tài liệu tham khảo NGữ văn 12 - Pdf 18

CHƯƠNG I
KIẾN THỨC LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM
A. . QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HỌC VIỆT TỪ NĂM 1945 ĐẾN
HẾT THẾ KỈ XX
I. VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945 – 1975
1. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội
– Nền văn học vận động và phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng.Hình thành kiểu nhà văn
mơí: Nhà văn– Chiến sĩ.
– Văn học Việt Nam giai đoạn này tồn tại và phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử đặc
biệt: chiến tranh ác liệt kéo dài 30 năm, miền Bắc xây dựng cuộc sống mới, giao lưu văn hoá bị
hạn chế.
– Do ảnh hưởng của chiến tranh nên nền văn học có đặc điểm riêng.
2. Các chặng đường phát triển và thành tựu chủ yếu
2.1. Chặng đường 1945 -1954: văn học thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp
– Nội dung: ca ngợi Tổ quốc và quần chúng cách mạng, kêu goị tinh thần đoàn kết, cổ vũ
phong trào Nam tiến.Văn học gắn bó sâu sắc với cuộc kháng chiến.
Tác phẩm tiêu biểu: Tây Tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Tố Hữu), Đất nước(Nguyễn Đình
Thi), Truyện Tây Bắc (Tô Hoài)
2.2. Chặng đường 1955 – 1964: văn học trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc và đấu tranh thống nhất ở miền Nam
– Nội dung: ngợi ca công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tình cảm sâu nặng
với miền Nam; đấu tranh thống nhất nước nhà ; tinh thần lạc quan, tin tưởng.
Tác phẩm tiêu biểu: Vợ nhặt (Kim Lân), Sông Đà (Nguyễn Tuân)
2.3. Chặng đường 1965 – 1975: văn học thời kì chống Mĩ cứu nước
– Nội dung: ca ngợi tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng .
Tác phẩm tiêu biểu: Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm), Rừng xà nu(Nguyễn
Trung Thành), Những đứa con trong gia đình(Nguyễn Thi)
3. Những thành tựu và hạn chế của VHVN từ cách mạng tháng Tám 1945 đến năm 1975:
* Thành tựu:
- Thực hiện xuất sắc nhiệm vụ lịch sử giao phó; thể hiện hình ảnh con người Việt Nam trong
chiến đấu và lao động.

hết thế kỉ XX.
B. CÁC TÁC GIẢ TIÊU BIỂU
I. HỒ CHÍ MINH
1. Vài nét về tiểu sử
– Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 (mất ngày 2 tháng 9 năm 1969),
xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước ở Nam Đàn, Nghệ An, một vùng giàu truyền
thống văn hóa và Cách mạng.
– Cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn bó với nước, với dân , với phong trào cách
mạng của các dân tộc tr5ên thế giới.
– Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà yêu nước và cách mạng vĩ đại của dân tộc, đồng thời là
một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào quốc tế cộng sản, là danh nhân văn hóa thế giới.
2. Sự nghiệp văn học
2.1. Quan điểm sáng tác
– Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách
mạng, Người khẳng định : “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên
mặt trận ấy”. Nhà văn phải có tinh thần xung phong như ngươì chiến sĩ. Nghĩa là văn chương phải
có chất ”thép”
– Người quan niệm văn chương phải có tính chân thật và tính dân tộc
- Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung,
hình thức của tác phẩm : “Viết cho ai?”(đối tượng), “Viết để làm gì ?”(mục đích) và “Viết cái
gì ?”(nội dung), “Viết như thế nào ?”(hình thức)…
2.2. Sự nghiệp văn học
– Văn chính luận : Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn Độc lập (1945), Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946)…
– Truyện và kí: Pa-ris (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Vi hành (1923)
– Thơ ca : Nhật kí trong tù, Thơ Hồ Chí Minh, Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh.
2.3. Phong cách nghệ thuật
a) Văn chính luận
- Ngắn gọn, tư duy sắc sảo.
- Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, hùng hồn, bằng chứng thuyết phục.

ca về nhân dân miền Nam; tự hào về con người Việt Nam. Tác phẩm: Chào xuân 6 7; Bài ca
xuân 6 8, Lá thư Bến Tre…
– Máu và hoa (1972 – 1977): tổng kết cuộc kháng chiến và niềm vui chiến thắng bằng
cảm hứng lãng mạn anh hùng. Tác phẩm : Vui thế hôm nay, Với Đảng mùa xuân, Nước non
ngàn dặm…
– Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999): thay đổi cảm hứng và bút pháp nhưng vẫn sâu
nặng tình cảm đối với Đảng, nhân dân, đất nước. Tác phẩm: Chân trời mới…
3. Phong cách nghệ thuật
*Về mặt nội dung, thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình – chính trị rất sâu sắc :
- Làm thơ trước hết là để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, cho lí tưởng của Đảng; đề tài và
nôị dung đều bắt nguồn từ các sự kiện cuả đời sống và lí tưởng cách mạng; thể hiện những tình
cảm lớn, ân tình đối với nhân dân, đất nước.
- Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi và cảm hứng lãng mạn. Cái tôi trữ tình là cái tôi công dân,
cái tôi nhân danh cộng đồng dân tộc; nhân vật trữ tình đại diện cho phẩm chất dân tộc, giai cấp;
cảm hứng chủ đạo trong thơ là cảm hứng lãng mạn: say mê lý tưởng, tin tưởng vào tương lai
đất nước.
- Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình ngọt ngào: xuất phát từ quan niệm thơ là tiếng nói đồng ý,
đồng chí, đồng tình và ảnh hưởng giọng Huế; giọng thơ tâm tình,tự nhiên, đằm thắm,chân
thành.
* Về mặt nghệ thuật, thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc. Vấn đề cốt lõi của cách mạng và đời
sống được Tố Hữu phản ánh theo truyền thống đạo lí của ông cha (truyền thống thuỷ chung
son sắt…). Tính dân tộc còn thể hiện ở thể thơ truyền thống (chủ yếu là lục bát); trong vận
dụng tục ngữ, ca dao, những lối nói dân dã; trong cách cảm, cách thể hiện.
* CÂU HỎI KIỂM TRA KIẾN THỨC:
1. Cho biết quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh.
2. Nhận xét về phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh.
3. Kể tên các chặng đường thơ và các tập thơ của Tố Hữu.
4. Cho biết phong cách nghệ thuật của Tố Hữu.
*Câu hỏi dành cho Hs khá:
? Vì sao nói Tố Hữu là nhà thơ trữ tình- chính trị? Phân tích khuynh hướng sử thi và

1. Hoàn cảnh sáng tác
- Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh; nhân dân ta vùng
dậy giành chính quyền.
- Ngày 28 tháng 8 năm 1945, Bác soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập tại tầng 2, căn nhà số
48, phố Hàng Ngang, Hà Nội.
- Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Bác đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại quảng trường Ba Đình, Hà
Nội, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
2. Mục đích sáng tác, đối tượng tiếp nhận:
a. Mục đích sáng tác:
Tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến; khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng
của dân tộc ta trên toàn thế giới.
b. Đối tượng tiếp nhận:
- quốc dân đồng bào.
- toàn thế giới.
- lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế đang mang dã tâm nô dịch nước ta.
3. Nội dung cơ bản
- Nêu nguyên lí chung về quyền bình đẳng, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con
người và các dân tộc.
- Tố cáo tội ác của thực dân Pháp.
- Tuyên bố độc lập.
4. Nghệ thuật
– Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực giàu sức thuyết phục;
– Ngôn ngữ chính xác, gợi cảm.
4
– Giọng văn linh hoạt
5. Ý nghĩa văn bản
– Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào
và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền
độc lập, tự do ấy.
– Kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do.

- Phần tiếp theo: ý nghĩa, giá trị to lớn của cuôc đời, sự nghiệp văn học của Nguyễn Đình
Chiểu.
- Phần kết: khẳng định vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc.
2.3. Nghệ thuật
– Bố cục chặt chẽ, các luận điểm triển khai bám sát vấn đề trung tâm.
– Cách lập luận từ khái quát đến cụ thể, kết hợp cả diễn dịch, quy nạp và hình thức "đòn
bẩy".
– Lời văn có tính khoa học, vừa có màu sắc văn chương vừa khách quan ; ngôn ngữ giàu
hình ảnh.
– Giọng điệu linh hoạt, biến hoá: khi hào sảng, lúc xót xa,
2.4. Ý nghĩa văn bản
Khẳng định ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời và văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu : cuộc
đời của một chiến sĩ phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc ; sự nghiệp
5
thơ văn của ông là một minh chứng hùng hồn cho địa vị và tác dụng to lớn của văn học nghệ
thuật cũng như trách nhiệm của người cầm bút đối với đất nước, dân tộc.
* CÂU HỎI KIỂM TRA KIẾN THỨC:
1. Cho biết hoàn cảnh ra đời văn bản.
2. Cho biết nội dung cơ bản và đặc sắc nghệ thuật của văn bản.
B. THƠ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỈ XX
I. Tây Tiến của Quang Dũng
1. Nhà thơ Quang Dũng
– Quang Dũng (1921 – 1988) tên thật Bùi Đình Diệm, quê ở Hà Tây.Trước 1945, ông
học ở Hà Nộị. Sau 1945, ông vào bộ đội, từng làm đại đội trưởng đoàn quân Tây Tiến (1947).
Sau 1954, làm biên tập ở nhà xuất bản văn học.
- Ông là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc…
– Thơ Quang Dũng mang vẻ đẹp phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa.Tác phẩm
tiêu biểu: Rừng Biển Quê Hương (1957), Mây Đầu Ô (1986)
2. Bài thơ Tây Tiến
2.1. Hoàn cảnh ra đời

. Nhiều tên đất lạ lẫm, gợi 1 vùng xa xôi, hẻo lánh: Sông Mã, Sài Khao, Mường Lát, Mường
Hịch, Pha Luông, Mai Châu
. Nhiều đèo dốc hiểm trở: khúc khuỷu , thăm thẳm ,heo hút
6
=> Sử dụng từ láy giàu chất tạo hình, gợi tả, gợi cảm, những câu thơ toàn thanh trắc => Một
bức tranh hoành tráng với tất cả sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút của núi rừng miền
Tây
. Nhiều vẻ hoang dại, bí ẩn, khắc nghiêt: Với mưa rừng, “Sương lấp đoàn quân mỏi”, “Thác
gầm thét”, “Cọp trêu người.”
- Hình ảnh đoàn quân Tây Tiến trong đoạn thơ :
+ Đó là những chiến sĩ anh hùng bất khuất không quản ngại vượt qua bao chặng đường gian
khổ , bao nhiêu hi sinh mất mát lớn lao: Nổi bật chất bi tráng.
+ Nhưng đó còn là những chàng trai hào hoa lãng mạn tinh nghịch với bao hăm hở khám phá,
chinh phục.
- Hai câu kết đoạn thơ : “ Nhớ ôi nếp xôi”=> Gợi không khí đầm ấm tình quân dân, như xua
đi bao mệt mỏi của cuộc hành trình,tạo cảm giác êm dịu, ấm áp, chuẩn bị tâm thế cho đoạn sau
b/ Đoạn 2: Nhớ về nhũng kỉ niệm đẹp - một vùng kí ức mĩ lệ, thơ mộng, trữ tình
+ Cảnh một đêm liên hoan văn nghệ: Những chàng trai Tây Tiến cùng những cô gái miền Tây
như hoà quỵên trong một không gian lãng mạn với
2. Đường nét uyển chuyển, man dại
3. Không khí sôi nổi, tình tứ
4. Âm thanh sắc màu hoà quyện
=>Cảnh vật và con người như hoà trong men say, tình tứ, ngây ngất, rạo rực,tình quân dân
thắm thiết.
+ Cảnh sông nước miền Tây hoang sơ, mênh mang huyền ảo: “ Người đi Châu Mộc Hoa đong
đưa”
- Không gian dòng sông trong một buổi chiều sương huyền ảo, thơ mộng vừa hoang dại như
một bờ tiền sử-> Gợi sắc màu cổ tích huyền thoại.
- Nổi bật lên trên nền không gian ấy là dáng hình mềm mại uyển chuyển của cô gái miền Tây
trên chiếc thuyền độc mộc.

Câu 2. Hình ảnh thiên nhiên miền Tây ?
Câu 3. Chân dung người lính Tây Tiến ?
☺ THAM KHẢO:
* PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN
Nhắc đến Quang Dũng, độc giả không chỉ nhớ tới Tây Tiến như một kỉ niệm đẹp mà còn
gợi nhớ về hình ảnh xứ Đoài mây trắng : Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm (Đôi mắt người Sơn
Tây) – quê hương của nhà thơ – Phượng Trì, Đan Phượng, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Quang
Dũng đã mang “cái hào hoa của người Hà Nội và của cả xứ Đoài” ấy để làm nên chất men say
lãng mạn ở Tây Tiến cùng nhiều bài thơ khác của ông.
Đặc biệt, hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa của Quang Dũng được
thăng hoa ở Tây Tiến, nhất là đoạn thơ sau : …
1 – Một Tây Tiến dữ dội, hùng vĩ (Sông Mã xa rồi … mùa em thơm nếp xôi)
Cảm hứng bao trùm bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ. Mở đầu bài thơ là tiếng gọi thân
thương trìu mến hướng về Tây Tiến : “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !”. Sau tiếng gọi ấy chính là
nỗi nhớ Tây Tiến dạt dào cảm xúc :
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
“Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ khó định hình, khó nắm bắt nó nhẹ tênh bay bỗng nhưng nặng vô
cùng. Từ “chơi vơi” hợp với vần “ơi” ở câu trên đạ tạo âm hưởng lan toả. Nỗi nhớ ấy như vươn
theo thời gian, trải rộng với không gian và thấm vào lòng người.
Tây Bắc là nơi in đậm bao gian khổ, niềm vui, nỗi buồn của những người chiến sĩ, là
nơi mà Quang Dũng từng đi qua. Nỗi nhớ rừng núi với Quang Dũng đã bắt đầu bằng những
cuộc hành quân :
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường lát hoa về trong đêm hơi
Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi ấn tượng về vùng đất xa xôi, hoang sơ. Âm điệu
câu thơ “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” như chùng xuống, đều đều, gợi lên sự mệt mỏi,
bải hoải làm ta tưởng chừng như đoàn quân sắp ngã, sắp chìm trong sương mù dày đặc. Thế
nhưng đến câu sau âm điệu như vút lên cao bởi câu thơ hầu hết là thanh bằng : Mường Lất hoa
về trong đêm hơi”. Đó là hình ảnh hoa rừng hiện ra trong sương mù, thật mơ mộng và lãng
mạn. “Hoa về” là một cách nói đa nghĩa, thể hiện sự táo bạo và mang đậm phong cách lính…

vô cùng cao đẹp vì hạnh phúc của mọi người. Hình ảnh thật là vừa bi vừa hùng.
Tuy nhiên, cũng có những giây phút đoàn quân cảm nhận được sự thư thái và niềm vui
của đời lính. Đó là niềm vui khi chinh phục được núi cao, rừng thẳm, là sự phát hiện rất đặc
biệt về độ cao : Heo hút cồn mây súng ngửi trời. Đặc biệt, giữa mạch thơ tập trung diễn tả cái
dữ dội tột đỉnh của thiên nhiên, lại hiện ra một ánh nhìn vô cùng bay bổng của người lính Tây
Tiến : Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ toàn thanh bằng như toát lên một tiếng thơ
phào nhẹ nhõm của người lính sau chặng đường vượt dốc vất vả.
Vượt qua núi rừng, đoàn quân đến với những bản làng. Nơi đó, người lính ngập tràn
hạnh phúc giữa tình quân dân ấm áp với những hương vị đặc trưng của miền Tây :
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Khép lại đoạn thơ, người đọc hình dung rất rõ về một cuộc hành quân gian nan nhưng
đầy tinh thần lạc quan và lãng mạn của đoàn quân Tây Tiến. Với cảm hứng lãng mạn, thủ pháp
đối lập được khai thác triệt để, đoạn thơ đã khắc hoạ được vẻ hoang vu, dữ dội của núi rừng
Tây Bắc và hình ảnh vừa bi vừa hùng của người lính Tây Tiến cũng như những kỉ niệm ấm áp
tình quân dân trong kháng chiến chống Pháp.
2 – Một Tây Tiến thơ mộng, trữ tình (Doanh trại … đong đưa)
Khác với đoạn thơ phía trên, đến đoạn thơ thứ hai này, hình ảnh thơ không còn dữ dội
mà đậm màu sắc trữ tình, thơ mộng với hai bức tranh, hai khung cảnh khác nhau : buổi liên
hoan ở doanh trại và cuộc tiễn đưa trong một chiều sương. Giọng thơ vì thế cũng chuyển từ
nặng nề sang rộn vui và có lúc sâu lắng thiết tha.
Bốn dòng thơ đầu tái hiện những kỉ niệm về tình quân dân thắm thiết trong đêm
liên hoan văn nghệ nơi bản làng mà đoàn quân Tây Tiến dừng chân nghỉ. Đoạn thơ đã
đem đến cho người đọc ấn tượng về không khí hội hè rộn ràng vui vẻ, cái nhìn chiêm ngưỡng,
say sưa mà đa tình của lính Tây Tiến trước vẻ đẹp phương xa xứ lạ,
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Đuốc hoa là cây nến thắp lên trong phòng tối tân hôn. Truyện Kiều có câu : “Đuốc hoa

Ngàn lau cười trong nắng
Hồn của mùa thu về
Hồn mùa thu sắp đi
Ngàn lau xao xác trắng.
(Lau mùa thu – Chế Lan Viên)
Trong hai bức tranh, hai khung cảnh ấy, người lính hiện ra với tâm hồn lạc quan, yêu
đời của người lính. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học
sinh, sinh viên nên sự lạc quan, yêu đời đã sẵn có trong tâm hồn họ. Hơn nữa, sống đời lính
bôn ba thì ít nhiều họ cũng hay mơ mộng, đa tình. Những tâm hồn nhạy cảm đó bắt gặp những
cảnh tưng bừng, hay cảnh sông nước hữu tình thì hỏi sao tâm hồn người lính không xao xuyến
rung động.
Tây Tiến của những buổi liên hoan văn nghệ quân dân, của những chiều sương mơ hồ
bảng lảng đã để lại cảm giác nhung nhớ, bâng khuâng trong lòng người. Khác với đoạn thơ thứ
nhất, ở đây Quang Dũng chủ yếu sử dụng những nét vẽ mềm mại, tinh tế, cái tinh tế toát ra từ
“cốt cách hào hoa phong nhã và một thi tài hiếm có” (Trinh Đường).
3 – Một tượng đài người lính Tây Tiến bất tử với thời gian (Tây Tiến đoàn binh … độc
hành)
Trước hết, hình tượng người lính Tây Tiến được khắc hoạ bằng một nét vẽ chân dung
rất gân guốc, lạ hoá và phi thường :
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Nhưng đó là cái lạ hoá, gân guốc bắt nguồn từ hiện thực đến từng chi tiết. Không mọc
tóc là hậu quả của trận sốt rét rừng. Rồi trải qua nơi rừng thiêng nước độc, gian khổ thiếu thốn,
thuốc men không có. Quân xanh màu lá cũng là thực tế hiển nhiên. Nhiều bài thơ chống Pháp
từng nói tới hiện thực này.
_ Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ.
(Tố Hữu)
_ Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt rung người vầng trán ướt mồ hôi”

ngày trở về - Ra đi ra đi bảo tồn sông núi – Ra đi ra đi thà chết không lùi…). Tinh thần “nhất
khứ bất phục phản” ngàn đời ấy đã trở thành lí tưởng, khát vọng của người chiến sĩ Tây Tiến.
Đoạn thơ thứ ba khép lại bằng sự hi sinh của người lính :
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Quang Dũng không hề né tránh hiện thực khắc nghiệt, dữ dội. Trên chặng đường hành
quân, nhiều người lính không thể vượt qua đã vĩnh viễn gục lên súng mũ bỏ quên đời . Dọc
đường Tây Tiến cũng là vô vàn nấm mồ liệt sĩ mọc lên Rải rác biên cương mồ viễn xứ. Tuy
nhiên, ấn tượng để lại với người đọc là cái đẹp trong tâm tưởng của họ. Họ đều là những chiến
tướng ngày xưa rực rỡ với chiếc áo bào :
Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào áo gió thu
(Chinh Phụ Ngâm).
Cái chết đã được sang trọng hoá lên để xứng với ngoại hình, nội tâm và lí tưởng của họ.
Về đất là cách nói giảm nhằm thể hiện sự ra đi thanh thản của người lính sau khi làm tròn trách
nhiệm người trai. Cái chết của họ như thiêng liêng và động đến cả đất trời : Sông Mã gầm lên
khúc độc hành. Câu trên nhẹ nhàng, thanh thản, kìm nén. Câu dưới dữ dội, gào thét. Tất cả nội
lực câu thơ đều dồn xuống từ gầm và gợi ra một âm hưởng thật bi tráng cho đoạn thơ.
Cả đoạn thơ như một khúc ca mang âm điệu bi tráng về tượng đài người lính Tây Tiến.
Những câu thơ với hàng loạt các từ Hán Việt trang trọng, những hình ảnh phi thường đã làm
sống lại một thời oanh liệt của dân tộc ta.
11
Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc hoạ thành công
hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền tây hùng vĩ,
dữ dội và mĩ lệ. Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ
còn có sức hấp dẫn lâu dài đối với người đọc.
Tây Tiến (hoặc đoạn thơ trên nói riêng) rất tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ
Quang Dũng.
* PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ:
"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

họ không thể mọc được. Cũng vì sốt rét rừng mà da họ xanh như lá cây. Vẻ ngoài dường như
rất tiều tuỵ, nhưng thế giới tinh thần của người lính lại cho thấy họ chính là những người chiến
binh anh hùng, họ còn chứa đựng cả một sức mạnh áp đảo quân thù, họ dũng mãnh như hổ báo,
hùm beo. Cái giỏi của Quang Dũng là mô tả người lính với những nét khắc khổ tiều tuỵ nhưng
vẫn gợi ra âm hưởng rất hào hùng của cuộc sống. Bởi vì câu thơ "Tây Tiến đoàn binh không
mọc tóc" với những thanh trắc rơi vào trọng âm đầu của câu thơ như "tiến", "mọc tóc". Nhờ
những thanh trắc ấy mà âm hưởng của câu thơ vút lên. Chẳng những thế, họ còn là cả một
đoàn binh. 2 chữ "đoàn binh" âm Hán Việt đã gợi ra một khí thế hết sức nghiêm trang, hùng
dũng. Và đặc biệt hai chữ "Tây Tiến" mở đầu câu thơ không chỉ còn là tên gọi của đoàn quân
nữa, nó gợi ra hình ảnh một đoàn binh dù đầu không mọc tóc vẫn đang quả cảm tiến bước về
phía Tây. Thủ pháp tương phản mà Quang Dũng sử dụng ở câu thơ "Quân xanh màu lá dữ oai
12
hùm" không chỉ làm nổi bật lên sức mạnh tinh thần của người lính mà còn thấm sâu màu sắc
văn hoá của dân tộc. Ở đây, nhà thơ không chỉ muốn nói rằng những người lính Tây Tiến như
chúa sơn lâm, không phải muốn "động vật hoá" người lính Tây Tiến mà muốn nói tới sức
mạnh bách chiến bách thắng bằng một hình ảnh quen thuộc trong thơ văn xưa. Phạm Ngũ Lão
cũng ca ngợi người anh hùng vệ quốc trong câu thơ:
"Hoành sóc giang san cáp kỷ thu -
Tam quân tì hổ khí thôn ngưu"
Và ngay cả Hồ Chí Minh trong "Đăng sơn" cũng viết
"Nghĩa binh tráng khí thôn ngưu đẩu
Thề diệt sài lang xâm lược quân"
Có thể nói Quang Dũng đã sử dụng một môtíp mang đậm màu sắc phương Đông để câu thơ
mang âm vang của lịch sử, hình tượng người lính cách mạng gắn liền với sức mạnh truyền
thống của dân tộc. Đọc câu thơ: "Quân xanh màu lá dữ oai hùm" ta như nghe thấy âm hưởng
của một hào khí ngút trời Đông A.
Hình tượng người lính Tây Tiến bỗng nhiên trở nên rất đẹp khi Quang Dũng bổ sung vào
bức tượng đài này chất hào hoa, lãng mạn trong tâm hồn họ
"Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm"

lạnh, lại là "rải rác" nơi "viễn xứ", những nấm mồ ấy càng gợi sự cô đơn côi cút. Quang Dũng
muốn nói tới nơi yên nghỉ của những người đồng đội
"Anh bạn dãi dầu không bước nữa
13
Gục lên súng mũ bỏ quên đời"
Trong Chinh phụ ngâm:
"Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt nào ai gọi hồn"
Tuy nhiên với câu thơ thứ hai, ta lại thấy hình ảnh những nấm mồ rải rác nơi biên cương đã
trở về với sự ấm cúng của niềm biết ơn của nhân dân, của đất nước. Bởi đó chính là nấm mồ
của những người con anh dũng
"Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh"
Đồng thời cũng chính câu thơ sau đã làm cho những nấm mồ rải rác kia được nâng lên
những tầng cao của đài tưởng niệm, của Tổ quốc đối với người lính đã vì tiếng gọi của chiến
trường mà hiến dâng tuổi xanh của mình. Trong thơ Quang Dũng luôn là một sự nâng đỡ nhau
của nhiều hình ảnh như vậy.
Sự hy sinh của người lính còn được tráng lệ hoá trong câu thơ
"Áo bào thay chiếu anh về đất"
Bao nhiêu thương yêu Quang Dũng đều dành để thể hiện trong một câu thơ viết về sự hi
sinh của đồng đội mình. Ai bảo Quang Dũng không xót thương những người đồng đội đã ra đi
trong cách tiễn đưa ấy, cảnh tiễn đưa với bao thiếu thốn, khó khăn, cái thuở những người lính
Tây Tiến chết vì sốt rét nhiều hơn chết vì chiến trận. Lại trong cảnh kháng chiến còn rất khó
khăn nên tiễn đưa người chết không có cả một chiếc quan tài. Hoàng Lộc trong "Viếng bạn"
cũng đã viết về cảnh tiễn đưa như thế
"Ở đây không manh ván
Chôn anh bằng tấm chăn
Của đồng bào Cứa Ngàn
Tặng tôi ngày sơ tán"

a. Khung cảnh chia tay
Cuộc chia tay kẻ ở- người đi chung nhau nỗi nhớ, mỗi người biểu hiện nỗi nhớ theo cách
riêng của mình:
+ Kẻ ở lại thương nhớ bật thành lời: “ mình về” câu hỏi của trái tim hỏi trái tim, chỉ có thể
lấy nghĩa tình mà đáp lại.
+ Trước nỗi niềm của kẻ ở, người đi im lặng, lắng nghe. Tư thế trữ tình sâu lắng để tri âm, để
“ tiếng ai” ngân vang trong mình, im lặng cũng là cách trả lời đồng tình, hợp lí.
+ Áo chàm ( hoán dụ) bình dị, chân tình
@ Tóm lại kẻ ở - người đi đều bịn rịn, lưu luyến.
b. Vẻ đẹp của cảnh núi rừng và con người Việt Bắc:

- Cảnh vật núi rừng Việc Bắc hiện lên với vẻ đẹp vừa hiện thực vừa mơ mộng:
“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”.
+ Nỗi nhớ Việc Bắc được so sánh “như nhớ người yêu”
à Nỗi nhớ thật da diết, mãnh liệt, cháy bỏng.
+ Điệp từ “nhớ” được đặt ở đầu câu
à như liệt kê ra từng nỗi nhớ cụ thể: nhớ ánh nắng ban chiều, ánh trăng buổi tối, những
bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đêm khuya, những núi rừng, sông
suối mang những cái tên thân thuộc.
=> Nỗi nhớ bao trùm khắp cả không gian và thời gian.
- Đẹp nhất trong nỗi nhớ là sự hoà quyện thắm thiết giữa cảnh với người:
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

bào, tình yêu thiên nhiên, đất nước.
3. Nghệ thuật
Bài thơ đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu: thể thơ lục bát, lối đối
đáp, cách xưng hô mình - ta, ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi
4. Ý nghĩa văn bản
Bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.
B. CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1. Nêu hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc ?
Câu 2. Chứng minh rằng Việt Bắc là bài thơ đậm đà tính dân tộc ?
Câu 3.Hình ảnh con người Việt Bắc trong kháng chiến ?
Câu 4.Thiên nhiên thơ mộng của núi rừng Việt Bắc qua đoạn thơ :
“Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người.
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Rừng thu trăng rọi hoà bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”.
* PHÂN TÍCH ĐOẠN THƠ VIỆT BẮC
Ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử hào hùng của dân tộc, sau chiến thắng Điện Biên
Phủ chấn động địa cầu, Thủ đô Hà Nội rợp đỏ bóng cờ trong ngày hội non sông (10 – 1954),
bài thơ Việt Bắc là tiếng hát nghĩa tình sắt son thuỷ chung của mình với ta, của chiến sĩ, cán bộ,
đồng bào với chiến khu Việt Bắc, với cách mạng và kháng chiến, đối với Đảng và Bác Hồ.
Việt Bắc còn là khúc tráng ca anh hùng của một dân tộc thắng trận sau hơn ba ngàn ngày máu
lửa.
Bài thơ Việt Bắc mang tầm vóc một trường ca, dài 150 câu lục bát, vừa mang âm điệu
ca dao, dân ca đậm đà, vừa mang vẻ đẹp thơ ca cổ điển và thơ ca cách mạng dân tộc. Đặc sắc

chia tay kẻ ở người đi đầy bâng khuâng, lưu luyến :
Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Sắc áo chàm chất phát, đậm đà, quen thuộc gắn bó với đồng bào Việt Bắc giờ đây hiện
lên như một điểm nhớ thân thương trong lòng người ra đi qua cách sử dụng nghệ thuật hoán dụ
của nhà thơ. Tất cả đã làm trào dâng cảm xúc trong lòng người lên đường.
Người ra đi như đồng vọng thiết tha với cảm xúc thiết tha của người ở lại nên ngập
ngừng không nỡ bước chân :
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Các từ láy bâng khuâng, bồn chồn, tha thiết hài hoà đồng điệu với nhau để thể hiện cảm
xúc, vừa lưu luyến nhớ thương, vừa mong ngóng nôn nao. Những câu thơ gợi nhắc tới bao
cuộc chia tay muôn thuở trong thi ca :
Nhủ rồi tay lại cầm tay
Bước đi một bước giây giây lại dừng
(Chinh phụ ngâm).
Nhà thơ đã sử dụng thành công nhịp ngắt linh hoạt của thơ lục bát để gợi ra khung
cảnh và ấn tượng, cảm xúc cuộc chia tay : Áo chàm đưa/ buổi phân li; Cầm tay nhau/ biết nói
gì/ hôm nay… Như hiển hiện sau câu chữ là động thái trữ tình : người đi kẻ ở tay trong tay,
những khoảng ngừng lặng không nói nên lời bởi bộn bề cảm xúc, biết nói gì đây bởi quá nhiều
điều để nói, bắt đầu từ đâu và nói bao nhiêu cho đủ, cho thoả bấy nhiêu năm thiết tha mặn nồng
gắn bó cùng nhau.
2 – Đoạn 2 (Mình đi có nhớ những ngày … Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa ?)
Đoạn thơ là lời người ở lại nhắn nhủ với người đi đừng quên “chiến khu” – vùng
đất gắn liền với những gian lao trong kháng chiến và lòng căm thù giặc nhưng cũng rất
hào hùng trong chiến đấu :
Mình đi, có nhớ những ngày
17
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

nỗi nhớ khôn khuây, ngơ ngẩn : Mình về, rừng núi nhớ ai – Trám bùi để rụng, măng mai để
già… Đó là nỗi niềm bồi hồi dâng lên khi kỉ niệm dào dạt ùa về.
Nghệ thuật nhân hoá, ẩn dụ rừng núi nhớ ai,… trám để rụng, măng để già, điệp từ
mình về, mình đi, có nhớ, còn nhớ, nhịp câu 2/4 – 4/4 đều đặn… gợi lên hình ảnh một người
đang bâng khuâng sững sờ với cảm giác hụt hẫng của chia li, dè chừng sự lãng quên nên tha
thiết nhắc nhở người về bằng những hoài niệm ân nghĩa nhất, nguồn cội sâu rộng nhất , sâu
trong tình người, rộng trong thời gian, không gian. Đây là tình cảm những con người cách
mạng trong không gian, thời gian của cách mạng.
3 – Đoạn 3 – (Nhớ gì như nhớ người yêu … Chày đêm nện cối đều đều suối xa)
Hiện theo mỗi điệp khúc nhớ là hình ảnh con người và thiên nhiên hoà quyện trong
nhau. Khác với đoạn thơ trước, cảnh Việt Bắc ở đây hiện ra rất thơ mộng hiền hoà. Một
vầng trăng thấp thoáng nơi đầu núi, một ánh nắng chiều lấp ló lưng nương :
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Những bản làng bồng bềnh thực hư trong sương khói :
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Những rừng nứa, bờ tre, những núi đèo, ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê đầy vơi trong
nhung nhớ :
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
18
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Mỗi cảnh vật là một nét nhớ, nét thương thân thuộc vì gợi nhắc đến con người Việt
Bắc. Đó là những con người từng chia bùi sẻ ngọt cùng người cách mạng :
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi
Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Các từ ngữ thương nhau, sẻ nửa, đắp cùng như những ngọn lửa thắp sáng vần thơ, làm
cho tình đồng bào đồng chí, tình quân dân cá nước thêm ấm áp. Câu thơ làm ta nhớ đến những
vần thơ sáng ngời tình đồng chí của Chính Hữu : Súng bên súng đầu sát bên đầu – Đêm rét

với cấu tứ như cuộc chia tay của đôi bạn tình đã từng gắn bó nay phải tạm chia xa. Việt Bắc đã
trở thành người yêu (Nhớ gì như nhớ người yêu), thành người thương (Sớm khuya bếp lửa
người thương đi về) trong nỗi nhớ ấy.
Đoạn thơ trên là bức tranh toàn cảnh về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Tuy nhiên,
không phải nhà thơ chỉ dừng lại ở việc tả cảnh tả người, mà qua mỗi hình ảnh thiên nhiên, mỗi
hình ảnh về con người đều chất chứa một nỗi niềm nhung nhớ của người đi. Bức tranh hiện ra
với nhiều chi tiết thật cụ thể, thật quen thuộc, thật cảm động. Điều đó thể hiện nghĩa tình thuỷ
chung của người đi rất sâu đậm với chiến khu Việt Bắc.
4 – Đoạn 4 (Ta về, mình có nhớ ta … Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung)
Trong nhiều đoạn thơ của Việt Bắc, người đọc dễ dàng bắt gặp vẻ đẹp của thiên nhiên và
con người hiện lên thật sinh động. Đặc biệt tác giả đã dụng tâm khắc hoạ một bức tứ bình về
thiên nhiên, con người Việt Bắc trọn vẹn trong khổ thơ cân đối hài hoà :
19
Ta về, mình có nhớ ta
… …
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Hai câu đầu khái quát chung về nỗi nhớ, cũng là hé mở cách tạo “bố cục” cho bức
tranh : một nét vẽ hoa (những hoa) – thiên nhiên và một nét vẽ con người (cùng người), cứ thế
lần lượt hiện ra :
Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Những câu tiếp theo tập trung vào miêu tả thời gian trôi đều đặn qua bốn mùa cùng
những tín hiệu riêng của cảnh và người. Mùa đông ấm nóng, tươi tắn trong gam màu nóng
của những bông hoa chuối rừng đỏ tươi thắp lửa thấp thoáng bên tàu lá. Cả khu rừng màu xanh
như được điểm thêm sắc đỏ cùng “nắng ánh” như tạo một không gian khí trời mùa đông
“không lạnh lẽo”. Trong khung cảnh đó, nhà thơ vẽ một nét chấm phá về con người, đó là con
người đi rừng lao động thu hái sản vật núi rừng :
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Mùa xuân Việt Bắc bạt ngàn màu trắng của hoa mơ. Màu trắng của hoa mơ như gợi sắc

mang âm điệu mạnh mẽ, dồn dập, sôi nổi, hào hùng. Hình ảnh thơ hoành tráng, mang đậm chất
sử thi và cảm hứng lãng mạn bay bổng. Một hình tượng “đất nước đứng lên” như sống dậy
trong mỗi câu thơ.
20
Đó là hình tượng người dân Việt Bắc, người cán bộ kháng chiến, bộ đội, dân công,
rừng cây, núi đá, tất cả đã thống nhất thành một trận tuyến chống quân thù :
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
… …
Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà.
Cuộc kháng chiến thần thánh ngày một trưởng thành lớn mạnh. Từ lúc giặc đến giặc
lùng, rừng và người Việt Bắc che chở, bao bọc nhau, đến chỗ rừng cây núi đá ta cùng đánh
Tây là một bước phát triển của kháng chiến.
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Sự lớn mạnh đó là nhờ vào sự chung lòng đoàn kết chiến đấu của mọi người dân :
Mênh mông bốn mặt sương mù
Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Để rồi từ đó, chúng ta có những chiến thắng đầu tiên nức lòng nhân dân, bộ đội gắn với
các địa danh Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, Phố Ràng, Cao – Lạng, Nhị Hà,…
Ai về ai có nhớ không ?
… …
Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà…
Đó là bức tranh Việt Bắc ra trận với khí thế sôi nổi, hào hùng. Cuộc kháng chiến
chống Pháp đã đi đến những ngày quyết định cuối cùng. Cả một đội quân nhân dân trùng trùng
ra trận được khắc hoạ hoành tráng trong mỗi câu thơ :
Những đường Việt Bắc của ta
… …
Đèn pha bật sang như ngày mai lên.
Những con đường Việt Bắc cụ thể, cũng là những nẻo đường cách mạng của dân tộc đã
đến ngày rộng trải thênh thang. Con đường là hình ảnh quen thuộc trong thơ Tố Hữu gắn với ý

Và đây là một “bản đồ vui” toả rộng khắp đất nước báo tin chiến thắng :
Tin vui chiến thắng trăm miền
… …
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
Nhịp điệu thơ dồn dập tươi vui, náo nức phấn khởi. Mỗi một địa danh là một nốt nhạc
vui rộn ràng trong bản hùng ca chiến thắng.
Các địa danh không chỉ có ở Việt Bắc mà còn trải dọc theo trăm miền đất nước : từ
Nam Bộ, Tây Nguyên cho tới Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên. Sự xuất hiện của một loạt các địa
danh trăm miền bên cạnh nhau gắn với các tin vui chiến thắng dường như cho thấy tốc độ thần
kì của những thắng lợi đó.
Những từ ngữ vui về, vui từ, vui lên mặc nhiên đã đặt Việt Bắc vào tâm điểm của mọi
miền vui. Từ Việt Bắc niềm vui toả đi. Và từ khắp nơi, tin vui bay lại Việt Bắc.

Việt Bắc là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và
con người kháng chiến. Thể thơ lục bát, kiểu kết cấu đối đáp, ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian –
tất cả đã góp phần khắc sâu lời nhắn nhủ của Tố Hữu : Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống
quý báu anh hùng bất khuất, ân nghĩa thuỷ chung của cách mạng, của con người Việt Nam.
Việt Bắc (hoặc đoạn thơ trên) tiêu biểu cho hồn thơ và thể tài thơ trữ tình – chính trị
mang đậm tính sử thi, cảm hứng lãng mạng và đậm đà tính dân tộc của Tố Hữu.
III. Đất Nước (trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm
1. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
– Nguyễn Khoa Điềm sinh 1943 tại tỉnh Thừa Thiên Huế, trong một gia đình có truyền
thống yêu nước và cách mạng; thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong những năm kháng
chiến chống Mĩ.
– Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén, mang màu sắc trữ tình
chính luận. Tác phẩm chính: Đất ngoại ô (thơ, 1972); Mặt đường khát vọng (trường ca,1974),
Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986)…
2. Đất Nước
2.1. Hoàn cảnh sáng tác
– Mặt đường khát vọng là tập trường ca hùng tráng thiết tha được Nguyễn Khoa Điềm

- ĐN là nơi chốn sinh tồn của cả cộng đồng dân tộc qua bao thế hệ( nơi dân mình đoàn tụ )
=>Là sự thống nhất giữa cá nhân với cộng đồng.
- Đất Nước còn là không gian rộng lớn tráng lệ hùng vĩ của núi cao, biển cả.
=> ĐN là những gì gần gũi thân quen gắn bó với cuộc sống mỗi người lại vừa mênh mông rộng
lớn.
* Cảm nhận về ĐN ở phương diện chiều dài thời gian : ĐN được cảm nhận từ quá khứ với
huyền thoại “ Lạc Long Quân và Âu Cơ” cho đến hiện tại với những con người không bao giờ
quên nguồn cội dân tộc, truyền thuyết Hùng Vương và ngày giỗ Tổ .
* Suy ngẫm của tác giả về trách nhiệm của thế hệ mình với ĐN : phải biết gắn bó, san sẻ và hi
sinh vì đất nước.
=> ĐN hiện lên vừa thiêng liêng sâu xa , lớn lao vừa gần gũi thân thiết với sự sống mỗi người.
- Phần hai: tư tưởng ”Đất Nước của Nhân dân” được thể hiện qua ba chiều cảm nhận.
- Tác giả tiếp tục với những cảm nhận về đất nước trên nhiều bình diện: Chiều dài lịch sử,
chiều rộng địa lí, chiều sâu văn hoá lịch sử
+ Một Đất nước với nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử ,gắn với số phận, tính cách
,phẩm chất, tâm hồn nhân dân ( Hòn Trống Mái, Núi Vọng phu, Núi Bút, Non Nghiên, Vịnh
Hạ Long )
=> ĐN hiện lên vừa gần gũi vừa thiêng liêng.
+ Một Đất Nước giàu truyền thống :
. Anh hùng bất khuất : Có những anh hùng không ai nhớ mặt đặt tên. Họ hi sinh thầm lặng
cho Đất nước
. Đoàn kết trong đấu tranh, lao động sinh tồn
+ Một Đất Nước của ca dao, thần thoại , của những vẻ đẹp tâm hồn nhân hậu thuần phác
=>Tg chọn 3 dẫn chứng để nói về truyền thống của nhân dân :
+ Say đắm, lạc quan trong tình yêu (Yêu em từ thuở trong nôi .
+ Biết quý trọng tình nghĩa (Biết quý công )
+ Quyết liệt trong căm thù và chiến đấu (Biết trồng tre )
=> Sự phát hiện thú vị và độc đáo của tg về ĐN trên các phương diện địa lí, lịch sử, văn hoá
với nhiều ý nghĩa mới : Muôn vàn vẻ đẹp của ĐN đều là kết tinh của bao công sức và khát
vọng của nhân dân , của những con người vô danh , bình dị . ĐN từ nhân dân mà ra, do nhân

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó…
Đất nước là nguồn cảm hứng bất tận của thơ ca. Ở bài thơ này, Nguyễn Khoa Điềm đã
chọn điểm nhìn gần gũi để miêu tả một đất nước tự nhiên, bình dị mà không kém phần thiêng
liêng, tươi đẹp. Hình ảnh đất nước trong đoạn thơ đầu hiện lên muôn màu muôn vẻ, sinh động
lạ thường, lắng đọng trong tâm tưởng ta qua những nét đẹp về phong tục, tập quán, văn hóa,
truyền thống mang đậm dấu ấn con người Việt.
Câu thơ mở đầu được viết theo thể câu khẳng định “Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi”. Với
cách vào đầu rất tự nhiên ấy, nhà thơ khẳng định: Đất Nước đã có từ rất lâu, có trước khi ta
sinh ra vì thế khi ta lớn lên thì ta đã thấy Đất Nước. Bốn chữ cuối của câu thơ vang lên đầy tự
hào “Đất Nước đã có rồi”. Đó là lời khẳng định chắc nịch về sự trường tồn của đất nước qua
mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.
Hai câu thơ tiếp theo nhà thơ diễn tả cụ thể về sự ra đời của đất nước.
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể.
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Câu thơ thứ nhất, tác giả cho rằng Đất Nước có trong cái “ngày xửa ngày xưa”. Nghĩa là Đất
Nước có từ rất lâu đời, có tự ngày xưa. Đất Nước có từ trước khi những câu truyện cổ ra đời rồi
24
khi những câu truyện cổ có mặt trong đời sống tinh thần của ta, ta lại thấy Đất Nước hiện diện
trong truyện cổ. Đó là Đất Nước của một nền văn học dân gian đặc sắc với những câu chuyện
cổ tích, thần thoại, truyền thuyết. Chính những câu chuyện cổ và những bài hát ru thuở ta còn
nằm nôi là nguồn sữa ngọt lành chăm bẵm cho ta cái chân thiện mĩ và lớn lên ta biết yêu đất
nước con người. Về ý nghĩa của truyện cổ với đời sống tinh thần con người, nhà thơ Lâm Thị
Mỹ Dạ đã xúc động mà viết nên:
Tôi yêu truyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng gần
(Truyện cổ nước mình)
Câu thơ thứ hai, nhà thơ diễn tả Đất Nước có trong “miếng trầu bây giờ bà ăn”. Gợi nhắc

Chưa lên đã nhọn như chông lạ thường".
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status