Những tiêu chí để đánh gía kết quả hoạt động ngoại thương và các tác động của nó tới những kết quả này - Pdf 18

A- LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ rất lâu, loài người chúng ta đã biết trao đổi những sản phẩm mà
mình tự sản xuất được cho nhau để thỏa mãn nhu cầu. Theo tiến trình của lịch
sử, nhu cầu của con người ngày càng tăng, sự trao đổi không chỉ diễn ra trong
những không gian nhỏ như một huyện, một tỉnh hay một quốc gia mà giữa
các quốc gia với nhau. Đó chính là hoạt động ngoại thương. Và qua thực tế,
chúng ta biết được quá trình này làm cho các nước trao đổi hàng hóa cho nhau
đều có lợi và nó đã đóng góp một phần lớn vào thu nhập quốc dân. Người đầu
tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương là
A.Smith. Như chúng ta đã biết rằng các nhà kinh tế cổ điển cho đất đai là giới
hạn của tăng trưởng. Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sẳn xuất
trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tư bản
thì họ không sản xuất nữa. Trong điều kiện đó A,Smith cho rằng, có thể giải
quyết bằng cách phát triển sản xuất công nghiệp và sử dụng sản phẩm của
ngành này xuất khẩu để mua lương thực từ nước ngoài về. Như vậy thông qua
việc mua – bán trai đổi sản phẩm đã giải quyết được mặt hạn chế của tăng
trưởng.
Hoạt động này giữ một vị trí quan trọng, nó tạo điều kiện phát huy được
lợi thế của từng nước trên trường quốc tế. Kết quả hoạt động ngoại thương
của một nước được đánh giá qua cân đối thu chi ngoại tệ dưới hình thức “
Cán cân thanh toán xuất khẩu”, kết quả này sẽ làm tăng hoặc giảm thu nhập
của đất nước, do đó mà nó tác động đến tổng cầu của nền kinh tế.
Với những vai trò và ý nghĩa của hoạt động ngoại thương nhóm chúng
tôi đã thực hiện nghiên cứu về những kết quả đạt được của Việt Nam trong
những thời gian qua, qua đó đưa ra những giải pháp phù hợp.
Do điều kiện có hạn, lượng kiến thực tích lũy được còn hạn chế nên bài
viết của chúng tôi không tránh khỏi những sai sót. Rất mong được sự chỉ bảo
của cô giáo Nguyễn Thị Kim Dung và sự góp ý của các bạn.
Xin chân thành cảm ơn.
1
B- NỘI DUNG

cũng là đẩy mạnh xuất khẩu và giảm nhập khẩu. Nhưng đối với những nền
kinh tế còn chưa phát triển như Việt Nam thì nhập khẩu ở hiện tại là đòn bẩy
cho xuất khẩu ở tương lai.
Nhập khẩu trang bị cho nền kinh tế cơ sở vật chất ban đầu tốt nhất, tiếp
thu kĩ năng kĩ thuật công nghệ của thế giới để phát triển sản xuất trong nước.
Và như thế nền kinh tế có điều kiện mở rộng sản xuất để thay thế nhập khẩu
và tăng cường xuất khẩu trong tương lai. Việc xem xét cán cân thương mại
trong mối quan hệ với các chỉ tiêu kinh tế cũng là một tiêu chí để đánh giá kết
quả của hoạt động ngoại thương.
+ Hoạt động xuất nhập khẩu phải luôn luôn gắn liền với sản xuất trong
nước. Hoạt động xuất nhập khẩu có thực sự tác động tốt đến phát triển sản
xuất trong nước hay không cũng là một vấn đề lớn cần quan tâm.
+ Hoạt động xuất nhập khẩu có tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế
hay không? Có góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá không?
+ Hoạt động xuất nhập khẩu có góp phần tác động đến sự phát triển bền
vững của nền kinh tế không? Có góp phần giải quyết việc làm hay không?
 Về hoạt động xuất khẩu
Kết quả của hoạt động ngoại thương được đánh giá qua cơ cấu của xuất
khẩu. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu có phù hợp với đặc điểm của nền kinh
tế không, có phát huy được lợi thế so sánh của nền kinh tế không? Khi xem
xet cụ thể ta có thể xem xét qua các chỉ tiêu sau:
+ Tỷ trọng của các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo trong nền kinh tế.
+ Tỷ trọng của các mặt hàng xuất khẩu mới trong nền kinh tế.
+ Nguồn gốc đầu vào cho các mặt hàng xuất khẩu.
Nếu đầu vào cho các mặt hàng xuất khẩu là hàng nhập khẩu thì hàng
xuất khẩu kém sức cạnh tranh trên thị trường và chứng tỏ sức sản xuất trong
nền kinh tế còn yếu kém. Ở Việt Nam sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là sản
phẩm thô chứng tỏ ngành công nghiệp chế biến còn kém phát triển. Vì vậy
3
khi xem xét tiêu chí đánh giá kết quả ngoại thương cũng cần phải xem xét sự

lớn thì sự biến động của thị trường quốc tế ảnh hưởng rất lớn đến thị trường
trong nước. Do đó, Chính phủ cần có nhứng phương án dự phòng đề đối phó
với những cú sốc từ thị trường thế giới:
Gía dầu mỏ tăng, khủng hoảng tài chính Thái Lan… Còn những nước
có độ mở tương đối còn nhỏ thì những ảnh hưởng của biến động thế giới ít
ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế trong nước như Triều Tiên, Cu Ba….
Tuy nhiên, xu hướng hiện nay của kinh tế thế giới là hội nhập, các nước giao
lưu với nhau trên mọi lĩnh vực , đặc biệt là giao lưu trên lĩnh vực kinh tế: nền
tảng cho mọi giao lưu của các nước, các khu vực , các cộng đồng trên thế
giới.
Bên cạnh cán cân xuất nhập khẩu, một chỉ tiêu mà chúng ta rất quan
tâm là cơ cấu các giá trị xuất nhập khẩu. Trong việc xuất khẩu, chúng ta quan
tâm đến các mặt hàng xuất khẩu là gì, giá trị có cao không. Đối với các nước
đang phát triển, các loại hàng chủ yếu trong xuất khẩu là các loại hàng nông
sản, hàng may mặc, giầy da, thủy sản…. có giá trị không cao. Trong khi đó ,
các nước đang phát triển nhập khẩu các loại hàng có giá trị lớn như máy móc,
các sản phẩm đã qua chế biến, các nguyên liệu đầu vào đã qua chế biến
…. Điều này đã làm cho cán cân thương mại quốc tế của các nước đang
phát triển bị thâm hụt trầm trọng. Các nước phát trỉển thì ngược lại, các nước
này có cán cân thương mại quốc tế là xuất siêu do giá trị xuất khẩu lớn hơn
giá trị nhập khẩu . Điều này đã tạo nên sự mất cân bằng trong thương mại
quốc tế giữa các nước đang phát triển với các nước phát triển.
Trong cơ cấu của xuất nhập khẩu , chúng ta sẽ thấy một nền kinh tế đang
trong giai doạn nào. Đối với các nước phát triển luôn luôn cố gắng duy trì
việc xuất khẩu các mặt hàng có giá trị cao , luôn muốn giữ lợi thế trong việc
5
giao lưu với các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển luôn có xu
hướng giảm xuất khẩu các mặt hàng có giá trị thấp, tăng xuất khẩu các mặt
hàng đã qua chế biến, có giá trị cao để tăng tiếng nói của các nước trong thị
trường thế giới. Điều này đã ảnh hưởng đến cán cân thương mại quốc tế, đến

chế những mặt hàng xuất khẩu mà không thực sự cần thiết : hạn ngạch
xuất nhập khẩu. Đây là một công cụ mà giúp ích rất nhiều trong việc hoạch
định khối lượng hàng nhập khẩu . Một cách mà các nước hay dùng trong quá
trình hội nhập ngày càng rộng mở.
II- Kết quả của hoạt động ngoại thương ở Việt Nam từ năm 2001
đến nay.
1- Những thành tựu đạt được.
III . Kết quả hoạt động ngoại thương ở Việt Nam từ 2001 đến nay
1. Thành tựu
-Với cơ chế chính sách thông thoáng và ngày càng được hoàn thiện ,
hoạt động xuất khẩu đã thu hút đông đảo các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế tham gia để đẩy nhanh tăng trưởng xuất khẩu trên cả nước .
Trang đó số công ty kinh doanh xuất khẩu trực tiếp tăng từ 37 công ty năm
1986 (thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới ) lên trên 35700 công ty hiện nay.
Kim ngạch xuất khẩu và các mặt hàng xuất khẩu ngày càng tăng. Nếu năm
1990, kim ngạch xuất khẩu mới đạt khoảng 2.4 tỷ USD thì đến năm 2005 đã
đạt 31.5 tỷ USD và trong 8 tháng đầu năm 2007 là 31.2 tỷ USD . Số mặt hang
xuất khẩu tăng từ 4 nhóm lên 40 nhóm hiện nay. Năm 2000 có 4 mặt hàng
tham gia “câu lạc bộ 1 tỷ đồng” thì đến năm 2005 là 6 mặt hàng và đến nay là
9 mặt hàng bao gồm : gạo 1.306 tỷ ; dầu thô 8.323 tỷ ; dệt may 5.802 tỷ ; giầy
dép 3.555 tỷ , đồ gỗ 1.904 tỷ ; thuỷ sản 3.364 tỷ ; cà phê 1.101 tỷ ; hàng điện
tử và linh kiện máy tính 1.308 tỷ , cao su 1.273 tỷ.
-Thị trường xuất khẩu của Việt Nam cũng có sự thay đổi đáng kể , mở
rộng ra khắp các châu lục . Hiện nay hàng hoá của Việt Nam có mặt trên 127
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status