Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
Lời Mở Đầu
hát triển cộng đồng là một cách tiếp cận hữu hiệu trong công cuộc xóa đói
giảm nghèo tại Việt Nam. Có khá nhiều dự án Phát triển cộng đồng đã và
đang được thực hiện tại nước ta với các hoạt động hết sức thiết thực và hiệu quả như:
các hoạt động tăng thu nhập cho người dân, các hoạt động chuyển giao công nghệ,
các hoạt động tăng cường nhận thức,… gắn liền phát triển kinh tế với bảo vệ môi
trường. Việt Nam có đường biển dài hơn 3200km, với rất nhiều cộng đồng dân cư
sống ven biển và phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tài nguyên biển. Tuy nhiên, có thể
nói rằng các dự án phát triển cộng đồng tại các vùng nông thôn ven biển lại rất ít.
P
Những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường ven biển có tầm quan trọng
trong chiến lược phát triển của đất nước. Quá trình xây dựng và thực thi các chính
sách quản lý môi trường vùng ven biển đòi hỏi phải có tính hệ thống, có sự kết hợp
chặt chẽ từ trung ương đến đòa phương trong đó nâng cao năng lực quản lý và từng
bước trao quyền quản lý cho cộng đồng như là một yêu cầu bức thiết.
Các đòa phương thường hướng quan tâm của mình đến phát triển kinh tế để
giải quyết vấn đề đói nghèo và vấn đề quản lý môi trường chưa được quan tâm một
cách đúng hướng hoặc có quan tâm thì manh mún, chắp vá, chưa hoàn toàn phù hợp
với yêu cầu quản lý môi trường.
Nằm trong vònh Văn Phong thuộc vùng biển xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh,
tỉnh Khánh Hòa có nguồn lợi hải sản các rạn san hô rất phong phú nhưng do khai
thác quá mức nên đã suy thoái nghiêm trọng. Với sự giúp đỡ của Sở KHCN và MT
(cũ) tỉnh Khánh Hòa và Liên minh sinh vật biển Quốc tế _ IMA Việt Nam, khu bảo
tồn biển Rạn Trào do đòa phương quản lý đã được thành lập. Phương pháp tiếp cận
chính của dự án là có sự tham gia của cộng đồng, vì cộng đồng và bởi cộng đồng.
Hiện nay dự án đã kết thúc và chuyển giao cho đòa phương. Các hoạt động
truyền thông bảo vệ rạn san hô đang được tiếp tục duy trì. Câu hỏi nghiên cứu đặt ra
là cộng đồng đáp ứng thế nào với các hoạt động này và hành vi trong sinh hoạt sản
xuất của họ có mâu thuẩn với những gì đòa phương mong đợi trong bảo vệ rạn san hô
- Nguồn lợi thủy sản ở vùng biển này, hiện nay ước tính chỉ còn khoảng 10%
so với những năm 1980, một số loài hải sản quý thường đánh bắt được trước đây như
bào ngư, hải sâm, cá mú… gần như không còn đánh được, ngay cả các loài trước đây
rất nhiều như ghẹ, cầu gai… nay cũng còn rất ít.
- Việc khai thác san hô một cách ồ ạt để làm đài nuôi tôm sú cũng là nguyên
nhân dẫn đến việc suy giảm nguồn lợi biển. Cùng với sự suy giảm nguồn lợi san hô,
SVTH: Lê Phương Thanh 2
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
nghề nuôi tôm hùm lồng và tôm sú đã chòu nhiều ảnh hưởng xấu như nguồn giống
tôm hùm khai thác tự nhiên hầu như không còn, tốc độ lớn của tôm bò chậm lại, các
loài tôm nuôi dễ bò nhiễm bệnh, thậm chí đôi khi chết hàng loạt do nước bò ô nhiễm.
- Quá trình phát triển nghề nuôi thủy sản ở xã Vạn Hưng, nhất là thời gian
đầu phát triển đã chỉ ra rằng nghề nuôi thủy sản chỉ phát triển tốt và đem lại lợi ích
khi sử dụng hợp lý hoặc chưa phát triển tới ngưỡng suy thoái. Tuy nhiên, khi nguồn
lợi san hô bò tàn phá, nghề nuôi thủy sản lập tức khó khăn; Nếu cứ tiếp tục theo
chiều hướng đó, nghề nuôi thủy sản sẽ dần bò xóa bỏ, nguồn sống của cư dân sẽ bò
đe dọa nghiêm trọng.
Thôn Xuân Tự nói riêng cũng như xã Vạn Hưng nói chung hiện nay đang
đứng trước hai con đường:
- Nếu nguồn lợi san hô không được quản lý và bảo vệ: sẽ xảy ra hậu quả
nặng nề vì ngoài nghề nuôi và khai thác thủy sản người dân chưa có nghề nào khác
để đảm bảo đời sống của họ. Nghề khai thác biển vùng này gần như xóa sổ vì nguồn
lợi hải sản suy giảm nghiêm trọng, nghề khai thác ở đây còn ở trình độ thấp, hoạt
động chủ yếu ở vùng ven bờ, chưa có điều kiện vươn ra đánh bắt xa bờ.
- Nếu nguồn lợi san hô được quản lý và bảo vệ: nghề nuôi thủy sản sẽ phát
triển, đa dạng sinh học, hệ sinh thái vùng rạn san hô và môi trường biển không bò
suy thoái, có khả năng tái tạo và phục hồi, nghề nuôi tôm hùm và các loài hải sản
khác sẽ phát triển cùng với sự duy trì của nghề khai thác tại vùng biển này. Kinh tế -
xã hội sẽ phát triển, đời sống người dân được nâng cao. Ngoài ra, với đòa thế thuận
đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô ven bờ trong thời gian tới.
3. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Tìm hiểu về các mô hình tham gia cộng đồng trong hoạt đồng bảo tồn ở nước
ta sách báo chưa viết nhiều. Do đó, chúng tôi rất khó khăn trong việc kế thừa tài liệu
nghiên cứu. Chúng tôi chỉ tiếp cận được một số ít tài liệu dưới dạng giới thiệu và các
báo cáo hội thảo từ dự án “Khu bảo tồn biển Rạn Trào”như sau:
1. Ủy ban Nhân dân Huyện Vạn Ninh, Liên minh sinh vật biển Việt Nam (IMA),
Kỷ yếu Hội thảo Nhân rộng mô hình Khu bảo tồn biển Rạn Trào do đòa
phương quản lý, tháng 12/2004
SVTH: Lê Phương Thanh 4
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
Hội thảo nhằm tổng kết đánh giá tác động Khu bảo tồn biển Rạn Trào và chia
sẽ kinh nghiệm, các bài học thực tiễn từ mô hình quản lý nguồn lợi trên cơ sở
cộng đồng.
2. Ủy ban Nhân dân Huyện Vạn Ninh, Liên minh sinh vật biển Việt Nam (IMA),
Báo cáo dự án Khu bảo tồn biển Rạn Trào do đòa phương quản lý.
Báo cáo mô tả hiện trạng khu vực dự án và cơ sở xây dựng dự án. Đồng thời,
báo cáo cũng tổng kết những thành quả và các rủi ro xảy ra của dự án.
3. Ủy ban Nhân dân Huyện Vạn Ninh, Báo cáo tổng quan về xây dựng và hoạt
động Dự án Bảo tồn biển Rạn Trào Xã Vạn Hưng - Huyện Vạn Ninh-Tỉnh
Khánh Hòa
Báo cáo giới thiệu quá trình hình thành Khu bảo tồn biển Rạn Trào. Báo cáo
cũng đề cập đến các mục tiêu, hoạt động và thành quả của dự án.
Do đề tài nghiên cứu còn đề cập đến “Sự đa dạng sinh học, thảm cỏ biển, tình
hình khai thác nguồn lợi xung quanh khu vực Rạn Trào” nên chúng tôi tiếp cận
công trình nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu phân vùng chức năng cho khu bảo
tồn Rạn Trào – Vạn Ninh” của Viện Hải Dương học Nha Trang. Đề tài đã thực
hiện các nội dung nghiên cứu: Sự đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rạn san hô,
thảm cỏ biển, tình hình khai thác nguồn lợi xung quanh khu vực. Đề tài cũng đã thiết
- Bơi lội, lặn có ống thở, lặn có khí tài.
- Quan sát, quay phim, chụp ảnh dưới nước.
- Các hoạt động nghiên cứu, giáo dục và đào tạo.
- Thưởng thức cảnh đẹp của môi trường biển, giải trí.
- Đánh bắt và nuôi trồng hải sản trong những vùng đã được quy đònh.
3.1.4 Các nguyên tắc trong vấn đề phát triển cộng đồng tại Khu bảo tồn biển
- Tăng quyền lực: ở những cộng đồng ven bờ, tăng quyền lực chính là tăng
quyền kiểm soát, quản lý nguồn tài nguyên mà họ sống phụ thuộc vào, qua
đó nâng cao thu nhập và bảo đảm việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên
ven biển. Sự tăng quyền lực cũng có nghóa là xây dựng nguồn nhân lực và
nâng cao năng lực của cộng đồng để họ có thể quản lý có hiệu quả nguồn tài
nguyên của họ theo hướng bền vững.
SVTH: Lê Phương Thanh 6
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
- Sự công bằng: sự công bằng có nghóa là có sự bình đẳng giữa mọi người và
mọi tầng lớp trong cộng đồng đối với những cơ hội tồn tại để phát triển, bảo
vệ và quản lý nguồn tài nguyên ven biển. Cũng cần phải bảo đảm tính công
bằng giữa thế hệ hiện tại và tương lai bằng việc tạo ra những mô hình sử dụng
bền vững nguồn tài nguyên ven biển.
- Tính hợp lý giữa bảo tồn và phát triển bền vững: sự phát triển bền vững còn
có nghóa là phải cân nhắc, nghiên cứu trạng thái và bản chất của môi trường
tự nhiên trong khi theo đuổi sự phát triển kinh tế mà không làm tổn hại đến
lợi ích của thế hệ tương lai. Cũng không nên khuyến khích việc bảo tồn một
cách tiêu cực làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của cộng đồng.
- Tôn trọng những tri thức truyền thống/ bản đòa: quá trình phát triển cộng đồng
ven biển cần phải thừa nhận giá trò của tri thức và hiểu biết bản đòa. Nó
khuyến khích sự chấp nhận và sử dụng những tri thức truyền thống/ bản đòa
trong các hoạt động khác nhau của mình.
- Sự bình đẳng giới: dự án phát triển cộng đồng cần thừa nhận vai trò và sự
- Các rạn san hô tạo thành hàng rào dọc theo lục đòa.
- Các rạn san hô bao quanh các đảo.
- Các rạn san hô vòng hình móng ngựa vây lấy một vùng biển.
3.2.2. Phân loại các loài
Các rạn san hô là một trong những hệ sinh thái giàu đa dạng sinh học nhất
trên trái đất.
Cho đến nay khoảng 800 loài san hô đã tạo thành rạn san hô đã được xác
đònh. Chỉ đề cập đến san hô Seleractinia là loại quang trọng nhất tạo nên các rạn san
hô thì được xác đònh có 298 loài thuộc 76 giống và họ.
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia như H.Schuhmacher(1976), Hatarki Etal
(1980) thì có khoảng hơn 550 loài thuộc 110 giống san hô. Riêng ở Ấn Độ Dương và
Thái Bình Dương thì có khoảng 500 loài thuộc 80 giống, còn lại là Đại Tây Dương.
Một số nhà khoa học nổi tiếng Marjorie ReakaKudla ước tính có khoảng 1-9
triệu loài có liên quan với san hô. Sử dụng con số này và các ước tính thô về sự suy
giảm rạn san hô do con người gây ra thì có trên 1 triệu loài có thể đối mặt với sự
tuyệt chủng trong vòng 4 thập kỉ tới.
Ở Ustralia có rạn san hô dài 2000 km ngang 7km. Chúng có nhiều loại:
Acropoda (203 loài), Fuzyia (46 loài), Porites (23 loài).
SVTH: Lê Phương Thanh 8
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
Riêng ở Việt Nam có 350 loài san hô. Trong đó có 95 loài ở vùng biển phía
bắc và 255 loài ở vùng biển phía nam. Chỉ tính ở Vònh Hạ Long đã có 101 loài thuộc
40 giống, 12 họ. Trong đó họ Fuvadac có 35 loài (chiếm 33,7% tổng số loài), họ
Acroporidac có 19 loài (chiếm 18,3%), họ Pitadac có 10 loài (chiếm 9,7%), những họ
còn lại chỉ có từ 1-6 loài. Ở cấp giống Acropara có nhiều nhất 12 loài, sau đó là
Favia có 9 loài, Montipora có 6 loài, Potrites có 5 loài. Các giống khác có ít loài hơn.
San hô có 3 nhóm phụ là:
- San hô bảng (Tabulata)
- San hô tứ phân hay tứ san hô (Tetracorallia)
3.3.1.2 Mục tiêu của truyền thông môi trường
Nâng cao nhận thức của công dân (kể cả dân thường và cán bộ lãnh đạo) về
bảo vệ môi trường, cơ sở luật pháp, các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà
Nước về sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, tạo lập cách ứng xử thân
thiện với môi trường, tự nguyện tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường.
Phát hiện các tấm gương, mô hình tốt, đấu tranh với các hành vi, hiện tượng
tiêu cực xâm hại đến môi trường.
Xây dựng nguồn nhân lực và mạng lưới truyền thông môi trường, góp phần
thực hiện thành công xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường.
3.3.1.3 Vai trò của truyền thông môi trường trong quản lý môi trường
Hiện nay, công tác quản lý môi trường đang đứng trước các thách thức to lớn
khi mà các mong muốn về hưởng thụ một môi trường trong lành, an toàn luôn mâu
thuẫn với nhu cầu hưởng thụ một đời sống vật chất sung túc gắn với các hoạt động
gây tác động tiêu cực đến môi trường. Nói cách khác, công tác quản lý môi trường
đang phải đối mặt với các mâu thuẫn trong suy nghó, thái độ hành vi về môi trường
giữa các nhóm người khác nhau rong xã hội, giữa người này với người khác và ngay
cả trong bản thân một con người.
Vì vậy, truyền thông môi trường cần phải được xem như là một công cụ cơ
bản trong công tác quản lý môi trường nhằm xã hội hóa bảo vệ môi trường. Nó tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi thái độ, hành vi của con người trong cộng
đồng, từ đó thúc đẩy họ tự nguyện tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường từ
đơn giản nhất đến phức tạp nhất và không chỉ tự mình tham gia mà còn lôi cuốn
người khác cùng tham gia, tạo nên những kết quả chung của toàn xã hội.
SVTH: Lê Phương Thanh 10
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
Truyền thông môi trường còn là một quá trình tương tác xã hội hai chiều, giúp
cho mọi đối tượng tham gia vào quá trình đó cùng tạo ra và cùng chi sẻ với nhau các
thông tin về môi trường, với mục đích đạt được sự hiểu biết chung về các vấn đề môi
trường có liên quan, và từ đó có khả năng chia sẻ trách nhiệm bảo vệ môi trường. Vì
Vùng ven biển là nơi năng động kinh tế, tài nguyên thường bò tranh chấp cho
nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Vùng ven biển gần như là một xã hội thu nhỏ
với sự có mặt gần như đủ các ngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, giao thông
thủy bộ, du lòch, ngư nghiệp (đánh bắt, nuôi trồng, chế biến), an ninh, quốc phòng
v.v… Ở vùng ven biển vừa có nông thôn, vừa có đô thò và các điểm du lòch. Vì thế
cộng đồng vùng biển rất đa dạng, đòi hỏi bước phân tích đối tượng truyền thông phải
chi tiết.
Vùng ven biển là nơi tương tác của nhiều quá trình động lực môi trường:
nước, khí, đất và con người, trong đó tương tác biển - lục đòa là quá trình cơ bản. Các
thành tạo tự nhiên - sản phẩm của quá trình tương tác biển lục đòa, như của sông, cồn
cát, bãi biển, rừng ngập mặn, rạn san hô, vũng, vònh … có vai trò quan trọng trong
việc đảm bảo an toàn cho các hệ sinh thái ven bờ. Việc duy trì các “van” an toàn
này phải là chìa khóa của các kế hoạch truyền thông môi trường.
Các cộng đồng ngư dân ven biển là một đối tượng truyền thông đặc biệt vì lối
sống, văn hóa, ngôn ngữ của họ không giống cộng đồng nông dân, công nghiệp và
du lòch. Khi phân tích đối tượng và mục tiêu truyền thông cần chú ý đến cộng đồng
ngư dân. Hoạt động ngư nghiệp là một hoạt động đặc thù về nhiều mặt như phân
công lao động theo giới, mùa vụ đánh bắt. Các làng chài ven biển cũng thường đông
đúc chật chội, tốc độ tăng dân số tự nhiên cao, mặt bằng dân trí thấp hơn cộng đồng
khác, nhiều vân đề môi trường khó giải quyết.
Một nhóm ngư dân đặc biệt không có chỗ ở cố đònh, là dân sống du cư trên
sông nước. Nhóm dân cư này có lối sống tách biệt so với nhóm cư dân trên đất liền
về nhiều mặt.
Bão, nước dâng do bão kèm triều cường, nhiễm mặn, cát bay v.v… là những
tai biến môi trường thường gặp.
Những dòch bệnh liên quan đến ô nhiễm môi trường thường gặp là tiêu chảy,
lò trực trùng, bệnh ngoài da.
3.3.2.2 Những gợi ý để lựa chọn phương pháp truyền thông môi trường
vùng ven biển
SVTH: Lê Phương Thanh 12
các sinh vật biển có tính độc …
SVTH: Lê Phương Thanh 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
4. KHUNG NGHIÊN CỨU
`
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Lý thuyết nghiên cứu
Đề tài này dựa vào các lý thuyết về hành vi để đònh hướng trong thu thập và
phân tích dữ liệu.
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu thuộc phạm vi đề tài là cộng đồng dân cư thôn Xuân
Tự, xã Vạn Hưng, Huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Ngoài ra, chúng tôi phỏng vấn các cấp chính quyền đòa phương để khai thác
bổ thêm nguồn thông tin chính xác và phong phú.
SVTH: Lê Phương Thanh 14
MÔI TRƯỜNG SẢN
XUẤT
KIẾN THỨC, NHẬN
THỨC, THÁI ĐỘ VỀ
BẢO VỆ SAN HÔ
HOẠT ĐỘNG
TRUYỀN THÔNG VỀ
BẢO VỆ RẠN SAN HÔ
HÀNH VI BẢO VỆ
RẠN SAN HÔ
HIỆU QUẢ – TRỞ NGẠI
ĐỀ NGHỊ
SVTH: Lê Phương Thanh 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
(xem phụ lục 1)
* Đối tượng: các hộ gia đình đang hoạt động kinh tế và sống ở khu vực
o Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu: các đối tượng phỏng vấn bao gồm
* Hộ gia đình: 20 hộ
* Cơ quan chức năng: đại diện chính quyền đòa phương và đại diện Ban
Quản lý dự án.
• Phương pháp xử lý dữ liệu
- Các dữ liệu đònh lượng (bảng hỏi): Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm
SPSS version 13.
- Các dữ liệu đònh tính (phỏng vấn sau): Phân loại, sắp xếp và so sánh các
thông tin thu thập được theo đề mục đã đònh sẵn.
6. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Nghiên cứu tập trung phân tích vào các loại hình hoạt động bảo vệ rạn san hô
mà người dân đòa phương tham gia cùng với hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến
sự tham gia này. Nghiên cứu không đi sâu phân tích các khía cạnh kỹ thuật của hoạt
động bảo tồn rạn san hô và công tác quản lý của Ban quản lý khu bảo tồn.
7. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
STT Nội dung thực hiện Thời gian
1 Thống nhất tên đề tài và các
nội dung chính của đề cương
với thầy hướng dẫn
Từ 25/9/2006 đến 30/9/2006
2 Thiết kế đề cương chi tiết bao
gồm nội dung bảng hỏi, bảng
kiểm, phỏng vấn sâu
Từ 1/10/2006 đến 15/10/2006
3 Liên hệ đòa phương tiến hành
của đường bay nội đòa Bắc-Nam.
1.1.2 Diện tích tự nhiên
Diện tích tự nhiên của Khánh Hòa gồm đất liền và hơn 200 đảo, quần đảo là
5.197 km
2
. Đòa hình tỉnh Khánh Hòa hẹp và thon ở hai đầu, có nơi chỉ rộng 10-15km,
nơi rộng nhất trên 60km với hai vùng đồng bằng là Diên Khánh và Ninh Hòa. Đất
nông nghiệp tương đối phì nhiêu, thuận lợi cho sản xuất các loại cây lương thực, cây
công nghiệp và cây ăn quả có giá trò cao.
1.1.3 Khí hậu
Nằm trong khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, Khánh Hòa chòu ảnh hưởng của
khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng khô ráo và ôn hòa, quanh năm nắng ấm, thường chỉ
có 2 mùa rõ rệt: mùa khô kéo dài 8-9 tháng và mùa mưa ngắn, chỉ trong 3-4 tháng.
Nhiệt độ trung bình hằng năm thường trên dưới 26
0
C, các tháng cuối năm và đầu
năm lạnh nhưng không rét buốt, mùa hè ít bò ảnh hưởng của gió Tây. Lượng mưa
cũng tương đối ít, trung bình năm 1.200 - 1.800mm.
SVTH: Lê Phương Thanh 17
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
1.1.4 Hệ thống sông ngòi
Sông ngòi ở Khánh Hòa không lớn, nhưng mật độ sông suối khá dày. Toàn
tỉnh có khoảng trên 40 con sông, trong đó có hai sông chính là sông Cái Nha Trang
(sông Cù) dài 79km và sông Cái Ninh Hòa (sông Dinh) dài 49km.
Sông Cái (sông Nha Trang) bắt đầu từ đỉnh Gia Lộ cao 1842m của dãy
Trường Sơn Nam, chạy dài 78 km, chảy qua các vùng Khánh Vónh, Diên Khánh rồi
đổ ra biển, với tổng lưu vực 1750 km
2
và lưu vực trung bình đo ở hạ lưu là
dân cư tương đối cao như Cam Ranh. Số dân và tỷ lệ dân số đô thò và nông thôn ở
Khánh Hoà thể hiện như sau:
Bảng 1: Phân bố dân cư ở tỉnh Khánh Hòa năm 2005
Đơn vò hành
chính
Số dân ở đòa phương (người) Tỷ lệ dân (%)
Số dân đô thò Số dân nông
thôn
Tỷ lệ dân đô
thò
Tỷ lệ dân
nông thôn
Nha Trang 269.000 72.000 78,9 21,1
Ninh Hoà 21.860 203.214 9,7 90,3
Vạn Ninh 20.164 105.702 16,0 84,0
Diên Khánh 20.631 120.074 14,6 85,4
Khánh Vónh 4.114 25.903 13,7 86,3
Cam Ranh 88.636 123.044 41,9 58,1
Nguồn: báo cáo Hiện trạng môi trường 2005 các đòa phương
SVTH: Lê Phương Thanh 19
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
1.2.2.2 Y tế
Trong những năm qua, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dân
luôn là một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã
hội của tỉnh Khánh Hoà. Điều này đã được chứng minh qua một số kết quả mà
ngành Y tế Khánh Hoà đã đạt được như: 95% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm vắcxin nay
đủ, tỷ lệ trẻ em bò suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi giảm từ 45% (năm 1993) xuống còn
29,7% (năm 2002). Đặc biệt ngành đã thực hiện đầy đủ các chương trình y tế quốc
gia về phòng, chống bệnh và các đại dòch, không để dòch bệnh lớn xảy ra.
năm trước. Nếu như các năm trước, nhắc đến các công trình xây dựng cơ bản lớn của
Khánh Hoà là nói đến các công trình cầu và đường Trần Phú nối dài. Nhưng nay,
nhiều công trình lớn khác đang được triển khai thi công và bứơc vào giai đoạn hoàn
thành như đường Nam Sông Lô – Cù Hin – sân bay Cam Ranh, đoạn nối đường Trần
Phú – Quốc lộ1A, … Những công trình này, khi hoàn thành, sẽ tạo nên diện mạo mới
về cơ sở hạ tầng và cảnh quan cho tỉnh Khánh Hoà.
Cấp thoát nước:
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòa phương. Công ty cấp thoát
nước Khánh Hoà những năm qua luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đáp
ứng nhu cầu sử dụng nước trong đời sống và sản xuất. Không dừng lại ở đó, ngành
đang tích cực triển khai hàng loạt dự án cấp nước mới nhằm xây dựng một mạng lưới
cung cấp, phân phối nước sạch thường xuyên, bảo đảm chất lượng tốt hơn trong
tương lai
Hệ thống cấp nước sinh hoạt được tính theo tiêu chuẩn 150 lít/người cho 90%
dân số, nước công nghiệp tập trung là 45m3/ha, nước công trình công cộng là 10%
nước sinh hoạt. Hệ thống thoát nước thải được xây dựng theo đường cống riêng và
tập trung tại các trạm xử lý.
Với những gì đã và đang đạt được, công ty Cấp thoát nước Khánh Hoà đã góp
phần quan trọng trong việc cải thiện đời sống nhân dân cũng như thúc đẩy nền kinh
tế Khánh Hoà phát triển nhanh, mạnh và bền vững.
Bưu chính viễn thông:
Theo số liệu tổng kết của ngành Bưu chính – Viễn thông Khánh Hoà, hàng
năm, đơn vò luôn hoàn thành kế hoạch và giữ tốc độ tăng trửơng bình quân
15,5%/năm. Năm 2002, doanh thu đạt trên 300 tỷ đồng, gấp 20 lần so với năm 1993
– năm đầu tiên của giai đoạn tăng tốc. Thành tựu nổi bật của ngành Bưu chính-Viễn
SVTH: Lê Phương Thanh 21
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
Thông Khánh Hoà trong thời gian qua là đã đón đầu, đi trước trong việc sử dụng
công nghệ, kó thuật mới, đồng thời đổi mới toàn diện trong công tác quản lý hoạt
Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí trung bình năm của khu vực là 26,5
0
. Nhiệt độ thấp nhất
vào tháng I, nóng nhất là tháng V, VIII. Đây là điều kiện lý tưởng để phát triển san
hô và du lòch sinh thái ở đây.
Mưa, độ ẩm, mây, nắng
- Mưa: vònh Văn Phong – Bến Gỏi là vùng ít mua nhất tỉnh Khánh Hòa, tổng
lượng mưa bình quân năm 1100 – 1300mm. Lượng mưa cao nhất là tháng X, XI
(314,1 – 314,4), thấp nhất là tháng IV (0,2mm).
- Độ ẩm: độ ẩm trung bình nhiều năm của khu vực là 80%. Độ ẩm trung bình
trong các tháng từ VIII – II là 83%, các tháng còn lại là 77%.
- Nắng: số nắng trung bình năm là 2000 – 2500h/năm. Tháng có giờ nắng lớn
nhất là 300,8 giờ (tháng V/1991), thấp nhất là 52,8 giờ (tháng XII/1995).
- Gió: mang đặc trưng của nhiệt đới gió mùa. Mùa gió ĐÔng Bắc hình thành
từ tháng XI – III, gió Tây Nam hình thành từ tháng VI – IX. Tuy nhiên do ảnh hưởng
của đòa hình đòa phương, vào mùa gió Đông Bắc có gió Tu Bông thổi dọc theo sườn
thung lũng từ Tu Bông ra phía biển (hướng Tây bắc), gió này kèm theo thời tiết khô,
lạnh.
Nằm trong dải ven biển trong vùng vònh Văn Phong còn tồn tại gió đất, biển.
Các hiện tượng thời tiết đặc biệt
- Bão: vònh Văn Phong – Bến Gỏi ít chòu ảnh hưởng của gió bão. Mùa bão bắt
đầu vào tháng X và kết thúc vào tháng XII, tập trung nhiếu nhất vào tháng XI. Số
SVTH: Lê Phương Thanh 24
Đồ án tốt nghiệp GVHD: Th.S Phạm Gia Trân
Tham gia cộng đồng trong hoạt động bảo vệ rạn san hô tại khu Bảo tồn Biển Rạn Trào…
cơn bão trung bình năm là 0,75 cơn. Bão thường gây sóng gió mạnh ở vùng ven biển,
mưa lớn ở đầu nguồn sông, gây ngập lụt, xói lỡ bờ biển…
- Dông: ít bò dông, thường xuất hiện vào tháng V và tháng IX. Các tháng này
số ngày dông trung bình 6-10 ngày/tháng, các tháng còn lại không quá 5 ngày/tháng.
Đặc trưng
thống kê
Tầng 0 m Tầng 10m Tầng đáy Toàn lớp
nước
Max 34,23 34,20 34,27 34,27
Trung bình 34,14 34,12 34,12 34,13
Min 34,07 34,02 34,02 34,02
SVTH: Lê Phương Thanh 25