LỜI MỞ ĐẦU
Bảo hiểm nói chung hay Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất
nghiệp, Bảo hiểm thương mại nói riêng đều mang lại nhưng lợi ích kinh tế - xã
hội thiết thực. Trước hết bảo hiểm góp phần ổn định tài chính cho người tham
gia trước tổn thất do rủi ro gây ra, đề phòng và hạn chế tổn thất gúp cho cuộc
sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân,
mỗi doanh nghiệp, góp phần ổn định chi tiêu của ngân ngân sách Nhà nước, còn
là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, góp phần
thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo
hiểm, bảo hiểm còn thu hút số lượng lao động nhất định của xã hội, là chỗ dựa
tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh Cao Bằng trực thuộc Bảo hiểm xã hội
Việt Nam là một trong những bộ phận nằm trong hệ thống của BHXH Việt
Nam. Qua 15 năm xây dựng và phát triển BHXH tỉnh Cao Bằng đã đạt được
những thành công lớn như: số thu và số người lao động tham gia BHXH tăng
lên hàng năm, nguồn chi trả được quản lý chặt chẽ, chi đúng chi đủ và kịp thời
đến tận tay người lao động tạo ra sự an tâm và tin tưởng cho người lao động
tham gia BHXH. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động BHXH tỉnh Cao Bằng
cũng gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế trong việc quản lý nguồn chi BHXH, vì
vậy việc tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý
nguồn chi của BHXH cho các đối tượng hưởng chế độ BHXH, đề xuất các giải
pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động chi trả để hoạt động
này ngày càng có hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế - xã hội ở
tỉnh Cao Bằng là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của các cán bộ công chức
ngành BHXH. Vì vậy trong thời gian thực tập tại BHXH tỉnh Cao Bằng tôi
chọn đề tài “Quản lý chi BHXH tại BHXH tỉnh Cao Bằng” làm đề tài viết
chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Kết cấu của chuyên đề ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và bảng kê các chữ viết tắt gồm có 3 chương:
1
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về BHXH và quản lý chi BHXH.
phải chi một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra
một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không muốn. Để điều hòa mâu thuẫn trên,
Nhà nước buộc cả giới chủ và thợ phải đóng một khoản tiền nhất định hàng
tháng được tính toán chặt chẽ dưa trên cơ sở xác suất xảy ra đối với người làm
thuê. Từ đó hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia.
Quỹ này còn được bổ sung từ NSNN khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho
người lao động khi gặp phải những biến cố bất lợi. Chính nhờ những mối quan
hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải, cuôc sống
của người lao động và gia đình họ ngày càng được ổn định. Người sử dụng lao
động cũng có lợi và được bảo vệ, sản xuất kinh doanh lại diễn ra bình thường,
tránh được những xáo trộn không cần thiết. Vì vậy, nguồn quỹ tền tệ này được
thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng, khả năng giải quyết những phát sinh
lớn của quỹ ngày càng cao.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ
trên được gọi là BHXH đối với người lao động. Như vậy BHXH là một trong
những biện pháp nhằm khắc phục khó khăn về tài chính của người lao động khi
họ gặp phải rủi ro và được coi là biện pháp hữu hiệu nhất. Có thể nói rằng sự
suất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên trong xã
hội đều cản thấy sự cần thiết phải tham gia vào hệ thống BHXH và sự cần thiết
3
phải tiến hành bảo hiểm cho người lao động. Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu
cầu và quyền của người lao động, được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu, một
trong những quyền lợi của con người như trong bản tuyên ngôn nhân quyền của
hội đồng liên hợp quốc họp thông qua ngày 10/12/1948 đã nêu: “Tất cả mọi
người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH”.
Ra đời thế kỷ 13 ở Nam Âu đến nửa cuối thế kỷ 19 có thể coi như là
một mốc phát triển của BHXH với hệ thống BHXH lớn đầu tiên của chính phủ
Đức dưới thời thủ tướng Bismasch. Năm 1850 ở Đức có nhiều bang lập quỹ ốm
đau và bắt buộc công nhân phải đóng góp để dự phòng khi mất thu nhập vì ố
đau, bệnh tật. Lúc này chỉ có người được hưởng bảo hiểm phải đóng góp. Năm
2. Khái niệm BHXH.
Từ sự cần thiết về BHXH người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về BHXH
nhưng cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào mà theo quan
niệm riêng của từng nước. Tuy vậy cơ bản khái niệm BHXH được hiểu:
“ BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao
động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập
trung do sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động nhằm bảo
đảm đời sống của người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã
hội” hoặc “BHXH là quá trình tổ chức, một quỹ tiền tệ tập trung tồn tích dần do
sự đóng góp của người lao động và gia đ ình họ khi gặp phải những biến cố làm
giảm hoặc mất thu nhập theo lao động”
Còn tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã định nghĩa: “BHXH là sự bảo vệ
của xã hội đối với tất cả các thành viên của mình thông qua một loạt các biện
pháp công cộng để đối phó với những khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng
hoặc giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi
già và chết, việc cung cấp y tế và trợ cấp cho những gia đình đông con”.
3, Bản chất chức năng của BHXH.
5
* Bản chất :
Với các cách hiểu về BHXH có thể khẳng định bản chất của BHXH được
thể hiện ở những nội dung sau :
- BHXH là nhu cầu tất yếu khách quan gắn liền với nền kinh tế hàng hóa
khi quan hệ thuê mướn, sử dụng lao động phát triển ở mức độ nhất định. Kinh
tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Có thể nói kinh tế nền
tảng của BHXH không vượt quá trạng thái của mối nước.
- Các biến cố được đảm bảo trong BHXH có thể là ngẫu nhiên như ốm
đau, tai nạn lao động Nhưng cũng có trường hợp không hoàn toàn ngẫu nhiên
như hưu trí, tuổi già, thai sản
- Thu nhập của người lao động bị mất do bị giảm hoặc bị mất sức lao
cũng góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội.
- BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái sản xuất, tăng
năng suất lao động cá nhân và từ đó tăng năng xuất lao động xã hội. Khi khoẻ
mạnh làm việc bình thường, người lao động sẽ có tiền lương, tiền công khi ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hoặc bị chết đã có BHXH bảo đảm thay
thế hoặc bù đắp một phần thu nhập quan trọng, do đó đời sống của bản thân và
gia đình họ luôn có chỗ dựa, luôn được bảo đảm. Chính vì vậy họ sẽ yên tâm
gắn bó với công việc, với nơi làm việc và tích cực lao động sản xuất, góp phần
tăng năng suất lao động cũng như tăng hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu
hiện như một đòn bẩy kinh tế, như động lực thúc đẩy người lao động.
- BHXH góp phần gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng
lao động, giữa người lao động với Nhà nước. Trên thực tế, người lao động và
người sử dụng lao động vốn có nhiều mâu thuẫn về tiền lương, tiền công, thời
gian lao động Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó được điều hoà và giải
quyết. Đặc biệt cả hai bên đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo
hiểm. Từ đó làm họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau. Đối với
Nhà nước, chỉ có BHXH là cách thức phải chi ít nhất nhưng hiệu quả nhất, giải
7
quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần
ổn định kinh tế, chính trị, xã hội.
4. Nguyên tắc của BHXH.
Để hoạt động có hiệu quả, đúng bản chất BHXH phải tuân theo những những
nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc số đông bù số ít.
- Nhà nước và người sử dụng lao động có trách nhiệm phải bảo hiểm xã
hội đối với người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự bảo
hiểm cho chính mình.
- Nguyên tắc kết hợp giữa bắt buộc và tự nguyện.
- Nguyên tắc tự hoạch toán độc lập BHXH với ngân sách nhà nước.
- Mọi người lao động đều có quyền hưởng BHXH khi bị giảm, mất khả
tại, hoạt động và phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững.
Bên tham gia BHXH gồm có người lao động, người sử dụng lao động và Nhà
nước (Trong một số trường hợp). Người lao động tham gia BHXH để bảo hiểm
cho chính mình trên cơ sở san sẻ rủi ro của một số đông người lao động khác.
Người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH là trách nhiệm của họ để bảo
hiểm cho người lao động mà họ sử dụng, đồng thời còn vì lợi ích của chính họ,
đó là bảo đảm cho quá trình sản xuất kinh doanh của họ không bị ảnh hưởng
khi phát sinh nhu cầu BHXH. Còn Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là
người bảo hộ cho các hoạt động của quỹ BHXH, bảo đảm giá trị đồng vốn và
hỗ trợ cho quỹ BHXH trong những trường hợp cần thiết.
Ngoài ra, Nhà nước tham gia BHXH còn với tư cách chủ thể quản lý,
định ra những chế độ, chính sách, định hướng cho hoạt động BHXH.
- Bên BHXH là bên nhận BHXH từ những người tham gia BHXH. Bên
BHXH thường là một số tổ chức (cơ quan, công ty ) do Nhà nước lập ra (ở
một số nước có thể do tư nhân lập ra) nhận sự đóng góp của người lao động,
người sử dụng lao động lập nên quỹ BHXH. Bên BHXH có trách nhiệm thực
9
hiện chi trả trợ cấp cho bên được BHXH khi có nhu cầu phát sinh và làm cho
quỹ BHXH phát triển.
- Bên được BHXH là người lao động tham gia BHXH và thân nhân của
họ theo quy định của pháp luật. Bên được BHXH được quyền nhận các loại trợ
cấp khi phát sinh những nhu cầu BHXH, để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do
các loại rủi ro được bảo hiểm gây ra.
Giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong kinh tế thị trường, bên
tham gia BHXH có thể đồng thời là bên được BHXH ( người lao động chẳng
hạn). Đối với người lao động độc lập, họ vừa là người tham gia BHXH vừa là
người được quyền hưởng BHXH vì họ đóng phí BHXH để bảo hiểm cho chính
họ.
5.2. Các chế độ BHXH.
Theo Công ước Quốc tế 102 của ILO ‘‘Công ước về quy phạm tối thiểu của bảo
6.1. Khái niệm quỹ BHXH:
Trong đời sống kinh tế- xã hội, người ta thường nói đến rất nhiều loại quỹ
khác nhau như: Quỹ tiêu dùng, quỹ sản xuất, quỹ dự phòng, quỹ tiền lương, quỹ
phúc lợi, quỹ tiết kiệm Tất cả những loại quỹ này đều có một điểm chung là
tập hợp các phương tiện tài chính hay vật chất khác cho những hoạt động nào
đó theo mục tiêu định trước. Quỹ lớn hay nhỏ biểu thị khả năng về mặt phương
tiện và vật chất để thực hiện công việc cần làm. Cũng theo quân niệm này, quỹ
BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH
hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho những người được
BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả
năng lao động hoặc bị mất việc làm.
Có thể nói việc làm hình thành quỹ BHXH là rất cần thiết. Lợi ích thiết
thân của người tham gia BHXH, dù theo loại hình nào (BHXH tự nguyện hay
bắt buộc) trong trường hợp gặp một loại rủi ro ngẫu nhiên xác định thì đươc cơ
quan BHXH trợ cấp kịp thời nhằm bù đắp một phần thu nhập bị suy giảm hoặc
bị mất. Ngoài ra cơ quan BHXH còn phải chi phí cho công tác quản lý bộ máy
11
từ Trung Ương đến địa phương. Do vậy quỹ BHXH ra đời là điều tất yếu để
trang trải những chi phí trên.
Hơn thế nữa BHXH hoạt động dựa trên cơ sở số đông bù số ít, tức là mọi
đối tượng tham gia đều phải đóng góp để hình thành quỹ. Từ đo quỹ BHXH có
thể thực hiện được phân phối lại thu nhập của họ, góp phần tạo sự cân bằng xã
hội kích thích người sử dụng lao động hăng hái sản xuất, gắn bó với công việc.
Đặc biệt khi quỹ BHXH đã được hình thành, nó tạo ra được nguồn vốn không
nhỏ đem đầu vào phát triển kinh tế trở thành một kênh huy động vốn quan
trọng cho nền kinh tế đồng thời quỹ BHXH cũng được mở rộng.
Quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng đồng thời cũng là một quỹ dự phòng.
Quỹ tiêu dùng thể hiện ở mục đích chi của quỹ BHXH cho những người được
hưởng BHXH, quỹ dự phòng thể hiện quỹ BHXH chỉ trả trợ cấp cấp khi rủ ro
xảy ra và người lao động có thể được hưởng trợ cấp ở thời điểm rất xa so với
Chi phí quản lý
Chi phí đầu tư
Trợ cấp
ngắn hạn
- Chăm
sóc y tế
- Ốm đau
- Thai sản
- Mai táng
Trợ cấp
dài hạn
- Mất sức
lao động
- Tuổi già
Tử tuất
Trợ cấp tai
nạn lao động
- Chăm sóc
y tế
- Mất sức
vĩnh viễn
- Trợ cấp
cho người
ăn theo
Trợ cấp
thất nghiệp
- Trợ cấp
cho người
thất nghiệp
cho hoạt động BHXH chắc chắn và ổn định.
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính nhưng cũng là một quỹ của hệ thống an
sinh xã hội với mục đích thực hiện chính sách xã hội. Do vậy với tư cách là quỹ
của người lao động, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận vì nguyên tắc hoạt
động của quỹ là cân đối thu - chi. Nhưng trên thực tế không phải lúc nào các
khoản đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động cũng đủ để bù
đắp cho các khoản chi của quỹ, có thể vì những nguyên nhân nào đó mà hệ
thống BHXH gặp khó khăn, ví dụ như nguồn thu không đủ chi trả, thiếu trụ sở,
điều kiện làm việc thì Nhà nước đều phải hỗ trợ thích đáng. Nếu Nhà nước
không thực hiện đúng vai trò của mình sẽ dẫn đến khủng hoảng nặng nề, nhất là
khủng hoảng pháp lý. Ví dụ, nếu chưa tính toán đầy đủ, pháp luật quy định tỷ lệ
thu nộp BHXH thấp so với nhu cầu, dẫn đến quỹ BHXH không đủ để chi trả
14
BHXH thì Nhà nước cần can thiệp hoặc là nâng cao tỷ lệ thu cho thích hợp,
hoặc là có sự hỗ trợ giúp quỹ BHXH để có thể vượt qua khủng hoảng.
6.3. Mục đích sử dụng quỹ BHXH:
Quỹ BHXH được hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết rủi
ro cho người tham gia, đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình
họ, giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho người sử dụng lao động, tiết kiệm chi
cho ngân sách nhà nước và ngân sách gia đình.
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho hai mục đích sau:
- Chi trả các chế độ BHXH (chi trợ cấp): thực hiện chi trả theo 9 chế độ mà
ILO đã khuyễn nghị các nước. Đây là khoản chi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
quỹ BHXH.
- Chi quản lý cho hệ thống thực hiện BHXH như tiền lương, chi đào tạo,
khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác.
II. QUẢN LÝ CHI BHXH.
1. Khái niệm chi BHXH.
Chi BHXH là việc các cơ quan Nhà nước (cụ thể là cơ quan BHXH) sử
dụng số tiền thuộc nguồn quỹ BHXH để dùng chi trả cho các hoạt động của
tiết giữa các chế độ BHXH trong quá trình chi trả.
Nếu quỹ BHXH được hình thành theo 2 loại quỹ: quỹ BHXH ngắn hạn,
quỹ BHXH dài hạn thì việc chi trả và quản lí chi sẽ cụ thể hơn. Quỹ BHXH
ngắn hạn như: Ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Nguồn
quỹ này sẽ được cân đối từng năm, thậm chí có thể hình thành ngay trong từng
doanh nghiệp để chi trả trực tiếp. Quỹ BHXH dài hạn được sử dụng để chi trả
cho các chế độ dài hạn như: hưu trí, tử tuất. Nguồn quỹ này phải đảm bảo cân
đối trong nhiều năm và dùng tài khoản cá nhân trong quá trình chi trả là sát thực
tế nhất. Phương thức này đảm bảo cho công tác chi trả sát thực tế và đúng mục
đích hơn. Đồng thời, còn tạo điều kiện cho người lao động thuộc mọi thành
phần kinh tế tham gia chế độ BHXH dài hạn.
16
Nếu quỹ BHXH được thành lập theo từng chế độ: quỹ ốm đau, thai sản,
hưu trí (hay còn gọi là quỹ BHXH thành phần), thì việc chi trả sẽ càng trở nên
đơn giản hơn và đảm bảo đúng mục đích. Nội dung chi trả gắn liền với nội
dung kinh tế, xã hội của từng chế độ hoặc từng nhóm chế độ. Chính vì vậy, mỗi
chế độ có thể hình thành một quỹ và mỗi loại quỹ sẽ được hạch toán độc lập,
bảo tồn và tăng trưởng quỹ. Phương thức này có ưu điểm là dễ dàng cân đối thu
chi từ đó góp phần xác định mức đóng và mức hưởng trong từng chế độ một
cách chính xác. Ngoài việc chi trả trợ cấp theo chế độ BHXH, quỹ BHXH còn
được sử dụng cho chi phí quản lí như tiền lương cho những người làm việc
trong hệ thống BHXH, khấu hao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số
khoản chi khác Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinh lợi. Mục đích
đầu tư quỹ BHXH là nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ.
Quá trình chi trả BHXH phải đảm bảo nguyên tắc chi đúng, chi đủ, chi kịp
thời. Đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện quá trình chi trả được thuận lợi và
đúng với qui định của các văn bản hướng dẫn chi các chế độ BHXH do BHXH
Việt Nam qui định trong điều lệ BHXH mà quốc hội ban hành.
Việc chi BHXH trước hết phải tuân theo nguyên tắc chi đúng đối tượng
tức là thuộc đối tượng nào thì chi cho đối tượng đó, thu ở chế độ nào thì chi cho
không quản lý trực tiếp đối tượng mà thông qua chủ sử dụng lao động để quản
lý ngày nghỉ hưởng các chế độ BHXH: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp. Thông qua UBND phường, xã để quản lý đối tượng hưu trí,
mất sức lao động, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đối tượng chế độ tử
tuất. Các đối tượng này cư trú ở tất cả các xã, phường… và ở các đơn vị lao
động trong cả nước.
a, Đối tượng thụ hưởng BHXH: Được chia làm hai nhóm
Nhóm 1: Người lao động đang tham gia BHXH là những người đang trực
tiếp tham gia BHXH, trong quá trình tham gia được hưởng các chế độ ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp. Đây là lực
18
lượng lao động chủ yếu sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội và cũng là nguồn
chủ yếu đóng góp quỹ BHXH. Đối tượng này nhìn chung có đặc điểm trẻ, khỏe
đang trong độ tuổi lao động và có tâm lý là không muốn mình thuộc diện hưởng
trợ cấp BHXH ngắn hạn, trừ trường hợp thai sản.
Nhóm 2: Bao gồm những người đã tham gia BHXH nay đến tuổi nghỉ
hưu, nghỉ hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng và các thân nhân trong trường hợp
người lao động đang tham gia hoặc đang thụ hưởng BHXH bị chết và thân nhân
đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng. Nhóm này có tâm lý ngược với
nhóm 1, chủ yếu là các đối tượng đã tham gia quá trình công tác, cống hiến cho
xã hội, ở nước ta trong số họ nhiều người đã từng tham gia vào hai cuộc kháng
chiến giành độc lập cho dân tộc và bảo vệ tổ quốc, nay nghỉ hưởng chế độ
BHXH; Tuổi cao sức khỏe gảm dễ mặc cảm và có yêu cầu được xã hội quan
tâm, phục vụ.
Ngoài ra, ở nước ta đối tượng hưởng chế độ BHXH được phân theo chế
độ BHXH, cụ thể:
- Chế độ trợ cấp ốm đau;
- Chế độ trợ cấp thai sản;
- Chế độ trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp;
- Chế độ trợ cấp mất sức lao động (từ ngày 01/01/1995 không áp dụng);
hội Việt Nam có quyết định số 99/QĐ/ BHXH ban hành biểu mẫu hồ sơ xét
hưởng các chế độ BHXH thống nhất trong toàn quốc. Trong quá trình thực hiện
còn một số vướng mắc, để công tác quản lý được tốt hơn ngày 24/6/1996 Tổng
Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có quyết định số 115/QĐ/BHXH kèm
theo quy định về hồ sơ xét hưởng các chế độ BHXH với nội dung quy định cụ
thể các loại hồ sơ, giấy tờ cần thiết để xét hưởng từng loại chế độ, tại quyết định
này đã quy định trách nhiệm lập hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội của các
bên tham bảo hiểm xã hội và cơ quan BHXH. Điều mới và các văn bản trước
đây là tất cả các vấn đề giải quyết về hưởng chế độ BHXH của người lao động
như tỉ lệ hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng Đều do Giám đốc BHXH các
20
tỉnh, thành phố thực hiện. Ngài ra còn có quy định về việc thẩm định hồ sơ đã
được giải quyết theo tháng, quỹ tại BHXH Việt Nam trước khi ban hành,đảm
bảo mức độ chính xác, chặt chẽ trong thực hiện chế độ chính sách BHXH, giảm
thấp nhất sai sót về chế độ.
Thực hiện việc cải cách thủ tục hành chính trong việc thực hiện chế độ
chính sách BHXH cho người lao động theo cơ chế “một cửa”, ngày 24/6/1999,
Tổng giám đốc BHXH Việt Nam đã có quyết định số 1584/1999/QĐ/BHXH về
việc ban hành quy chế hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng chế độ chính sách
BHXH đã bãi bỏ các quy định trước đây do còn nhiều bất cập, thủ tục còn nhiều
phiền hà. Việc giải quyết các chế độ BHXH được tập trung một đầu mối cho
người lao động, người sử dụng lao động từ khi tiếp nhận vào cho đến khi trả kết
quả là phòng chế độ, chính sách BHXH tỉnh thành phố trực thuộc trung ương.
Quyết định đã được quy định rõ quy trình xét duyệt thẩm định, cấp giấy chứng
nhận hưởng trợ cấp, hưởng hưu trí, quy định cụ thể việc quản lý và lưu trữ hồ
sơ (hai cấp). Quyết định này đã gắn chặt trách nhiệm tham gia đóng BHXH của
người sử dụng lao động với cơ quan BHXH.
2.2. Quản lý chi BHXH.
Việc quản lý chi trả các chế độ BHXH là một khâu rất quan trọng trong
quy trình quản lý quỹ BHXH, là công việc mang ý nghĩa kinh tế, chính trị và xã
tử tuất cho đối tượng hưởng BHXH trên địa bàn quản lý.
- BHXH các cấp có trách nhiệm quản lý đối tượng hưởng BHXH theo
các chế độ quy định, theo dõi đối tượng tăng giảm (chuyển đến, chuyển đi, chết,
hết hạn hưởng…) Đảm bảo chi trả đúng kì, đủ số lượng, thuận tiện.
- Cơ quan BHXH có quyền từ chối chi trả BHXH cho các đối tượng đang
hưởng, khi kết luận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hồ sơ man trá, làm
giả hồ sơ, tài liệu.
b, Nhiệm vụ công tác chi.
* Ban quản lý chi- BHXH Việt Nam:
22
1) Hướng dẫn công tác nghiệp vụ chi trả 5 chế độ BHXH trên cơ sở các
văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước cũng như các văn bản quy định quản
lý của BHXH Việt Nam.
2) Hàng năm xét duyệt và tổng dự toán chi các chế độ BHXH của địa
phương.
3) Hàng tháng lập bổ sung kế hoạch chi để thực hiện cấp phát cho địa
phương.
4) Hàng quí thẩm định quyết toán chi trả 5 chế độ BHXH các tỉnh.
5) Chỉ đạo đôn đốc, kiểm tra BHXH cấp dưới trong công tác quản lý tổ
chức chi trả cho người được hưởng BHXH (kiểm tra nguồn chi, các chứng từ
thanh toán cho người được hưởng.
6) Tổng hợp phân tích đánh giá rút kinh nghiệm đề xuất các biện pháp
quản lý để không ngừng cải tiến, hoàn thiện công tác quản lý nghiệp vụ chi.
* BHXH tỉnh, thành phố:
1) Chấp hành đầy đủ mọi thể lệ, quản lý chi các chế độ BHXH.
2) Hàng tháng lập danh sách chi trả cho các loại đối tượng.
3) Hàng tháng tiếp nhận quản lý kinh phí từ trung ương cấp để thực hiện
chi trả các chế độ BHXH và phân phối kinh phí đó trên cơ sở danh sách đối
tượng tỉnh lập chuyển cho BHXH huyện.
4) Hàng tháng, quỹ thẩm định chứng từ chi trả hai chế độ ốm đau, thai
- Tăng cường công tác kiểm tra:
+ Kiểm trả nguồn chi giao cho đại lý hoặc cá nhân.
+ Kiểm tra đối tượng chết và hết hạn hưởng để cắt giảm kịp thời.
- Từ 1/1/1998 đối tượng tham gia BHXH và hưởng BHXH đã được mở
rộng tới cán bộ chủ chốt các xã, phường, thị trấn là một điều kiện thuận lợi để
hệ thống tổ chức BHXH mở rộng các hoạt động của ngành trong đó có vấn đề
quản lý đối tượng và chi trả BHXH.
- Nắm được đối tượng di chuyển chỗ có thời hạn đến địa Phương khác vì
các lý do như thăm thân nhân, con cháu, đi nghỉ điều dưỡng, dưỡng sức trên ba
24
tháng, để tiến tới cải tiến việc nhận lương hưu, hoặc trợ cấp BHXH tại nơi mới
đến mà không cần phải có hộ khẩu thường trú.
2.3. Công tác kiểm tra.
Hoạt động BHXH là việc thực hiện chế độ chính sách của Đảng và Nhà
nước, vì vậy trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động BHXH cần phải đảm
bảo nguyên tắc kiểm tra, nhằm đánh giá và nắm bắt được kết quả thực hiện
nghiệp vụ, mặt khác kịp thời phát hiện những sai sót để khắc phục sửa chữa.
Đồng thời phát hiện biểu dương những điển hình, cơ quan BHXH tỉnh phải
thường xuyên kiểm tra tình hình chi trả các chế độ BHXH của các tổ chức đại
lý chi và có hình thức nhắc nhở các trường hợp chi trả chậm hoặc cố ý chây ì
chếm dụ vốn làm công việc khác, thường xuyên đối chiếu với các tổ chức chi
trả về các thông tin liên quan đến việc chi trả BHXH hưu trí, sự thay đổi về tiền
lương… việc kiểm tra, đối chiếu được tiến hành ngay trong nội bộ lẫn nhau và
được phòng kiểm tra của tỉnh thường xuyên kiểm tra giám sát công tác chi này.
Trong công tác kiểm tra phải thực hiện nghiêm túc công tác giải quyết khiếu nại
tố cáo của công dân về BHXH.
Qua nghiên cứu phương thức hoạt động BHXH ở một số nước cho thấy
ngay từ khi bắt đầu hoạt động, các tổ chức BHXH đều được tổ chức và hoạt
động theo luật BHXH, sau đó tùy theo yêu cầu thực tế luật BHXH sẽ được sửa
đổi bổ sung nhằm phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong