BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
THÁI HUY BẢO
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
THÁI HUY BẢO
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG
DẠY
TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 62. 14. 01. 14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. PHẠM MINH HÙNG
NGHỆ AN - 2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và
kết quả nêu trong luận án này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tác giả luận án
Thái Huy Bảo
i
1.3.1. Vai trò của giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong các
trường/khoa Đại học sư phạm
1.3.2. Đặc trưng lao động sư phạm của giảng viên bộ môn phương pháp
giảng dạy
1.3.3. Mô hình nhân cách giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong
các trường/khoa Đại học sư phạm
1.3.4. Những thách thức đối với giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
trước yêu cầu chuẩn hóa
1.4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ
MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC
TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
1.4.1. Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp
giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm
1.4.2. Một số định hướng (cách tiếp cận) phát triển đội ngũ giảng viên bộ
môn phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm
1.4.3. Nội dung phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
trong các trường/khoa Đại học sư phạm
1.4.4. Chủ thể quản lý phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn phương pháp
giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm
1.4.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển đội ngũ giảng viên bộ môn
phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học sư phạm
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG
CÁC TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
2.1. TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN NGÀNH SƯ PHẠM VÀ CÁC
TRƯỜNG/KHOA SƯ PHẠM Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1.1. Những kết quả đạt được
2.1.2. Những hạn chế và bất cập
TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
iv
2.5. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIẢNG VIÊN BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG
CÁC TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
2.5.1. Mặt mạnh
2.5.2. Mặt hạn chế, thiếu sót
2.5.3. Nguyên nhân
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ
MÔN PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC
TRƯỜNG/KHOA ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
3.1. NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
3.1.1. Bảo đảm tính mục tiêu
3.1.2. Bảo đảm tính thực tiễn
3.1.3. Bảo đảm tính hệ thống
3.1.4. Bảo đảm tính khả thi
3.2. CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN BỘ MÔN
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TRONG CÁC TRƯỜNG/KHOA
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
3.2.1. Tổ chức nghiên cứu, thảo luận trong cán bộ quản lý các trường/khoa
Đại học sư phạm về vai trò và sự cần thiết phải phát triển đội ngũ
giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy
3.2.2. Thực hiện công tác quy hoạch, tuyển chọn và đào tạo đội ngũ giảng
viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học
sư phạm
3.2.3. Xây dựng bộ tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp và xác định các chuẩn
phấn đấu của giảng viên bộ môn phương pháp giảng dạy trong các
trường/khoa Đại học sư phạm
5 CMNV Chuyên môn nghiệp vụ
6 CNTT Công nghệ thông tin
7 CSVC Cơ sở vật chất
8 ĐH Đại học
9 ĐHSP Đại học sư phạm
10 ĐT-BD Đào tạo - bồi dưỡng
11 ĐN Đội ngũ
12 ĐNGV Đội ngũ giảng viên
13 ĐC Đối chứng
14 GDĐH Giáo dục đại học
15 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
16 GDPT Giáo dục phổ thông
17 GV Giảng viên
18 HTTCDH Hình thức tổ chức dạy học
19 HTTC Hệ thống tín chỉ
20 HS Học sinh
21 KT-XH Kinh tế-xã hội
22 KHCB Khoa học cơ bản
23 KHGD Khoa học giáo dục
24 KHSP Khoa học sư phạm
25 KTSP Kiến tập sư phạm
26 KN Kỹ năng
vii
27 KNSP Kỹ năng sư phạm
28 KTDH Kỹ thuật dạy học
29 KTĐG Kỹ thuật đánh giá
30 LĐSP Lao động sư phạm
31 NCKH Nghiên cứu khoa học
32 NVSP Nghiệp vụ sư phạm
33 PP Phương pháp
Bảng 2.6. Thống kê cơ cấu ĐNGV bộ môn PPGD theo trình độ đào tạo
Bảng 2.7. Thống kê cơ cấu ĐNGV bộ môn PPGD theo chức danh giảng dạy
Bảng 2.8. Tỉ lệ đánh giá về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của ĐNGV
bộ môn PPGD
Bảng 2.9. Tỉ lệ đánh giá về năng lực giảng dạy của ĐNGV bộ môn PPGD
Bảng 2.10. Tỉ lệ đánh giá về năng lực nghiên cứu KHGD của ĐNGV bộ môn
PPGD
Bảng 2.11. Tỉ lệ đánh giá về năng lực cung ứng dịch vụ giáo dục, phát triển
đơn vị, phục vụ xã hội và cộng đồng của ĐNGV bộ môn PPGD
Bảng 2.12. Tỉ lệ đánh giá về năng lực hội nhập quốc tế trong phát triển
chương trình và đào tạo giáo viên của ĐNGV bộ môn PPGD
Bảng 2.13. Các hoạt động đã triển khai để phát triển ĐNGV bộ môn PPGD
Bảng 2.14. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ĐNGV bộ môn PPGD
Bảng 3.1. Đánh giá sự cấp thiết của các giải pháp đề xuất (n= 268)
Bảng 3.2. Đánh giá tính khả thi của các giải pháp đề xuất (n= 268)
Bảng 3.3. Tổng hợp số lượng khách thể TN
ix
Bảng 3.4. Kết quả khảo sát trình độ ban đầu về kiến thức của nhóm TN và
ĐC
Bảng 3.5. Khảo sát trình độ ban đầu về KN nghề nghiệp của nhóm TN và ĐC
Bảng 3.6. Bảng tần suất kết quả kiểm tra sau TN lần 1 về kiến thức của GV
bộ môn PPGD
Bảng 3.7. Phân bố tần xuất và tần xuất tích luỹvề kiến thức của nhóm TN và
ĐC
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ phân bố tần suất
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ tần suất tích lũy
Bảng 3.8. Bảng tần suất kết quả kiểm tra sau lần TN 2 về kiến thức của GV
phương pháp, KTDH đã lĩnh hội vào công tác giảng dạy của mình.
Điều rõ ràng là giáo viên các trường PT không thể thực hiện thành công việc
đổi mới PP, HTTCDH nếu như họ không được đào tạo (khi còn học trong trường
SP), bồi dưỡng (khi đã ra trường) các PP, HTTCDH mới một cách bài bản cả về
phương diện lý luận và thực tiễn. Những chậm trễ trong đổi mới PP, HTTCDH hiện
nay ở trường PT và ngay trong chính các trường/khoa ĐHSP một phần trách nhiệm
thuộc về ĐNGV bộ môn PPGD.
Vì thế, ĐNGV bộ môn PPGD phải là những người đi đầu trong việc nghiên
cứu, ứng dụng và chuyển giao các PP, HTTCDH mới. Nhưng trong khi đó, vai trò
của họ lại chưa được nhận thức và phát huy một cách đầy đủ. Hiện tượng xem
thường GV bộ môn PPGD, xem họ là “công dân hạng hai” trong các trường/khoa
ĐHSP vẫn tiếp tục tồn tại. Bản thân GV bộ môn PPGD lại chưa xác định được
“chỗ đứng” đích thực của mình để nỗ lực vươn lên trong CMNV. Tâm lý tự ti, an
phận còn khá phổ biến ở một bộ phận không nhỏ GV bộ môn PPGD. Bên cạnh đó,
1
nhiều khoa/ngành SP lại chưa có bộ môn PPGD độc lập. Do phải sinh hoạt chung
với GV của các bộ môn khác nên điều kiện để GV bộ môn PPGD phát triển “bản
sắc” của mình, để khẳng định mình về CMNV cũng rất khó khăn Từ đó, phát
triển ĐNGV bộ môn PPGD đã trở thành một yêu cầu cấp thiết đối với các
trường/khoa ĐHSP.
Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển đội ngũ giảng
viên bộ môn Phương pháp giảng dạy trong các trường/khoa Đại học Sư phạm”
để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nhiên cứu cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp phát
triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP, đáp ứng Chương trình
phát triển ngành SP và các trường SP từ năm 2011 đến năm 2020.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa SP.
Quan điểm này đòi hỏi khi nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp phát
triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP phải xem xét đối tượng
một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động và phát
triển, trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất và quy luật vận
động của đối tượng.
6.1.2. Quan điểm tiếp cận hoạt động - nhân cách
Quan điểm này đòi hỏi việc phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong các
trường/khoa ĐHSP, một mặt phải xuất phát từ những hoạt động của các
trường/khoa ĐHSP nhưng mặt khác, quan trọng hơn phải xuất phát từ những hoạt
động của chính ĐNGV bộ môn PPGD để tự hoàn thiện nhân cách của mình.
6.1.3. Quan điểm thực tiễn
Quan điểm này đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu phải bám sát thực tiễn của
các trường/khoa ĐHSP; phát hiện được những mâu thuẫn, những khó khăn của thực
tiễn để đề xuất các giải pháp phát triển ĐNGV bộ môn PPGD có cơ sở khoa học và
có tính khả thi.
3
6.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng phối hợp các nhóm
phương pháp nghiên cứu sau đây:
6.2.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
6.2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để phân tích và tổng hợp tài liệu
có liên quan nhằm hiểu biết sâu sắc, đầy đủ hơn bản chất cũng như những dấu hiệu
đặc thù của vấn đề nghiên cứu, trên cơ sở đó sắp xếp chúng thành một hệ thống lý
thuyết của đề tài.
6.2.1.2. Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập
Phương pháp này được chúng tôi sử dụng để rút ra những khái quát, nhận
định của bản thân về các vấn đề nghiên cứu, từ những quan điểm, quan niệm của
người khác.
6.2.1.3. Phương pháp mô hình hóa
6.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng các công thức thống kê để xử lý số liệu thu được, so sánh và đưa ra
kết quả nghiên cứu của luận án.
7. Những luận điểm cần bảo vệ của luận án
7.1. ĐNGV bộ môn PPGD là lực lượng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong
đào tạo NVSP cho SV. Nếu không quan tâm đúng mức đến việc phát triển ĐNGV
bộ môn PPGD thì sản phẩm đầu ra của các trường/khoa ĐHSP sẽ không đáp ứng
được yêu cầu đổi mới chương trình GDPT sau năm 2015.
7.2. Phát triển ĐNGV bộ môn PPGD là phát triển nguồn nhân lực đặc thù
của Ngành SP. Vì thế, nội dung, cách thức phát triển ĐN này phải dựa trên nội
dung, cách thức phát triển nguồn nhân lực nói chung, mặt khác phải dựa trên những
đặc trưng LĐSP và mô hình nhân cách GV bộ môn PPGD.
7.3. Tổ chức nghiên cứu, thảo luận trong CBQL các trường/khoa ĐHSP về
vai trò và sự cần thiết phải phát triển ĐNGV bộ môn PPGD; Thực hiện công tác
quy hoạch, tuyển chọn và đào tạo ĐNGV bộ môn PPGD; Xây dựng bộ tiêu chuẩn
nghề nghiệp và xác định các chuẩn phấn đấu của GV bộ môn PPGD; Bồi dưỡng
5
nâng cao năng lực SP cho ĐNGV bộ môn PPGD; Tạo động lực làm việc để phát
huy vai trò của ĐNGV bộ môn PPGD là những giải pháp cơ bản để phát triển
một cách hiệu quả ĐN này.
8. Đóng góp của luận án
8.1. Góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về phát triển ĐNGV nói
chung, ĐNGV bộ môn PPGD trong các trường/khoa ĐHSP nói riêng.
8.2. Đánh giá thực trạng ĐNGV bộ môn PPGD và phát triển ĐN này ở một
số trường/khoa ĐHSP.
8.3. Xây dựng hệ thống các giải pháp phát triển ĐNGV bộ môn PPGD trong
các trường/khoa ĐHSP.
8.4. Thiết kế được Chương trình bồi dưỡng nâng cao năng lực SP cho GV bộ
môn PPGD và Bộ tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp của GV bộ môn PPGD.
9. Cấu trúc của luận án
của việc học, từ việc cung cấp các khóa học và chia sẻ kiến thức đến việc hợp tác
trên các dự án nghiên cứu và tạo điều kiện tiếp cận với nguồn tài nguyên giáo dục
miễn phí.
- Thứ tư là vấn đề toàn cầu hóa, được phản ánh qua số lượng ngày càng tăng
các SV học tập ở nước ngoài, qua việc các trường ĐH thành lập các chi nhánh
chương trình học tập nước ngoài.
Những động thái này không những làm thay đổi GDĐH mà còn làm thay đổi
quan niệm về vị trí, vai trò của người GV; về vấn đề xây dựng và phát triển ĐNGV
7
trong trường ĐH. Những thay đổi này đã được thể hiện thông qua công trình nghiên
cứu của nhiều tác giả. Có thể khái quát những nghiên cứu của các tác giả nước
ngoài về GV và phát triển ĐNGV trên một số phương diện chính sau đây:
- Vị trí, vai trò của GV
Các tác giả Victor Minichiello [109], Catherine Armstrong [101], đều xem
GV là lực lượng quyết định chất lượng đào tạo của một trường ĐH. Trong khi đó,
các tác giả Linda Darling-Hammond [104] thì khẳng định, không thể có một trường
ĐH danh tiếng nếu thiếu một ĐNGV xuất sắc. Các tác giả này cho rằng, GV ĐH
được định nghĩa trong 3 chức năng: nhà giáo; nhà khoa học và nhà cung ứng dịch
vụ cho xã hội.
- GV ĐH trước hết là một nhà giáo giỏi, người được trang bị bốn nhóm kiến
thức/kỹ năng sau: Kiến thức chuyên ngành; Kiến thức về chương trình đào tạo;
Kiến thức và kỹ năng về dạy học và Kiến thức về môi trường giáo dục, hệ thống
giáo dục, mục tiêu giáo dục, giá trị giáo dục
- GV ĐH là nhà khoa học, người có khả năng nghiên cứu, giải thích và dự
báo các vấn đề của tự nhiên - xã hội mà loài người và khoa học chưa có lời giải.
- GV ĐH là nhà cung ứng dịch vụ cho xã hội, người tham gia công tác quản
lý, các công việc hành chính, tham gia các tổ chức xã hội, cố vấn cho SV, liên hệ
thực tập, tìm chỗ làm cho SV, phản biện cho các tạp chí khoa học, tham dự và tổ
chức các hội nghị, hội thảo khoa học…
- Sự cần thiết phải phát triển ĐNGV
và Rien SteenJaap Scheerens [105] cho rằng, phát triển ĐNGV ĐH về CMNV
cần quan tâm đến các yếu tố như: Niềm tin và năng lực, chất lượng giảng dạy, sự
liên tục trau dồi và phát triển tri thức khoa học, kỹ năng nghề nghiệp, tình cảm
nghề nghiệp…
Hội nghị quốc tế về GDĐH thế kỉ XXI đã nêu lên những năng lực cần có của
một GV ĐH mẫu mực, bao gồm: 1) Có kiến thức và sự thông hiểu về các cách học
khác nhau của SV; 2) Có kiến thức, năng lực và thái độ về mặt theo dõi đánh giá
SV nhằm giúp họ tiến bộ; 3) Tự nguyện hoàn thiện bản thân trong ngành nghề của
mình; biết ứng dụng những tiêu chí nghề nghiệp và luôn luôn cập nhật những thành
9
tựu mới nhất; 4) Biết ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin, về môn
học, ngành học của mình 5); Có khả năng nhận biết được tín hiệu của thị trường
bên ngoài về nhu cầu của giới chủ đối với SV tốt nghiệp; 6) Làm chủ được những
thành tựu mới về dạy và học, từ cách dạy học mặt giáp mặt đến cách dạy học từ xa;
7) Chú ý đến quan điểm và mong ước của khách hàng; 8) Hiểu được những tác
động của nhân tố quốc tế và đa văn hóa đối với các chương trình đào tạo; 9) Có khả
năng dạy nhiều loại hình SV khác nhau, thuộc những nhóm khác nhau về độ tuổi
môi trường KT-XH, dân tộc; 10) Có khả năng bảo đảm các giờ giảng chính khóa,
seminar hoặc tại các xưởng sản xuất với số lượng SV đông; 11) Có khả năng hiểu
được những chiến lược thích ứng về nghề nghiệp của các cá nhân [94].
Từ nghiên cứu mô hình phản ứng của người học RUP (The Reflective Urban
Practitioner), các tác giả của trường ĐH New Jersey - Mỹ [107] đã công bố các
KNSP cần được phát triển ở đội ngũ GV ĐH dựa trên các nhiệm vụ, mục tiêu và
triết lý của GDĐH. Đó là: 1) Động lực và hành vi; 2) Truyền thông; 3) Dịch vụ kế
hoạch và hướng dẫn; 4) Chiến lược dạy học; 5) Đánh giá.
Các tác giả David Kember và Lyn Gow [103] trong công trình "Nghiên cứu
hành động là một loại hình phát triển ĐNGV ĐH" đã cho rằng, để phát triển
ĐNGV ĐH cần cố gắng cải thiện hoạt động giảng dạy của GV, thông qua các
hành động lập kế hoạch; biên soạn đề cương chi tiết; tổ chức các mối quan hệ với
SV và tài liệu học tập; sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học; đánh giá
Theo tác giả Cao Tuấn Anh, việc phát triển ĐNGV “phải được coi là nhiệm vụ
trọng tâm trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của các trường ĐH”[2; tr.10].
Tác giả Trần Xuân Bách [3] đã gắn việc phát triển ĐNGV với đánh giá
ĐNGV và xem đây là hai vấn đề then chốt của các trường ĐH hiện nay. Theo tác
giả, phát triển ĐNGV thực chất là phát triển nghề nghiệp của ĐNGV và sự phát
triển này phải trở thành trách nhiệm có tính quy hoạch của trường ĐH.
Những năm gần đây, khi Ban cán sự Đảng Bộ GD&ĐT ban hành Nghị quyết
về đổi mới quản lý GDĐH giai đoạn 2010-2012 và Bộ GD&ĐT triển khai chương
trình hành động thực hiện Nghị quyết, các trường ĐH đã tổ chức nhiều hội thảo
11
khoa học, khẳng định vai trò tiên phong trong đổi mới GDĐH là ĐNGV và để
GDĐH Việt Nam cất cánh, cần phải tập trung giải quyết vấn đề then chốt - phát
triển ĐNGV.
- Vai trò và mô hình nhân cách người GV ĐH
Cũng giống như các tác giả nước ngoài, các tác giả trong nước đều khẳng
định vai trò quan trọng của GV đối với việc nâng cao chất lượng GDĐH.
Theo tác giả Nguyễn Hữu Châu, GV đóng vai trò chủ chốt trong việc quyết
định chất lượng GDĐH.
Tác giả Võ Xuân Đàn cho rằng: “Không ai khác quyết định yếu tố chất lượng
ở trường ĐH ngoài ĐNGV. Mọi nguồn lực khác của nhà trường, của xã hội chỉ đóng
vai trò hỗ trợ, tiếp sức, tạo điều kiện để người GV thực hiện chức năng cao quý của
mình là đào tạo thế hệ trẻ, những nhân tài chủ nhân của đất nước”[31; tr.10].
Tác giả Trần Khánh Đức đã đưa ra mô hình tổng thể của người GV trong nền
GDĐH hiện đại với 4 chức năng: Nhà khoa học chân chính; Nhà sư phạm tâm
huyết; Nhà hoạt động văn hóa xã hội tích cực và Nhà quản lý giáo dục tài ba [38].
Tác giả Nguyễn Văn Đệ, xuất phát từ mô hình nhân cách của con người Việt
Nam trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung vào 5 yếu tố cơ bản
(nhân văn - xã hội; làm chủ công nghệ; năng động thích nghi cao; có đủ sức khỏe
thể lực; sáng tạo) để xác lập mô hình nhân cách của người GV ĐH trong thời đại
mới, gồm 4 đặc trưng sau đây: GV ĐH là người có tố chất nhân cách trí tuệ; GV