BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
MÔN: HÓA TRỊ LIỆU
ĐIỀU TRỊ GIẢM ĐAU VÀ CÁC
TRIỆU CHỨNG TRONG BỆNH
UNG THƯ
Thầy hướng dẫn: TS. Nguyễn Tường Vy
Học viên: Nguyễn Thu Hiền
Mã học viên: 1211023
Lớp: Cao học 17 – Nhóm 5
Hà Nội – Tháng 4/2013
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư hay còn gọi là u ác tính, là tên chung dùng để gọi một nhóm bệnh
trên 200 loại khác nhau về nguồn gốc của tế bào, căn nguyên, tiên lượng và cách
thức điều trị nhưng có những đặc điểm chung, đó là sự phân chia không kiểm
soát được của tế bào, có thể di căn và lan rộng ra những mô và tế bào khác. Đây
là một trong những căn bệnh gây tỷ lệ tử vong cao nhất trên thế giới.
Mục tiêu chính của một chẩn đoán và điều trị ung thư là để chữa bệnh
hoặc kéo dài đáng kể tuổi thọ và đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt nhất có thể
cho bệnh nhân. Chính vì vậy, điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng là một trong
bốn ưu tiên của chương trình phòng chống ung thư của Tổ chức Y tế thế giới.
Tuy nhiên trên thực tế vấn đề điều trị đau và giảm nhẹ triệu chứng cho người
bệnh ung thư ở nước ta vẫn còn bị coi nhẹ. Chúng ta cần bỏ quan niệm: ung thư
giai đoạn muộn, mọi chuyện đã hết. Trong khi chờ đợi hiệu quả chữa bệnh cao
hơn nhờ việc phát hiện sớm các thành tựu của y học hiện đại, việc quan tâm làm
giảm đau, nâng đỡ sức khỏe và tinh thần tạm thời cũng là công việc rất cần thiết
nhằm mang lại cho người bệnh chất lượng sống cao hơn, giảm bớt được nỗi đau
thể xác cũng như tinh thần để bệnh nhân được ra đi trong sự thoải mái hơn.
• Triệu chứng toàn thân: sụt cân, chán ăn và suy mòn, tiết nhiều mồ hôi
(đổ mồ hôi trộm), thiếu máu và các hội chứng cận u đặc hiệu, đó là tình trạng
đặc biệt được gây ra bởi ung thư đang hoạt động, chẳng hạn như huyết khối
(thrombosis) hay thay đổi nội tiết tố.
2. NGUYÊN TẮC VÀ THUỐC ĐIỀU TRỊ
2.1. Giảm đau trong ung thư
2.1.1. Đại cương về đau trong ung thư
Đau là một triệu chứng phổ biến trong ung thư, người bệnh có thể chết vì
đau và suy kiệt. Nhiều bệnh nhân ung thư bày tỏ cảm giác không sợ chết bằng
sự dằn vặt của đau đớn. Đau do ung thư là đau mạn tính, dai dẳng, có khi kéo
dài vài tháng đến vài năm nếu như không có biện pháp kiềm chế.
- 1/3 người bệnh ung thư than phiền bị đau trong thời gian bệnh.
- 70 - 80% bệnh nhân ở giai đoạn tiến xa: có đau đớn.
- Bệnh càng tiến triển nặng, đau đớn càng nhiều hơn nhất là người bệnh
ung thư ở giai đoạn cuối.
- Nguyên nhân: do bệnh ung thư, liên quan đến điều trị ung thư, rối loạn
bệnh đi kèm
3
- Cơ chế đau ung thư: đa dạng và phức tạp.
Do xâm lấn ung thư: gây hoại tử, nhiễm trùng, xâm lấn chung
quanh: 2/3 trường hợp ung thư có di căn; ung thư di căn xương,
chèn ép tủy sống 50%
Do chèn ép xâm lấn đến các nhánh, rễ thần kinh hoặc tùng, đám rối
thần kinh (chiếm 20%).
Đau dai dẳng sau điều trị: 20%.
Cảm giác đau của bệnh nhân ung thư còn chịu tác động bởi nhiều
yếu tố tâm lý như lo lắng, hoảng hốt, và yếu tố xã hội. Vì vậy cần
phải đánh giá đau trong một bối cảnh chung gọi là đau tổng thể.
- Khám lâm sàng và xét nghiệm cần thiết, nhằm xác định:
Vị trí, tính chất, cường độ đau, thời gian khởi đau…
Phối hợp liên ngành, phối hợp phương pháp dùng thuốc và không
dùng thuốc.
Điều trị đau ung thư: theo hướng dẫn của Tổ chức Y Tế Thế giới.
Hình 1. Thang chỉ định điều trị đau của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Dùng thuốc có tác dụng giảm đau do ung thư phải được dùng đúng
liều, đúng khoảng thời gian: ưu tiên đường uống.
Đối với đau kéo dài, thuốc nên được dùng đều đặn theo từng
khoảng thời gian và không phải nhất thiết chỉ dùng khi cần.
Đối với từng cá thể: liều đúng là liều có tác dụng giảm đau. Liều
uống morphin có thể trong phạm vi ít nhất là 5mg đến liều lớn nhất
1000mg
Các thuốc dùng cho điều trị hỗ trợ nên được dùng đúng chỉ định, có
tác dụng hiệp đồng với thuốc giảm đau hay tác dụng đối ngược. Ví
dụ: thuốc an thần Seduxen tác làm tăng tác dụng thuốc giảm đau
loại không phải steroid. Ngoài ra dùng thuốc điều trị các tác dụng
phụ của thuốc giảm đau gây ra như táo bón do morphin, viêm dạ
dày do thuốc giảm đau không steroid.
Đối với đau do bệnh nhân thần kinh nên dùng thuốc chống trầm
cảm tricyclic phối hợp hoặc một thuốc chống co giật.
Quan tâm đến từng chi tiết: cần theo dõi đáp ứng của người bệnh,
có thể thay đổi liều điều trị, thuốc khác hoặc biện pháp điều trị khác
5
với điều trị để đảm bảo thu được hiệu quả cao nhất mà tác dụng phụ
lại hạn chế ở mức thấp nhất nếu có thể.
Đánh giá và điều trị đau do ung thư có kết quả nhất khi có sự phối
hợp với các phương pháp điều trị khác như phẫu thuật, xạ trị, hoá
chất, corticoid và tâm lý.
2.1.3. Các nhóm thuốc
A. Thuốc giảm đau (Analgesics)
Bậc 1: Aspirin, Acetaminophen, Kháng viêm không steroids (NSAIDS)
6 Meperidin 300mg 75mg 3- 4 giờ
7 Fentanyl TTS 72 giờ
8 Codein 180 60 3-4
9 Oxycodone (Percodan) 30 10 3-4 giờ
10
Levorphanol
(Levodromoran)
4 2 6-8 giờ
11
Oxymorphone
(Numorphan)
1 1 3-4 giờ
B. Thuốc hỗ trợ chống đau (Co-analgesic adjuvants)
- Mục đích:
6
Tăng hiệu lực kiểm soát đau
Giảm liều của thuốc chống đau opioids
Giảm thiểu các triệu chứng đi kèm/ung thư giai đoạn cuối: chán ăn,
buồn nôn, mệt mỏi, ngủ gật…
- Các thuốc:
Chống trầm cảm (Antidepressants): Amitriptylin, Imipramin
25mg/buổi tối
Chống co giật (Anticonvulsants): Carbamazepin, Phenytoin,
Valproic acid, Gabapentin.
Thuốc gây tê tại chỗ (local anesthetics): Lidocain dùng để phong
bế tại chỗ
Corticosteroid: giảm đau, ăn ngon, dễ chịu hơn, bớt mệt mỏi…:
Prednison (30 – 60 mg/uống/ngày) ; Dexamethason (8 – 16
mg/uống/ngày)
C. Một số phương thức điều trị chống đau khác
- Do sử dụng một số thuốc chống ung thư, morphin để điều trị giảm đau.
- Dạ dày chướng hơi, bị chèn ép bởi khối u hoặc bị kích thích.
- Tắt ruột, bệnh lý ở gan.
- Kích thích tâm lý gây nôn.
Để điều trị nôn không nên chỉ dùng một loại thuốc quen thuộc mà phải
tìm nguyên nhân gây nôn và lựa chọn thuốc điều trị cho phù hợp.
Sự chọn lựa thuốc tùy theo nguyên nhân:
Nguyên nhân Điều trị
Thuốc NSAID Bắt đầu sử dụng thuốc chống nôn kèm theo thuốc
Opioid
1-5-5 mg haloperidol 2-3 lần/ngày
5-10 mg prochlorperazine (stemetil) 2-3 lần/ngày
Nguyên nhân Điều trị
Thuốc Opioids
(60%)
Thiethyperazine (torecan) 10 mg viên, tọa dược
hay tiêm 2 lần/ngày
Hóa trị liệu và xạ trị
liệu
Ondansetron 4 mg- 2 lần/ngày
Domperidone (motilium) 10 mg - 3 lần/ngày
10 mg metoclopramide lên đến 3 lần/ngày
Cyclixine 25 - 10 mg - 3 lần/ngày
Tăng áp lực nội sọ Dexamethasone 4-8 mg 2-3 lần/ngày
Prochlorperazine 5 - 25 mg 3 lần/ngày
Trướng bụng đầy
hơi (do thuốc hoặc
suy giảm chức năng
gan)
Metoclopramide 10 mg 3 lần/ngày - Steroids
kháng cholin gây liệt nhẹ đám rối thần kinh của ruột và gây táo bón, nên cho
thuốc nhuận tràng (nếu cần).
Hỏi kỹ và ghi hồ sơ đều đặn về chức năng đường ruột rất cần thiết, thăm
khám trực tràng là phần quan trọng của việc đánh giá người bệnh ở giai đoạn
cuối. Khi táo bón không giảm và bệnh nhân không nhận biết có thể gây đau
bụng, làm đau tăng khắp nơi, tiểu dầm hay tiêu chảy giả, tắc ruột, vật vã và đưa
đến trầm cảm.
Một số thuốc giảm triệu chứng táo bón: tăng nhu động ruột, tăng tiết dịch,
tăng khối lượng phân, làm trơn và mềm phân như: Lactulose, Docusate,
Bisacodyl (Durolax), Phenolphthalein, Loại thuốc dầu (Parafin), Coloxyl, Senna
(8 mg), Cốm Senokot (15 mg cho 5 ml), Glycerin…
Chích Pethidine 25-100 mg tiêm tĩnh mạch (tùy thuộc vào khả năng
hấp thu thuốc của bệnh nhân) và cho thêm diazepam 5 mg hay
midazolam 5 mg giúp lấy phân dễ hơn và không làm bệnh nhân khó chịu.
2.2.3. Cổ trướng
Trước hết cần tìm nguyên nhân gây bụng chướng : khối u, gan to, chướng
hơi, tắc ruột, táo bón. Cổ chướng do nguyên nhân ác tính có thể tích tụ 10 lít
9
dịch hay hơn nữa gây căng tức thành bụng, hạn chế hoạt động cơ hoành làm
bệnh nhân rất khó chịu.
Có thể dùng các thuốc lợi tiểu để làm giảm cổ chướng như:
Spironolacton 50 mg 4 lần/ngày; Furosemid 40-120 mg/ngày có thể làm giảm
viêm chung quanh khối u và giảm sự xâm nhập huyết thanh vào khoang bụng.
Chọc hút bớt dịch màng bụng chỉ nên thực hiện khi sự căng chướng gây
tức bụng, khó chịu, bởi vì chọc hút dịch màng bụng sẽ lấy đi một số lượng lớn
chất đạm có thể làm người bệnh yếu sức và suy nhược nhanh hơn.
Đặt ống nối màng bụng - tĩnh mạch chủ: Thỉnh thoảng được làm trong các
tình huống đặc biệt, ví dụ: Cổ chướng nhũ trấp do dò từ ống ngực.
2.2.4. Khó thở
Khó thở thường chiếm 70% các trường hợp bệnh nhân ung thư
bởi:
Các yếu tố liên quan đến suy nhược: mất nước, thở bằng miệng, tưa
miệng.
Các yếu tố liên quan đến điều trị: xạ trị vùng mặt, thuốc an thần,
thuốc chống trầm cảm, Phenothiazines, thuốc chống co thắt.
Nhằm giảm nhanh các triệu chứng này, cho súc miệng thường xuyên 2
giờ/1lần với dung dịch súc miệng nước Soda hay Bicarbonate, điều trị nấm
Candida, chà rữa lưỡi dơ một cách nhẹ nhàng với một bàn chải mềm và oxy già
hòa loãng. Cung cấp nước qua các dạng như miếng dứa tươi, nhai kẹo cao su,
ngậm miếng nước đá nhỏ, uống nước bằng ống nhỏ giọt. Tốt nhất cho
ngậm viên sinh tố C sẽ kích thích tiết nước bọt nhiều hơn. Cho kem Vaselin hay
dầu thực vật thoa môi thường xuyên. Nếu miệng đỏ và bẩn cho súc miệng
với Lidocain hòa tan với Chlorhexidin.
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
1. Đại học Y Hà Nội (2001), Bài giảng ung thư học, Nhà xuất bản Y học.
2. Lê Đình Roanh (2000), Bệnh học các khối u, Nhà xuất bản Y học.
3. Nguyễn Bá Đức (2011), Ung thư học đại cương, Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam.
4. Phùng Phướng, Nguyễn Văn Cầu, Nguyễn Trần Thúc Huân (2009), Đại
cương về ung thư, Trường Đại học Y dược Huế.
5. Tierney, Mc.Phee, Papadakis (2008), Chẩn đoán và điều trị y học hiện
đại, tập 1, Nhà xuất bản Y học.
6. UICC (1999), Cẩm nang ung bướu học lâm sàng, Nhà xuất bản Y học.
7. WHO (1997), Điều trị đau do ung thư, NXB Y học.
TIẾNG ANH
1. Augusto Caraceni et al., Gabapentin for Neuropathic Cancer Pain, J. Clin
Oncol 2004; 22: 2909-2917
2. Davis S. Fischer et al., The Cancer Chemotherapy Handbook, 6