộng đồng khác nhau trên thế giới, qua đó
nâng cao vị thế quốc tế của Canada[8]. Ngoài ra, Canada cũng tham gia các tổ
chức kinh tế khác như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
(APEC), nhóm G8 (tám nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới), nhóm
G20 (gồm 20 nước có nền kinh tế đang phát triển mạnh trên thế giới), Hiệp
định Tự do Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA, gồm Mỹ Canada và Mexico), để
thúc đẩy các hoạt động hợp tác kinh tế, xúc tiến đầu tư và thương mại với các
nền kinh tế phát triển trên thế giới. Như vậy, chỉ riêng với việc tham gia vào
hai loại tổ chức quốc tế và khu vực này, Canada đã có quy mô hợp tác rộng
rãi trên toàn thế giới.
Trong các hoạt động quốc tế khác, Canada là nước tích cực tham gia
các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ngay từ khi sứ mệnh gìn
giữ hòa bình đầu tiên được tổ chức năm 1956 trong việc giải quyết cuộc
khủng hoảng Kênh đào Suez. Tính đến năm 2009, Canada đã tham gia 32 sứ
mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc ở nhiều nơi trên thế giới như Trung
Đông, Nam Âu, Đông Nam Á, và châu Phi. Ngoài ra, Canada tự hào là nước
có nhiều người được cử giữ những chức vụ quan trọng của các tổ chức quốc

Trích đoạn Chớnh sỏch đối ngoại của Canada với Việt Nam Thực trạng quan hệ Việt Nam – Canada 1973- Về kinh tế thương mạ Về viện trợ phỏt triển Hợp tỏc văn húa giỏo dục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status