Luận án Tiến sỹ: Quan niệm về nhân tài của một số nhà tư tưởng tiếu biểu thế kỷ XIX ở Việt Nam - Pdf 18

MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ngay từ xa xưa, ông cha ta đã đặc biệt quan tâm và coi trọng nhân tài.
Trọng dụng nhân tài trong xây dựng và bảo vệ đất nước đã trở thành truyền
thống trong tư tưởng chính trị-xã hội Việt Nam. "Hiền tài nguyên khí của quốc
gia", "nhân tài là rường cột của quốc gia", “có giang sơn thì sĩ đã có tên, so
chính khí đã đầy trong trời đất” là những quan niệm phổ biến, lâu đời về vai
trò to lớn của nhân tài trong hệ thống xã hội.
Có thể nói việc tìm kiếm, sử dụng và đào tạo nhân tài luôn là vấn đề nổi
bật trong xây dựng bộ máy nhân sự nhà nước. Thời nào cũng cần nhân tài và
cũng thấy thiếu nhân tài bởi vai trò to lớn của nhân tài đối với mọi lĩnh vực xã
hội. Tuy nhiên, quan niệm về nhân tài không phải là nhất thành bất biến. Mỗi
chính thể, mỗi giai đoạn lịch sử lại cần những mẫu hình nhân tài khác nhau trên
tiêu chí đáp ứng việc giải quyết yêu cầu của triều đại, của giai đoạn lịch sử đó.
Quan niệm về nhân tài góp phần vào việc xác lập các tiêu chí con người lý
tưởng, đồng thời góp phần tạo dựng nên đội ngũ nhân tài của mỗi thời đại. Việc
tìm hiểu quan niệm về nhân tài và chính sách đào tạo, đãi ngộ nhân tài trong tư
duy lý luận của dân tộc nói chung, ở thế kỷ XIX nói riêng, không chỉ giúp lý
giải nhiều sự kiện lịch sử, văn hoá, tìm hiểu những đóng góp và vai trò của
người hiền tài vào lịch sử phát triển dân tộc… mà quan trọng hơn là tìm kiếm,
rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật dùng người của tiền
nhân vì sự phát triển đất nước.
Và hiện nay trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề tìm kiếm,
lựa chọn nhân tài, chủ trương đào tạo, sử dụng nhân tài đang được đặt ra một cách
cấp bách từ cấp trung ương đến địa phương, cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Việc đào tạo, sử dụng người tài đang là vấn đề lớn của tổ chức nhân sự và giáo dục
đào tạo hiện nay. Nhưng quan niệm thế nào là nhân tài, phương châm đào tạo, sử
dụng nhân tài, các cơ chế đảm bảo nhân tài có thể phát huy tối đa năng lực cống
hiến cho xã hội…vẫn đang là vấn đề chưa có sự thống nhất cả về nhận thức và
1
hành động. Điều này tác động không nhỏ tới sự suy giảm sức mạnh nguồn tài

Nguyễn
- Thứ tư, làm rõ những bài học kinh nghiệm và liên hệ với chính sách đào
tạo, sử dụng nhân tài của Đảng và nhà nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Quan niệm về nhân tài, đào tạo, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án khảo sát vấn đề quan niệm nhân tài, đào tạo, trọng dụng và đãi
ngộ nhân tài ở Việt Nam thế kỷ XIX. Đây là giai đoạn được bắt đầu từ năm
1804 khi vua Gia Long thống nhất đất nước, lập vương triều Nguyễn và trải qua
các đời vua kế tiếp là Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức Nó bao gồm thời kỳ đầu
xây dựng triều Nguyễn và thời kỳ thực dân Pháp xâm lược đất nước. Ở thời kỳ
này vai trò của nhân tài để xây dựng và bảo vệ đất nước là đặc biệt quan trọng
và không thể thiếu. Chính vì vậy, đã có rất nhiều quan niệm về nhân tài, vai trò
của nhân tài, quan niệm về đào tạo, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài của các minh
quân và các nhà tư tưởng góp phần khẳng định hơn nữa vai trò “hiền tài là
nguyên khí quốc gia”. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của mình, tác giả
luận án chỉ tập trung vào nghiên cứu: quan niệm về nhân tài của bốn nhà tư
tưởng tiêu biểu: Nguyễn Du, Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường
Tộ. Trong đó, Nguyễn Du đại diện cho cách nhìn của nhà tư tưởng, nhà văn
thiên tài với quan niệm nhân tài là nam hoặc nữ đem tài năng phục vụ xã hội;
Minh Mệnh đại diện cho cách nhìn của một minh quân thông minh, quyết đoán
với quan niệm về nhân tài trên phương diện quản lý xã hội; Nguyễn Công Trứ
đại diện cho cách nhìn của một kẻ sĩ văn, võ song toàn, mang “chí nam nhi” của
mình phục vụ xã hội; Nguyễn Trường Tộ đại diện cho quan điểm canh tân khi
cho rằng nhân tài là nhân tài ứng dụng, phục vụ cho xã hội, là kiểu nhân tài “biết
mở mang các vật để phục vụ dân sinh”[11, tr.222].
Trên cơ sở đó, luận án rút ra những bài học kinh nghiệm và liên hệ với
quan niệm về nhân tài của Đảng và Nhà nước hiện nay
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

cứu vấn đề vai trò của quần chúng nhân dân. Chủ nghĩa Mác cho rằng quần
chúng nhân dân lao động tiềm ẩn một nguồn nhân tài cực kỳ phong phú, là kho
báu nhân tài lớn nhất.
Tiếp theo là Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, t44, Matxcơva, năm 1995 cũng
bàn nhiều đến vấn đề nhân tài và sử dụng nhân tài. V.I.Lênin cho rằng : “Vấn đề
then chốt hiện nay là phải phát hiện ra những cán bộ có bản lĩnh, có thực tài, nếu
không thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định chẳng qua chỉ là một mớ giấy
lộn”[ tr. 449]
Kế thừa tư tưởng Chủ nghĩa Mác –Leenin về con người, về nhân tài, chủ tịch
Hồ Chí Minh xuất phát từ điều kiện thực tiễn của Việt Nam, nhận thức rõ hơn
vai trò của người tài đối với công cuộc bảo vệ, xây dựng đất nước. Toàn bộ tư
tưởng của Người về nhân tài được tập hợp chủ yếu trong cuốn Hồ Chí
Minh(2000), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, tập5, Hà Nội. Đây là cuốn sách
trình bày được hầu hết tư tưởng của Hồ chủ tịch về nhân tài, đào tạo, bồi dưỡng
5
và trọng dụng nhân tài.Trang 273 có trích tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của
nhân tài: “Phải trọng dụng nhân tài, trọng dụng cán bộ, trọng mỗi một người có
ích cho công việc chung của chúng ta”[tr 273].
Vấn đề xác định vai trò, chính sách đào tạo, sử dụng nhân tài được Đảng ta
đặc biệt quân tâm và được đưa ra trong các Đại hội đại biểu các khoá như: Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI(12/1986) đại hội nhận định: : “Nhân tài không phải là
sản phẩm tự phát mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu”
Đảng Cộng sản Việt Nam(1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII, Nxb Sự thật, H. Lần đầu tiên vấn đề đào tạo, bồi dưỡng nhân tài được xác
định là một trong những nhiệm vụ chính của giáo dục: “ Mục tiêu giáo dục và đào
tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội
ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động
và sáng tạo”[tr. 81-82].
Đại hội lần thứ X (4/2006) của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương về xây
dựng chiến lược nhân tài: “ Đổi mới hệ thống giáo dục đại học và sau đại học, gắn

tài liệu nghiên cứu về vị trí và tầm quan trọng của nhân tố con người và nguồn
nhân lực trong sự phát triển đất nước. Sách viết: "Nhận thức rõ tầm quan trọng
của nhân tài đối với sự hưng thịnh của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn quan
tâm đến phát triển nhân tài. Trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà
nước đã nhấn mạnh: mục tiêu của phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, làm
cơ sở đào tạo nhân lực và là nguồn gốc để đào tạo và bồi dưỡng nhân tài trên
nền tảng nhân cách tốt đẹp. Phát triển giáo dục và đào tạo chính là tạo điều kiện
để sản sinh ra nhiều nhân tài, làm giàu thêm "nguyên khí của quốc gia", đây chính
là mục tiêu và cũng là động lực để thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền
vững"tr13. Ở trang 15, tác giả cuốn sách đã đưa ra quan niệm về nhân tài “ Thuật
ngữ nhân tài không chỉ được dùng để chỉ những người có học vấn cao, hoặc có
bằng cấp cao về mặt chuyên môn mà theo nghĩa rộng hơn còn bao hàm những
người có tài thuộc mọi tầng lớp. Có thể hiểu nhân tài là những người có tài năng
vượt trội, có những đóng góp lớn cho xã hội”[tr. 15]. Đây là tài liệu bổ ích để tác
7
giả luận án tham khảo và củng cố rõ hơn vị trí không thể thiếu của vấn đề "nhân
tài" đối với sự phát triển của đất nước nói chung và triều Nguyễn nói riêng.
Công trình “Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân
tài trong lịch sử Việt Nam” do Phạm Hồng Tung chủ biên, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội năm 2008 ra mắt độc giả với nội dung chính: đi vào khảo lược kinh
nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài của cha ông ta trong các thời kỳ
lịch sử khác nhau, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích, góp
phần xây dựng luận cứ khoa học cho công tác phát triển nhân tài ở nước ta hiện
nay và trong tương lai. Có thể nói, đây là một trong những công trình nghiên
cứu công phu được trình bày trong 8 chương về vấn đề "nhân tài" từ thời dựng
nước đến đầu thế kỷ XX. Nét đặc biệt của công trình là ở chỗ có sự đa dạng
trong việc khảo sát các quan niệm về nhân tài của "dân gian Việt Nam", của các
thời kỳ lịch sử. Những vấn đề về giáo dục Nho học và việc đào tạo, tuyển chọn
nhân tài, quan niệm mới về nhân tài và đào tạo nhân tài ở Việt Nam từ cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX là những tài liệu vô cùng quan trọng liên quan đến đề tài

và trọng dụng nhân tài của Thăng Long- Hà Nội” do Vũ Hy Chương chủ biên,
nhà xuất bản Hà Nội, năm 2010 đã đưa ra quan niệm về nhân tài- hiền tài, các
đối tượng nhân tài được thu hút, trọng dụng; vai trò và đóng góp của các nhân
tài ở Thăng Long- Hà Nội. Cuốn sách có đoạn: “Nói tới nhân tài, người ta
thường nghĩ tới những bậc học cao biết rộng, đỗ đạt thành danh. Thực đúng vậy,
họ là những người tài bởi có trình độ học vấn cao, tầm hiểu biết uyên bác và nhờ
đó họ sẽ có những cống hiến tích cực tạo nên các thành tựu lớn trong phát triển.
Song nhân tài còn là những người có tay nghề tinh thông kết hợp với trí thông
minh và óc sáng tạo, tuy rằng họ có thể không được học cao và không có học vị.
Nhân tài còn là những người có năng lực đặc biệt ít thấy ở người bình thường,
mà với năng lực đặc biệt ấy có thể giúp họ làm nên những công tích nổi bật hơn
người”[tr21]. Đây là những nhận xét bổ ích để tác giả luận án có thêm những cái
nhìn đa dạng khi tìm hiểu về quan niệm nhân tài ở thế kỷ XIX.
9
Gần đây, có một số cuốn sách và các bài báo, tạp chí, luận văn thạc sĩ, luận
án tiến sĩ triết học cũng đi vào nghiên cứu một số khía cạnh liên quan đến vấn đề
khái niệm người quân tử, người tài, nhân tài và giáo dục – khoa cử và sử dụng
con người nói chung, đào tạo, đãi ngộ nhân tài nói riêng như: Nguyễn Thế
Long(1995), Nho học ở Việt Nam- Giáo dục và thi cử, Nxb Giáo dục, Hà Nội;
Đặc biệt là 2 luận án “Quan niệm của Nho giáo về giáo dục con người và ý
nghĩa của nó đối với việc giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá”(1999) của Nguyễn Thị Nga và “Quan niệm của Nho giáo về con người, về
giáo dục và đào tạo con người” (2005) của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai. Cả 2
luận án đều ít nhiều có liên quan đến đề tài luận án của tôi, song chủ yếu 2 tác
giả tập trung vào vấn đề quan niệm về con người và giáo dục, đào tạo con người
của Nho giáo nói chung.
Luận án Chính sách văn hóa của Triều Nguyễn (giai đoạn 1802-1884)(2012)
của Vũ Thị Phương Hậu chủ yếu đi vào khảo sát riêng về chính sách văn hóa
triều Nguyễn. Trong đó, ở chương 3 phần 3.2. Chính sách dùng người, tác giả có
đi vào trình bày về quan điểm về nhân tài và chính sách dùng người của các vua

mọi miền đất nước Nhật Bản, nơi đâu cũng gặp những người vừa có tài, vừa có
đức ngày đêm rèn giũa và tích lũy thực lực thì ắt hẳn đến một ngày nào đó, chúng
ta sẽ ngang hàng, sánh vai với nền văn minh của các cường quốc phương
Tây"tr85. Qua khảo sát trên đây, có thể thấy FuKuZaWa YuKiChi đã có quan
điểm coi nhân tài, hay người có tài là đặc biệt quan trọng và không thể thiếu cho
sự phát triển đất nước. FuKuZaWa YuKiChi đã đúc kết những kinh nghiệm lịch
sử coi việc dùng người là quốc sách. Quan điểm của FuKuZaWa YuKiChi là sự
tham khảo cho tác giả luận án hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình.
Các cuốn sách, tạp chí, bài báo, luận án và các hội thảo khoa học trên đây mới
đưa ra các vấn đề nói chung về giáo dục, đào tạo khoa cử Việt Nam, con người và
đào tạo con người trong Nho giáo; vấn đề các mẫu người lý tưởng; quan điểm về
lựa chọn, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam
11
2.1.Tình hình nghiên cứu liên quan tới các điều kiện kinh tế, chính trị, văn
hóa xã hội thế kỷ XIX và quan niệm về nhân tài của các nhà tư tưởng tiêu biểu
thế kỷ XIX: Nguyễn Du, Minh Mệnh, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Trường Tộ.
2.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến các điều kiện kinh tế, chính
trị, văn hóa xã hội thế kỷ XIX.
2.1.1.1 Tư liệu gốc
Hầu như các tác phẩm sử học lớn được biên soạn dưới triều Nguyễn đều đã
được dịch như:
-Bộ sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1993), do Viện Sử học và
Nhà Xuất bản Thuận Hóa ấn hành. Bộ sách gồm 262 quyển với hơn 8.000 trang
bản thảo được dịch từ những năm đầu thập kỷ 60 và được hiệu đính hai lần. Bộ
sách được biên soạn dưới triều Nguyễn theo thể loại Hội điển, ghi chép lại các
điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của một
triều đại, do nội các triều Nguyễn biên soạn vào giữa thế kỷ XIX. Đây là một
công trình lịch sử có quy mô đồ sộ vào bậc nhất trong kho tàng thư tịch cổ viết
bằng chữ Hán của Việt Nam. Bộ sách này được biên soạn rất công phu, kéo dài
12 năm (1843- 1855). Nó chứa đựng một khối lượng đồ sộ những kiến thức, sử

khoa "Tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn Sơ (1802-1847) của
Nguyễn Sĩ Hải năm 1962, tiểu luận cao học sử của Trần Thanh Niên (1974)
"Hành chính của triều đại Gia Long". Các tác giả chủ yếu đi vào nhìn nhận triều
Nguyễn trên vị trí thống trị xã hội, sáng tạo ra lịch sử xã hội, không nhìn triều
Nguyễn trên khía cạnh quản lý đất nước và xã hội, không xem triều Nguyễn với
tư cách như một sản phẩm của lịch sử và bị lịch sử chi phối. Đã xuất hiện nhiều
khuynh hướng phê phán gay gắt các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trên
phương diện lịch sử. Trong Kỷ yếu Hội thảo chúa Nguyễn và vương triều
Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, do Giáo sư Phan
Huy Lê chủ biên năm 2008 có viết"Khuynh hướng đó gần như đã trở thành quan
điểm chính thống trong biên soạn sách giáo khoa và phổ thông" tr13
13
Đại hội VI của Đảng (1986), với chủ trương tiến hành đổi mới mọi mặt trong
đó có đổi mới tư duy đã bắt đầu có sự nhìn nhận và đánh giá khách quan hơn về
Triều Nguyễn. Hàng loạt các cuộc Hội thảo đã được tổ chức để giới thiệu về
triều Nguyễn. Tháng 10/1989, Viện khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh
đã phối hợp tổ chức một cuộc hội thảo khoa học về Một số vấn đề về triều
Nguyễn, sau đó các báo cáo khoa học đã dược chọn lọc in thành tập kỷ yếu với
tên gọi Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn. Tiếp sau đó tháng 4/1992,
Viện khoa học xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh lại phối hợp tổ chức cuộc hội
thảo khoa học về triều Nguyễn lần thứ hai. Đã có trên 50 báo cáo tham luận
khoa học đề cập đến những vấn đề văn hóa, giáo dục, nghệ thuật thời Nguyễn.
Đề tài khoa học cấp Nhà nước Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước
triều Nguyễn, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đổi mới đất nước hiện nay, do
PGS,TS Đỗ Bang làm chủ nhiệm đã được thực hiện năm 1995-1996. Đây là đề
tài tìm hiểu về cách thức quản lý, vận hành của bộ máy triều Nguyễn được xem
xét ở nhiều phương diện kinh tế, chính trị, xã hội. Đề tài với cách đặt vấn đề
riêng đã thể hiện một quan điểm mới mẻ trong nghiên cứu về triều Nguyễn và
hướng đến mục đích tìm ra những bài học kinh nghiệm hữu ích về các vấn đề bộ
máy nhà nước, thể chế chính trị hữu ích cho ngày hôm nay.

cử” [34;481]
Tác phẩm “Nghiên cứu Triều Nguyễn và Huế xưa” của Nguyễn Đắc Xuân,
Nxb Thuận Hóa, năm 2011 là sự tập hợp các tập sách kiến thức triều Nguyễn và
Huế xưa với bố cục gồm 3 phần chính: Phần 1: Văn hóa du lịch; phần 2: Kiến
thức lịch sử và phần 3: Giao lưu tranh luận. Đặc biệt là phần 3 từ tr 263 đến
tr2629 viết về "chuyện Minh Mạng tề gia" trong đó có đoạn " sử sách lâu nay đã
viết nhiều việc "trị quốc" của vua Minh Mạng. Nhờ tài năng và đức độ của ông
mà nước Việt Nam dưới thời ông có quy củ, rộng lớn hùng mạnh nhất so với bất
cứ thời quân chủ nào trong lịch sử Việt Nam"[tr. 263].
15
Những nghiên cứu trên đây đã cung cấp một khối lượng kiến thức đồ sộ về lịch
sử, lịch sử tư tưởng triều Nguyễn. Đây là những cơ sở điều kiện kinh tế-xã hội, văn
hóa tư tưởng giúp cho đề tài luận án có được bức tranh chung về triều Nguyễn.
2.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến quan điểm về nhân tài
của các nhà tư tưởng Minh Mệnh, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Trường
Tộ.
2.2.2.1. Về Nguyễn Du
Nhắc đến Nguyễn Du, chúng ta không chỉ nhắc đến ông với tư cách là một nhà
văn, nhà thơ tài hoa mà còn nhắc đến ông với tư cách là một nhà tư tưởng lớn thế
kỷ XVIII-XIX. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên khi người đời tôn ông là một trong
những nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc và thế giới. Đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu về cuộc đời, các tác phẩm nghệ thuật và tư tưởng của ông. Trong phạm
vi của đề tài luận án, tôi chỉ xin khảo sát một số các công trình tiêu biểu của các
nhà nghiên cứu về tác giả Nguyễn Du nói chung và quan niệm của Nguyễn Du về
chữ Tài nói riêng.
Cuốn sách"Thi hào dân tộc Nguyễn Du"-bút ký- tiểu luận của tác giả Xuân
Diệu Nxb Văn học, Huế, năm 1966, là những tâm sự của tác giả về Nguyễn Du và
các tác phẩm của Nguyễn Du. Tác giả kết luận" Nhìn chung, Nguyễn Du của chúng
ta có một tác dụng tích cực; đó là một nhà hiện thực phê bình lớn, một thiên tài tố
cáo các thứ xã hội áp bức bóc lột"tr14

trước hết là thi ca và âm nhạc. Nói cách khác, người tài tình được nói đến ở đây
là người lấy nghệ thuật làm mục đích, thậm chí làm nghề nghiệp" tr46.
Đặc biệt tác giả Luận án rất tâm đắc bài viết “Khái niệm “tài” trong “ Truyện
Kiều”(tháng 12-2004) của Trần Văn Đoàn. Giáo sư Trần Văn Đoàn có cái nhìn
mới và đa dạng khi bình luận về chữ “tài” và các khái niệm có liên quan đến chữ
“tài”. Tác giả bài viết đã tìm hiểu Nguyễn Du với tư cách là nhà tư tưởng khi
bàn về vấn đề chữ “tài”, khái niệm nhân tài. Trần Văn Đoàn viết “Nhân tài cũng
là những người có tài. Tuy nhiên, khác với tài nhân, nhân tài biết làm thế nào sử
dụng tài năng của họ vì mục đích phục vụ loài người” (tr12).
17
Bài, Quan niệm của Nguyễn Du về cuộc đời và thân phận con người, của
tác giả Lê Thị Lan, Tạp chí Triết học số 9 (196), năm 2007 đã có rất nhiều khảo
sát đúng đắn về Nguyễn Du và quan niệm về người tài của ông. Tác giả nhận
định: Nguyễn Du đã xuất phát từ quan niệm “đời là bể khổ” để đi đến những
nhận định về nhân sinh trên nền tảng tâm thế Việt – lấy tình cảm, tình yêu
thương làm chỗ dựa. Đối với ông, một mặt, sự đối lập giữa tài năng và số phận
(luật" “tài mệnh tương đố”) là sự bất công cơ bản và lớn nhất; mặt khác, con
người vẫn có thể cải hoá được số phận nếu nỗ lực tu tâm, hành thiện. Quan niệm
về số phận con người là sự cụ thể hoá nhân sinh quan ấy. Nguyễn Du cho rằng,
thân phận mỗi người là sự tồn tại theo duyên cảnh, là tất nhiên và mang tính tiền
định. Khi xem xét thân phận con người, Nguyễn Du đặc biệt chú ý đến người tài
và phụ nữ. Quan niệm về cuộc đời và thân phận con người của Nguyễn Du đã
góp một sắc thái đặc biệt trong nền triết lý nhân sinh Việt Nam.
Tác giả nhận xét: với Nguyễn Du, người tài không chỉ là các văn nhân, trí thức
Nho giáo, mà phải bao gồm cả phụ nữ; cái tài không chỉ thể hiện trong thơ phú,
chính trị, cử nghiệp, mà cả trong các năng lực khác như đàn hát, hội họa. Theo ông,
người có tài luôn là tinh hoa của trời đất, được đồng loại coi trọng, xót thương và
ca ngợi, bởi chính họ đã làm cho cuộc đời ngày càng đẹp hơn, nhân ái hơn.
Luận án Đoạn Trường Tân Thanh, cuộc tái tạo nghệ thuật của Nguyễn Du của
Nguyễn Thị Bích Hồng, Luận án tiến sĩ Ngữ văn tại Viện Văn học- Viện khoa học

xuất bản.
“Minh Mệnh chính yếu”, là tác phẩm được ra đời khi vua Minh Mệnh phê
chuẩn lời tâu xin của Hà Quyền và các đại thần khác trong viện Cơ Mật, nhà vua đã
"phái những bậc thông hiểu văn học, đem các bản châu phê cùng những bản ghi
chú trong những lúc khởi, cư, động, tác chia loại vựng và đính thành một bộ nhan
đề là "Minh Mệnh chính yếu toàn thư". Trước năm 1975, "Minh Mệnh chính yếu"
đã được dịch và in thành nhiều tập, ra nhiều kỳ, do đó làm người đọc khó theo dõi.
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của giới nghiên cứu, dựa vào những bản dịch
trên, nhất là bản dịch của Ủy ban dịch thuật do Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh
19
niên xuất bản năm 1972-1975 ở Sài Gòn. Sau đó năm 1994, Nhà xuất bản Thuận
Hóa, Huế đã hiệu chỉnh lại và in thành 3 bộ 3 tập. Có thể nói "Minh Mệnh chính
yếu " đã trình bày rất cụ thể các tư tưởng chính trị- xã hội của Minh Mệnh –vị vua
thứ 2 của triều Nguyễn. Vấn đề giáo dục và đãi ngộ nhân tài được Minh Mệnh
đặc biệt chú ý trong tác phẩm này. Tác phẩm là tư liệu gốc quan trọng nhất cho
việc nghiên cứu chuyên biệt về tư tưởng của Minh Mệnh, trong đó có tư tưởng
về nhân tài. Đây là một khía cạnh không thể thiếu góp phần làm tài liệu tham
khảo cho toàn bộ "Quan niệm về nhân tài của một số nhà tư tưởng tiêu biểu thế
kỷ XIX ở Việt Nam”.
Bộ sử Đại Nam thực lục chính biên, nội các triều Nguyễn, bản dịch của
Viện sử học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007 có nhiều phần viết về chính sách tìm
kiếm nhân tài của triều Nguyễn. Phần về triều Minh Mệnh là nguồn sử liệu quan
trọng bổ sung cho việc nghiên cứu tư tưởng của ông về nhân tài và sử dụng
người tài.
Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, (1993), NXb Thuận Hóa, Huế cung cấp
những tư liệu cụ thể chính xác về bộ máy chính quyền và công cuộc cải cách
hành chính dưới thời Minh Mệnh. Viết về tư tưởng Minh Mệnh có đoạn: “Tuyển
cử hiền tài là thịnh điển đời minh vương; cho nên nhà nước dùng người, phần
nhiều chọn ở trong khoa mục. Hoàng Khảo Thế tổ cao hoàng đế ta, sau khi đại
định mở khoa thi hương, có đủ quy thức. Trẫm nối ngôi đến nay, luôn nghĩ đến

nhân Minh Mệnh là một trong không nhiều ông vua rất chú trọng việc đào tạo,
tuyển chọn và hiểu rõ vị trí của nhân tài đối với quốc gia. Chính sử nhà Nguyễn
ghi chép những năm trị vì của Minh Mệnh, hầu như không năm nào không ghi
lại một vài dòng suy nghĩ, dòng tư tưởng về nhân tài của ông". Luận án đã còn
tiếp tục cung cấp những tài liệu tham khảo giá trị về vấn đề sử dụng người tài
của Minh Mệnh và kết luận "dưới thời Minh Mệnh, người hiền tài được sử dụng
đúng lúc, đúng chỗ" tr216. Nghiên cứu luận án của tác giả Nguyễn Hoài Văn, đã
giúp tôi bổ sung thêm cho nghiên cứu của mình những vấn đề cơ bản quan điểm
về nhân tài, chính sách sử dụng và đào tạo nhân tài của Minh Mệnh
21
Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần thiết phải có những nghiên cứu cụ thể tư
tưởng Minh Mệnh về nhân tài, phương pháp và chính sách sử dụng người tài để
hiểu rõ hơn tư tưởng của Minh Mệnh trong việc xác định đúng đắn vai trò của
người tài đối với sự phát triển của triều Nguyễn. Đây là hướng nghiên cứu mà
tác giả luận án đi vào giải quyết.
+ Liên quan đến Nguyễn Công Trứ
- Nghiên cứu về Tư tưởng của Nguyễn Công Trứ, cũng được rất nhiều
nhà nghiên cứu quan tâm với một số tác phẩm tiêu biểu:
Năm1928 là công trình biên khảo của giáo sư Lê Thước. Có thể nói đây là công
trình nền tảng về tư liệu mà cho đến mãi sau này, các công trình nghiên cứu về
Nguyễn Công Trứ vẫn phải dựa vào. Giáo sư Lê Thước đứng trên quan điểm nhà
Nho để tìm hiểu Nguyễn Công Trứ, đánh giá Nguyễn Công Trứ theo tiêu chí lập
công, lập đức, lập ngôn.
Tác phẩm “Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ”của Nguyễn Bách Khoa,
Hàn Thuyên xuất bản, H, 1944. Tác giả mở đầu cuốn sách về Nguyễn Công Trứ
của mình bằng lời phê phán quan niệm duy tâm của Lê Thước về cá nhân, về anh
hùng và đứng trên lập trường duy vật biện chứng, trên quan điểm giai cấp để phân
tích tư tưởng, thi văn Nguyễn Công Trứ. Khi đặt đối tượng nghiên cứu vào bối
cảnh lịch sử xã hội cụ thể, ông đã chỉ ra được một số vấn đề mới mẻ về tư tưởng
của Nguyễn Công Trứ mà trước đó chưa ai nói đến. Ông viết: "Cống Chỉnh,

Từ rất sớm, giới nghiên cứu đã nhận ra điều mà họ gọi là " tương phản" ở Nguyễn
Công Trứ và cố gắng tìm cách mô tả, cắt nghĩa, đánh giá. Nhìn từ bất cứ một học
thuyết triết học- đạo đức, hay một góc độ văn học, sử học nào chúng ta có thể thấy
rằng tư tưởng và tâm hồn của Nguyễn Công Trứ là rất khó đóng khung bằng các
khuôn học thuyết có sẵn. Vì vậy, rất cần thiết tiếp tục xem xét, thảo luận về phương
pháp đánh giá cuộc đời và tư tưởng của ông. Đặc biệt là quan niệm của ông về chí
nam nhi trong xã hội.
+Liên quan đến Nguyễn Trường Tộ
23
Từ trước năm 1945, ở nước ta đã xuất hiện những tài liệu nghiên cứu về
Nguyễn Trường Tộ, mặc dù chưa được chú ý một cách toàn diện và sâu sắc.
Trong đó có các công trình, tác phẩm tiêu biểu như:
Những Bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ đầu tiên được đăng trên tạp
chí Nam Phong 11/1925. Tạp chí đã cung cấp một số tư liệu về Nguyễn Trường
Tộ. Tuy nhiên, do ảnh hưởng thân Pháp cho nên tạp chí này chưa đánh giá chính
xác về chủ trương, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ
Từ những năm 1937- 1938, trong phong trào vận động dân chủ, các nhà
văn bắt đầu nói đến Nguyễn Trường Tộ như một niềm tự hào dân tộc, một tấm
gương yêu nước của một con người đã dành cả cuộc đời vì nước, vì dân.
Sau những năm 1945, tình hình nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ được
mở rộng thông qua các tác phẩm của nhiều nhà nghiên cứu. Các tác giả đã
chứng minh và khẳng định công lao to lớn của Nguyễn Trường Tộ đối với nước,
với dân.
Trong những năm 1960 - 1961, tạp chí Nghiên cứu lịch sử đã công bố
những công trình nghiên cứu đánh giá lại một số nhân vật lịch sử, trong đó có
Nguyễn Trường Tộ. Nhìn chung, Nguyễn Trường Tộ được đánh giá là người có
tài và có tâm huyết nhưng nhìn nhận về quan điểm, chủ trương của ông vẫn có
những ý kiến chưa thống nhất. Năm 1961, hai tác giả Chương Thâu và Ðặng
Huy Vận soạn cuốn sách “Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối
thế kỷ XIX”. Ðây là cuốn sách cung cấp một khối lượng lớn tài liệu về Nguyễn

Tộ. Hội thảo đánh giá: trong một thế kỷ đau thương và đen tối của Việt Nam, đã
thấy loé lên một tư tưởng lớn, một trí tuệ mang tầm cỡ quốc tế trí tuệ và tư
tưởng Nguyễn Trường Tộ.
Năm 2001, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã ấn hành
cuốn sách của tác giả Hoàng Thanh Ðạm với nhan đề Nguyễn Trường Tộ thời thế
và tu duy cách tân. Cuốn sách là công trình nghiên cứu giúp chúng ta giải đáp một
số nhận thức về tầm cao trí tuệ, tinh thần yêu nước của nhà tư tưởng cách tân lỗi lạc
họ Nguyễn cũng như một số điều bất cập và hạn chế lịch sử của ông.
25

Trích đoạn Quan niệm về nhân tài trước thế kỷ XIX ở Việt Nam Quan niệm về nhân tài và vai trò của nhân tài của một số nhà tư tưởng tiêu biểu dưới triều Nguyễn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status