i
TÓM TẮT
Hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam đang đối mặt với những thách
thức rất lớn trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Để vượt qua những thách
thức hiện tại, các ngân hàng cần phải giảm rủi ro đến mức tối thiểu, đồng thời phải
xây dựng tấm đệm vốn chủ sở hữu đủ dày để có thể an toàn vượt qua giai đoạn khủng
hoảng. Và đặc biệt hơn là gia tăng hiệu quả hoạt động lên mức tối đa. Như vậy, để
thoát khỏi cuộc khủng hoảng hiện tại một cách nhanh chóng thì ba yếu tố cần được
các ngân hàng chú trọng là hiệu quả, rủi ro và vốn chủ sở hữu.
Thông qua các phương pháp đánh giá hiệu quả hiện đại như phân tích bao dữ
liệu DEA (phương pháp phi tham số) và phân tích biên ngẫu nhiên SFA (phương
pháp tham số), chúng tôi đã đánh giá hiệu quả kỹ thuật của 26 Ngân hàng Việt Nam
trong giai đoạn 2007 – 2012 trong đó bao gồm 4 Ngân hàng Thương mại Nhà nước
(NHTMNN) và 22 Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP). Bằng việc phân
tích và so sánh, kết quả thu được cho thấy rằng các NHTMNN hoạt động hiệu quả
hơn các NHTMCP.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn đánh giá sự tăng trưởng hiệu quả kỹ thuật của từng
ngân hàng trong giai đoạn trên để thấy rõ tình hình hiện tại của các ngân hàng, đặc
biệt là trong giai đoạn khủng hoảng như hiện nay. Kết quả cho thấy trong thời kỳ
khủng hoảng, đặc biệt là năm 2010 đến 2012, hiệu quả của các ngân hàng giảm sút
rõ rệt và đó là phù hợp với tình hình thực tế bên ngoài.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phương pháp hồi quy ba giai đoạn (3SLS) để
đo lường mối quan hệ của hiệu quả kỹ thuật, mức độ rủi ro và vốn trong hệ thống
ngân hàng Việt Nam hiện nay.
Kết quả cho thấy hiệu quả và rủi ro cũng như vốn và rủi ro có mối quan hệ
cùng chiều với nhau, bên cạnh đó giữa hiệu quả và vốn có mối quan hệ nghịch chiền
với nhau.
ii
3.2.1. Tổng quan phương pháp đo lường mối quan hệ 20
3.2.2. Đo lường mối quan hệ bằng mô hình hồi quy ba giai đoạn (3SLS) 21
3.3. Mô hình nghiên cứu 22
3.4. Giả thuyết nghiên cứu 22
iii
3.5. Biến số nghiên cứu 23
4. Tổng quan hệ thống ngân hàng Việt Nam và kết quả nghiên cứu 29
4.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng Việt Nam 29
4.1.1. Vốn chủ sở hữu tại ngân hàng thương mại Việt Nam 29
4.1.2. Hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam 32
4.1.3. Rủi ro tại các ngân hàng Việt Nam 36
4.1.4. Việt Nam và hiệp ước Basel II 38
4.2. Kết quả nghiên cứu 41
4.2.1. Đo lường các biến 41
4.2.2. Kết quả đo lường hiệu quả kỹ thuật của hệ thống ngân hàng Việt Nam 41
4.2.3. Kết quả thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro, hiệu quả và vốn 51
5. Kết luận 62
5.1. Tổng kết đề tài 62
5.2. Định hướng phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam 63
5.2.1. Các giải pháp kiến nghị cho chính phủ: 63
5.1.2. Định hướng phát triển ngân hàng nhà nước Việt Nam đến năm 2020 63
5.1.3. Định hướng phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đến
năm 2020 64
5.3. Hạn chế bài nghiên cứu 68
5.4. Định hướng phát triển đề tài 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC v
nhà nước
NHTMCP
Ngân hàng thương mại
cổ phần
TE
Technical Efficiency
Hiệu quả kỹ thuật
PTE
Pure Technical Efficiency
Hiệu quả kỹ thuật thuần
STE
Scale Technical Efficiency
Hiệu quả kỹ thuật theo
quy mô
PROD
Productivity
Năng suất
LLPTL
Loan-loss provision as a
fraction to total loans
Dự phòng rủi ro tín
dụng trên tổng dư nợ
VOA
Volatility of ROA
Độ lệch chuẩn ROA
VOE
Volatility of ROE
Độ lệch chuẩn ROE
EFF
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng giả định tương quan giữa các biến 27
Bảng 3.2 Tóm tắt mô tả các biến sử dụng trong mô hình 27
Bảng 4.1: Phân loại ngân hàng theo vốn điều lệ 30
Bảng 4.2: So sánh chi phí hoạt động với các quốc gia khác 34
Bảng 4.3: Các yếu tố tác động rủi ro tín dụng trong ngân hàng 37
Bảng 4.4: Các yếu tố đầu vào và đầu ra trong đo lường hiệu quả kỹ thuật 42
Bảng 4.5: Tóm tắt phương pháp áp dụng cho các cách tính hiệu quả kỹ thuật 42
Bảng 4.6: Kết quả của tính hiệu quả kỹ thuật NHTM Việt Nam (2007-2012) 43
Bảng 4.7: Kết quả trung bình của các loại hiệu quả kỹ thuật 46
Bảng 4.8: Độ lệch chuẩn của các loại hiệu quả kỹ thuật 48
Bảng 4.9: Kết quả thay đổi kỹ thuật (PROD) 49
Bảng 4.10: Giá trị trung bình thay đổi kỹ thuật của các ngân hàng. 50
Bảng 4.11: Mô tả thống kê các biến nghiên cứu 51
Bảng 4.12: Bảng kết quả kiểm định độ tương quan đại diện cho 20 bảng kiểm định
độ tương quan trong từng mô hình 52
Bảng 4.13: Kết quả thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro, vốn và hiệu quả; trong
đó, tính hiệu quả được đo lường bằng TE. 53
Bảng 4.14: Kết quả thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro, vốn và hiệu quả; trong
đó, tính hiệu quả được đo lường bằng PTE 54
Bảng 4.15: Kết quả thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro, vốn và hiệu quả; trong
đó, tính hiệu quả được đo lường bằng STE 55
Bảng 4.16: Kết quả thực nghiệm về mối quan hệ giữa rủi ro, vốn và hiệu quả; trong
đó, tính hiệu quả được đo lường bằng PROD 56
Ngân hàng được xem là hệ thống tuần hoàn vốn đặc biệt quan trọng trong nền
kinh tế của quốc gia và toàn cầu. Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng là
một bộ phận không thể thiếu được với hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng và thanh
toán. Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song với đặc
điểm hoạt động riêng biệt này, ngành ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh đó, trong thời kỳ suy thoái mạnh mẽ
của nền kinh tế trong và ngoài nước thì vai trò của ngân hàng càng trở nên quan trọng
hơn bao giờ hết. Trong một nền kinh tế tăng trưởng chậm, dòng tiền lưu thông gặp
nhiều trở ngại thì ngân hàng sẽ phải phát huy vai trò cực kỳ quan trọng của mình là
nơi trao đổi, điều tiết lưu thông tiền tệ: đem nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu.
Thêm vào đó, ngân hàng còn đóng vai trò là một kênh điều tiết, thực thi các chính
sách tiền tệ của nhà nước đến nền kinh tế nhằm ổn định, kiểm soát thị trường. Như
vậy, trong thời kỳ kinh tế gặp nhiều khó khăn thì ngân hàng càng thể hiện vai trò “trái
tim” luân chuyển “máu” trong nền kinh tế.
Nếu tính từ năm 1990 khi hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời (Pháp lệnh Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
chính) chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một
cấp sang hai cấp thì hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ vừa hơn hai mươi năm hoạt
động. Với tuổi đời còn khá trẻ đó thì chắc chắn hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ gặp
nhiều khó khăn khi rơi vào những cuộc khủng hoảng. Thực tế hiện nay cho thấy rằng,
ngành ngân hàng đang phải đối mặt với những thách thức rất là to lớn. Những thách
thức đó đến từ hai phía: thứ nhất – ngoại tác, nền kinh tế, đặc biệt là thị trường tài
chính đang gặp phải những khó khăn nhất định trong cuộc đại khủng hoảng; thứ hai:
năng lực nội tại của ngân hàng không đủ mạnh để có thể đứng vững trước những khó
khăn đến từ thị trường. Đứng trên góc độ của một nhà quản lý ngân hàng thì chúng
ta rất khó thay đổi tác động của những yếu tố ngoại tác đến từ nền kinh tế vì khó khăn
này là thách thức của nền kinh tế toàn cầu chứ không riêng gì Việt Nam, những việc
chúng ta có thể làm là củng cố và phát huy sức mạnh nội tại của ngành ngân hàng,
nếu làm được điều đó thì chúng ta mới hy vọng sớm đưa nền kinh tế ra khỏi khó khăn.
2
liệu (Data Envenlopment Annalyst - DEA) và phương pháp phân tích biên ngẫu
nhiên (Stochastic Frontier Analysis – SFA)
3
Sau khi đánh giá được mức độ hiệu quả, chúng tôi áp dụng phương pháp bình
phương tối thiểu ba giai đoạn (Three-stage least square – 3SLS) để đo lường mối
quan hệ giữa ba yếu tố quy mô vốn, tính hiệu quả và mức độ rủi ro của ngành ngân
hàng.
1.5. Kết cấu bài nghiên cứu
Kết cấu toàn bài nghiên cứu bao gồm 5 phần chính:
- Phần 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu
- Phần 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các bài nghiên cứu trước
- Phần 3: Phương pháp nghiên cứu
- Phần 4: Áp dụng mô hình tại Việt Nam
- Phần 5: Kết luận
Trong đó, phần 1 sẽ cho thấy được mục tiêu tổng quát của bài nghiên cứu
thông qua các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra và những phương pháp luận được sử
dụng trong bài nghiên cứu bao gồm những phương pháp nào. Phần 2 đưa ra một cơ
sở lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro, vốn và hiệu quả được đúc kết từ các bài
nghiên cứu trước đây bên cạnh đó sẽ trình bày một cách chi tiết hơn về vấn đề này
qua mỗi bài nghiên cứu. Phần 3 sẽ lần lượt giới thiệu về phương pháp nghiên cứu.
Đến với phần 4, chúng tôi sẽ ứng dụng mô hình thực nghiệm tại Việt Nam. Đồng
thời, phác thảo một bức tranh toàn cảnh về tình hình thị trường ngân hàng trong những
năm gần đây, áp dụng các phương pháp trên để kiểm tra thực nghiệm về mối quan hệ
giữa ba yếu tố. Phần 5 sẽ đúc kết lại những nội dung quan trọng đã trình bày xuyên
suốt trong bài nghiên cứu, đồng thời đưa ra các kiến nghị, giải pháp cũng như định
hướng phát triển mở rộng cho bài nghiên cứu.
2. Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Phần 2 sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa mức độ rủi ro, quy mô
vốn và tính hiệu quả của ngành ngân hàng. Bên cạnh đó ở phần này cũng sẽ đưa ra
cách giảm số lượng vốn có chi phí sử dụng đắt đỏ.
Cũng từ nghiên cứu của Altunbas & cộng sự (2007), bằng chứng thực nghiệm
không chỉ cho thấy những ngân hàng kém hiệu quả có mức rủi ro tín dụng thấp hơn
mà còn có mức vốn cao hơn. Trong khi đó, lập luận được đưa ra phía trên là mối liên
hệ giữa hiệu quả và vốn cùng chiều với nhau.
2.1.3. Mối quan hệ giữa vốn và rủi ro
Như đã đề cập, cạnh tranh có thể đưa đến mức độ rủi ro gánh chịu cao hơn, do
đó cơ quan quản lý buộc các ngân hàng phải nắm giữ mức vốn lớn bằng cách quy
định mức vốn tối thiểu. Trái lại, những yêu cầu về việc nắm giữ vốn cao hơn của cơ
5
quan quản lý có thể được các ngân hàng phản hồi bằng cách gia tăng rủi ro danh mục
của mình.
Ở khía cạnh khác, giả thuyết về rủi ro đạo đức cho rằng những nhà quản lý
thường có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn khi mức vốn của ngân hàng thấp hơn.
Bằng chứng thực nghiệm từ hai nghiên cứu của Demsetz & cộng sự (1996) và Salas
& Saurina (2003) cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực của vốn lên mức độ rủi ro tín dụng
của các ngân hàng, kết quả này phù hợp với giả thuyết rủi ro đạo đức. Tuy nhiên,
cũng kiểm tra về tác động này, Shrieves & Dahl (1992), Editz & cộng sự (1998) và
Rime (2001) lại cho rằng những quy định về vốn có hiệu quả trong việc làm gia tăng
tỷ lệ vốn nhưng không làm cho rủi ro danh mục tăng lên. Nghiên cứu gần đây nhất
của Haq & Heaney (2012) tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ phi tuyến giữa vốn
và rủi ro tín dụng.
Tóm lại, giữa các nghiên cứu trước đây vẫn chưa có sự đồng nhất về vấn đề
gia tăng vốn có làm cho rủi ro gánh chịu của các ngân hàng giảm xuống hay không.
2.1.4. Mối quan hệ giữa rủi ro, hiệu quả và vốn
Kết hợp ba mối quan hệ nêu trên, chúng tôi đưa ra lập luận cho tác động của
vốn và hiệu quả lên hành vi chấp nhận rủi ro của ngân hàng như sau: Những ngân
hàng hiệu quả với mức vốn cao thường rơi vào tình trạng chủ quan, các khoản tín
dụng không được giám sát một cách chặt chẽ, do đó đưa đến mức rủi ro tín dụng cao
ngân hàng trong 134 quốc gia phi công nghiệp trong giai đoạn 1993-2004.
Kết quả: rủi ro phá sản thuận chiều với tình trạng tập trung của ngân hàng, tỷ lệ nợ
trên tài sản nghịch chiều với sự tập trung của ngân hàng, và khả năng sinh lợi thuận
chiều với tình trạng tập trung của ngân hàng.
Festic & cộng sự (2011) tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh chóng là một trong
những hiện tượng phổ biến trong những năm gần đây ở Trung và Đông Âu. Những
đánh giá hỗ trợ cho nhận định trên cho rằng tăng trưởng tín dụng và tổng số tài trợ có
sẵn có thể tổn hại đến hiệu suất của ngân hàng và làm xấu đi những khoản nợ xấu,
điều này có thể do tình trạng quá nóng của nền kinh tế ở các quốc gia này. Chu kỳ
hiệu suất của lĩnh vực ngân hàng và tăng trưởng hoạt động kinh tế cao là tín hiệu của
một nền kinh tế phát triển quá mức, do đó khi sự phát triển này chậm lại có thể dẫn
đến sự tăng tốc trong tăng trưởng tỷ lệ nợ xấu.
Haq & Heaney (2012) sử dụng thông tin của 117 tổ chức tài chính trong 15
quốc gia ở Châu Âu trên thời kỳ 1996-2010 để nghiên cứu về những nhân tố xác định
rủi ro ngân hàng, bao gồm: vốn, giá trị vốn điều lệ, hoạt động ngoại bảng, tỷ lệ chi
trả cổ tức và quy mô ngân hàng.
7
Kết quả: có mối quan hệ phi tuyến giữa vốn và rủi ro ngân hàng. Độ nhạy cảm của
rủi ro ngân hàng tăng lên đối với vốn ngân hàng và những hoạt động ngoại bảng; và
giảm xuống đối với giá trị vốn điều lệ. Nhưng trong suốt thời kỳ khủng hoảng, cả vốn
ngân hàng và giá trị vốn điều lệ đều tác động tiêu cực lên rủi ro ngân hàng.
2.2.2. Các nghiên cứu về tính hiệu quả
Fare & cộng sự (1994) phân tích về tốc độ tăng trưởng năng suất trong 17
quốc gia OECD trên thời kỳ 1979-1988. Phương pháp DEA được dùng để tính các
chỉ số năng suất Malmquist. Phương pháp này tách thành hai đo lường thành phần:
thay đổi kỹ thuật và thay đổi hiệu quả.
Kết quả: tăng trưởng năng suất ở Mỹ cao hơn một chút so với mức trung bình, do
thay đổi kỹ thuật. Tăng trưởng năng suất ở Nhật cao nhất trong mẫu, do thay đổi hiệu
quả.
và những ngân hàng thương mại thành phố hoạt động tốt hơn những ngân hàng
thương mại nhà nước.
Kết luận: sự tham gia sở hữu nước ngoài có tác động tiêu cực lên lợi nhuận trong dài
hạn, trong khi những dịch vụ đầu ra công chúng giúp nâng cao lợi nhuận ngân hàng
trong ngắn hạn. Những phát hiện nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng cho việc cải cách
ngân hàng trong tương lai ở Trung Quốc do hậu quả của khủng hoảng tài chính để
lại.
Delis & cộng sự (2011) xem xét về mối quan hệ giữa khuôn khổ quy định –
giám sát và năng suất của những ngân hàng trong 22 quốc gia trên thời kỳ 1999-2009.
Bài viết sử dụng phương pháp DEA để ước lượng chỉ số Malmquist kết hợp với hồi
quy bootstrap.
Kết quả: những quy định về vốn và giám sát hoạt động ngân hàng đã có tác động tích
cực lên năng suất ngân hàng.
Rouissi & Raoudha (2011) sử dụng kỹ thuật SFA để nghiên cứu về mức độ
hiệu quả của những ngân hàng thương mại trong nước so với những ngân hàng thương
mại nước ngoài ở Pháp. Tác giả phân tích hiệu quả lợi nhuận và hiệu quả chi phí
những hai loại ngân hàng này, bao gồm 62 ngân hàng trong nước và 40 ngân hàng
nước ngoài trong thời kỳ 2000-2007.
Kết quả: những ngân hàng nước ngoài có hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi nhuận cao
hơn những ngân hàng trong nước. So sánh chỉ số hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi
nhuận cho thấy những ngân hàng nước ngoài quản lý tốt hơn về hiệu quả lợi nhuận
chủ yếu là do hiệu quả chi phí cao hơn. Còn hiệu quả lợi nhuận của những ngân hàng
trong nước là do hiệu quả doanh thu cao hơn.
9
2.2.3. Các nghiên cứu về vốn
Shrieves & Dahl (1990) xem xét các tiêu chuẩn quy định về vốn có ảnh hưởng
đến sự huy động vốn cổ phần từ bên ngoài vào các ngân hàng hay không. Quy mô
mẫu được sử dụng bao gồm 753 quan sát (số lần phát hành cổ phần) trong suốt hai
năm 1986 và 1987.
Kwan & Eisenbeis (1997) sử dụng phương pháp hệ phương trình đồng thời
để đo lường mối quan hệ giữa hành vi chấp nhận rủi ro và hiệu quả hoạt động của
ngân hàng.
Kết quả: tính kém hiệu quả có tác động tích cực lên cả rủi ro tín dụng và rủi ro lãi
suất, ngoài ra nó cũng có tác động tích cực lên vốn.
Williams (2004) sử dụng phương pháp nhân quả Granger để nghiên cứu mối
quan hệ giữa vấn đề cho vay, hiệu quả chi phí và vốn của những ngân hàng tiết kiệm
Châu Âu trong giai đoạn 1990-1998.
Kết quả: chất lượng những khoản cho vay kém đối với những ngân hàng không được
quản lý tốt.
Berger & cộng sự (2006) phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu
quả ngân hàng bằng mô hình hệ phương trình đồng thời và sử dụng dữ liệu từ những
ngân hàng Mỹ.
Kết quả: những ngân hàng có cấu trúc vốn nghiêng về nợ nhiều sẽ làm giảm hiệu quả
của ngân hàng.
Altunbas & cộng sự (2007) sử dụng phương pháp hệ phương trình đồng thời
để nghiên cứu mối quan hệ giữa vốn, dự phòng rủi ro tín dụng và hiệu quả chi phí
cho những ngân hàng Châu Âu trong giai đoạn 1992-2000.
Kết quả: những ngân hàng với hiệu quả cao hơn có xu hướng gánh chịu mức độ rủi
ro cao hơn, trong khi những ngân hàng kém hiệu quả hơn có mức độ vốn cao hơn và
mức độ rủi ro tín dụng thấp hơn.
Deelchand & Padgett (2009) nghiên cứu về những yếu tố quyết định của hành
vi chấp nhận rủi ro và phân tích mối quan hệ với vốn và tính hiệu quả trong những
ngân hàng Nhật. Tác giả tập trung vào những ngân hàng hợp tác vì chúng đóng vai
trò quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng Nhật Bản, và sử dụng hệ phương trình đồng
thời để ước lượng mối quan hệ giữa rủi ro, vốn và tính kém hiệu quả trong mô hình
này, trong đó tác giả dùng phương pháp bình phương tối thiểu hai giai đoạn (2SLS)
để đo lường tính hiệu quả với dữ liệu bảng của 263 ngân hàng hợp tác Nhật trong thời
kỳ 2003-2006.
11
ro của các ngân hàng. Ở một khía cạnh khác, những ngân hàng có hiệu quả thấp có
xu hướng tham gia vào các hợp đồng rủi ro cao nhằm đạt được tỷ suất sinh lợi cao
hơn, đến lượt những ngân hàng có mức độ rủi ro cao phải gánh chịu các chi phí phát
12
sinh làm cho tính hiệu quả thấp. Cuối cùng, những ngân hàng hoạt động hiệu quả sẽ
cung cấp cho họ khả năng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn trong tương lai, tuy nhiên
những ngân hàng kém hiệu quả sẽ đưa đến một mức vốn thấp hơn.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nếu như phần hai đã nói đến các cơ sở lý thuyết đồng thời kết quả của các bài
nghiên cứu trước thì phần này chúng tôi sẽ trình bày rõ về phương pháp nghiên cứu
mà chúng tôi sẽ áp dụng nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng
tôi cũng giới thiệu mô hình, những giả thuyết nghiện cứu cũng như các biến số mà
chúng tôi sẽ sử dụng trong bài nghiên cứu.
3.1. Phương pháp đo lường tính hiệu quả
3.1.1. Tổng quan các phương pháp đo lường tính hiệu quả
Phân tích bao dữ liệu (Data Enveloping Analysis – DEA)
Phân tích bao dữ liệu (DEA) là phương pháp phi tham số dùng để đo lường
tính hiệu quả giữa các công ty với nhau. Phương pháp này giúp tạo ra một tập hợp
biên các công ty hiệu quả và so sánh nó với các công ty không hiệu quả để đo được
độ đo hiệu quả. Một điểm nổi bật của phương pháp DEA là nó cho phép kết hợp nhiều
đầu vào và nhiều đầu ra trong việc tính các độ đo hiệu quả. Theo DEA thì một công
ty hoạt động tốt nhất sẽ có chỉ số hiệu quả là 1, ngược lại công ty hoạt động kém hiệu
quả sẽ có giá trị nhỏ hơn 1.
Ưu điểm:
- DEA áp dụng được cả với biến định tính.
- DEA áp dụng được với mẫu nghiên cứu nhỏ.
- Kết quả thu nhận được từ kết quả DEA là một kết quả thực tế
Nhược điểm:
- DEA không tính đến yếu tố sai số hay nhiễu.
j
được xác định là tỷ số giữa một tổng đầu ra theo trọng số và một tổng
đầu vào theo trọng số.
14
Ký hiệu H = {1,2,…,s} là tập các yếu tố sản xuất (đầu vào) và K = {1,2,…,m}
là tập các đầu ra tương ứng. Nếu x
ij
, i , biểu thị số lượng đầu vào thứ i được sử
dụng bởi DMU
j
và y
rj
, r , biểu thị số lượng đầu ra r thu được. Với mỗi DMU có
thể xác định tổng đầu vào và tổng đầu ra dự tính theo trọng số, giả sử với DMU
j
đầu
vào dự tính và đầu ra dự tính như sau:
Đầu vào dự tính =
Đầu ra dự tính =
Trong đó:
hiệu quả tuyệt đối của DMU
j
: giá trị hiệu quả tuyệt đối của DMU
j
: giá trị hiệu quả tuyệt đối lớn nhất trong các DMU
Các bước thực hiện tính toán định mức bằng phương pháp phân tích đường bao cho
DMU
j
sẽ được thực hiện như sau:
- Lựa chọn bộ trọng số tốt nhất (u
j
, v
j
) để tính toán giá trị hiệu quả tuyệt đối
cho DMU
j
- Sử
dụng bộ trọng số (u
j
, v
j
) tính giá trị hiệu quả tuyệt đối cho các DMU khác,
từ đó tìm ra DMU có giá trị hiệu quả tuyệt đối cao nhất (
)
o
: DMU
j
đạt định mức
Các mô hình giải bài toán xây dựng định mức năng lượng bằng phương pháp
phân tích đường bao
- Mô hình CCR
Mô hình CCR được xây dựng với mục tiêu định hướng đầu vào hoặc định
hướng đầu ra trong điều kiện không xét đến tính quy mô của đơn vị. Mô hình CCR
sẽ tiến hành so sánh hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất sản phầm đầu
ra của các đơn vị với nhau, không phân biệt quy mô của đơn vị.
Bài toán tuyến tính trong mô hình CCR
Bài toán thiết lậu cho DMU
0
có dạng sau
Hàm mục tiêu: Max
Với
Hàm ràng buộc:
Hàm ràng buộc
Trong đó: biến số thực thể hiện mức hiệu quả của từng DMU (Giá trị định mức)
Vecto không âm ((
là trọng số của các biến)
X, Y ma trận các biến đầu vào và biến đầu ra
đầu vào và đầu ra của DMU
0
Mô hình CCR trong phương pháp phân tích đường bao là mô hình tính toán
giá trị định mức không xét đến quy mô của đơn vị. Trong mô hình CCR có thể thiết
lập với mục tiêu định hướng đầu vào hoặc định hướng đầu ra. Việc tính toán trong
mô hình CCR gồm hai bước: Thiết lập bài toán tuyến tính hoặc bài toán đối ngẫu từ
đó tìm kiếm các giá trị mục tiêu cho từng đơn vị tham gia thực hiện xây dựng định
16
mức; bước tiếp theo là tính toán và đề xuất các kiến nghị cải tiến cho các đơn vị chưa
đạt định mức
- Mô hình BCC
tại từng quy mô. Nói cách khác mô hình BCC tính toán định mức trong điều kiện
xét đến quy mô của các DMU.
Mô hình BCC trong phương pháp phân tích đường bao về nguyên lý tính toán cũng
tương tự như mô hình CCR, chỉ khác là trong mô hình BCC khi tính giá trị định mức
có xét đến tính quy mô của các đơn vị tham gia vào việc so sánh xây dựng định mức
Xây dựng mô hình bài toán tính toán giá trị cải tiến theo điều kiện định hướng
yếu tố cải tiến
Nhược điểm của mô hình CCR và mô hình BCC là khi đề xuất giá trị cải tiến
theo phương pháp hướng tâm nên đôi khi không phù hợp và thiếu tính khả thi trong
điều kiện thực tế. Do đó cần phải có những cải tiến cho bài toán trong mô hình CCR
và BCC sao cho sau khi tính toán thì các đề xuất cải tiến tập trung vào các biến cải
tiến (các biến có thể cải tiến), còn các biến khác (Các biến không thể cải tiến) sẽ cố
định không phải thay đổi.
- Bài toán cải tiến cho mô hình CCR
Bài toán CCR cải tiến: Min
Hàm ràng buộc
k= 1/m
: đầu vào k là đầu vào quan tâm đến phục
vụ cải tiến ( Các đầu vào có thể cải tiến được)
- Ràng buộc
: Đầu vào i là những đầu vào không quan tâm khi
cải tiến ( Các đầu vào cố định không thể cải tiến được.
- Bài toán cải tiến cho mô hình BCC
Hàm mục tiêu (BCC
0
) min
Ràng buộc:
- Ràng buộc
: đầu vào k là đầu vào có thể thay đổi, quan
tâm để phục vụ cải tiến
- Ràng buộc
: Đầu vào i là những đầu vào cố định không quan
tâm khi cải tiến.
3.1.3. Đo lường bằng phương pháp tham số SFA
o Ước lượng hiệu quả kỹ thuật.
Năm 1957, Farell đã đưa ra một mức độ đo lường hiệu quả kỹ thuật để phản
ánh khả năng của một đơn vị ra quyết định (hay một ngân hàng) đạt được đầu ra cực
đại từ một tập hợp đầu vào đã cho. Vì thực tế ta không biết được hàm sản xuất, do
vậy Farell gợi ý ước lượng hàm này từ số liệu mẫu sử dụng hoặc bằng công nghệ
là
vec tơ cột (K+1) chiều các tham số chưa biết mà ta cần ước lượng; và
là biến ngẫu
nhiên không âm, phản ánh phần phi hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất của các đơn vị
trong ngành.
Tỷ số của đầu ra quan sát đối với đơn vị thứ i so với đầu ra tiềm năng xác định
bởi hàm đường biên với véctơ đầu vào x
i
đã cho được dùng để định nghĩa hiệu quả
kỹ thuật của đơn vị thứ i:
H
t
= [(x
t
, y
t
) : x
t
có thể sản xuất y
t
]
Giả định rằng H
t
thoả mãn một số tiêu chuẩn nhất định để xác định hàm khoảng
cách đầu ra. Hàm khoảng cách đầu ra được xác định theo H
t
trong thời kỳ t như sau:
và
tương ứng là hàm khoảng cách theo đó các điểm sán
xuất được so sánh với công nghệ biên tại thời điểm t và t+1.
và
Trong đó
do sự thay đổi năng suất bắt nguồn từ sự thay đổi trong hiệu quả
kỹ thuật trong thời kỳ t tới t+1 với công nghệ thời kỳ t+1 được cho như sau:
Để tránh ngưỡng chuẩn một cách tủy tiện, chúng ta sẽ chỉ định chỉ số thay đổi
Chỉ số thay đổi năng suất Malmquist theo đầu ra có thể được phân rã thành: