MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
1.1.1.1 Theo quan niệm cổ điển: 5
1.1.1.2 Theo quan niệm hiện đại : 5
1.1.2.2 Nhóm chỉ êu không thể so sánh được 7
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 11
1.3 CÁC LOẠI CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 13
CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG SẢN
PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 17
2.1.2 Phương pháp đơn giá bình quân 17
2.1.3 Phương pháp hệ số phẩm cấp bình quân 18
2.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SAI HỎNG SẢN PHẨM TRONG SẢN XUẤT
18
2.2.1 Đánh giá chất lượng sản phẩm sản xuất của từng loại sản phẩm 19
2.2.2 Đánh giá chung chất lượng sản phẩm sản xuất của toàn doanh nghiệp 19
PHẦN III: 22
MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH Ở
VIỆT NAM 22
3.1 HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG NGHỆ 22
3.2 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LAO ĐỘNG 22
3.3 LỰA CHỌN HỆ THỐNG CHẤT LƯỢNG ĐỂ ÁP DỤNG 23
3.3.2 Mô hình GMP 24
3.3.3 Mô hình đảm bảo chất lượng ISO 9000 25
3.3.4 Mô hình quản lý chất lượng tổng hợp TQM 26
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN III: Một số phương hướng nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm nâng
cao sức cạnh tranh ở Việt Nam
Do thời gian có hạn nên nội dung bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong được sự giúp đỡ của thầy để em khắc phục những thiếu sót và hoàn thiện
bài đề án này. Em xin chân thành cảm ơn!.
4
Quy Nhơn, ngày 15 tháng 12 năm 2013
Sinh viên thực hiện
PHẦN I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm
1.1.1.1 Theo quan niệm cổ điển:
Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những đặc tính bên trong của sản phẩm là
tổng hợp có thể đo được hoặc so sánh được nó được phản ánh giá trị sử dụng và
tính năng của sản phẩm đó đáp ứng những yêu cầu qui định trước cho nó trong
những điều kiện xác định về kinh tế xã hội
1.1.1.2 Theo quan niệm hiện đại :
* Philip Crosby : chất lượng là sự tuân thủ các yêu cầu.
Theo quan điểm này thì các nhà thiết kế phải đưa ra được yêu cầu đối với sản
phẩm và những người công nhân sản xuất phải tuân thủ những yêu cầu này . Chức
năng của chất lượng đây là chức năng thanh tra, kiểm tra xem những yêu cầu đưa ra
đã được tuân thủ một cách chặt chẽ hay chưa.
* Joseph juran : chất lượng là phù hợp với mục đích .
Định nghĩa này của juran đã đề cập tới nhu cầu của khách hàng về sản phẩm
mà doanh nghiệp định cung cấp. Chức năng của chất lượng đây không phải chỉ là
chức năng thanh tra , kiểm tra mà còn là một bộ phận của công tác quản lý của tất
cả các chức năng trong tổ chức .
* Deming và Ishikawa : Chất lượng là một quá trình chứ không phải là một cái
đích .
cá biệt
=
Số lượng sản phẩm hỏng
x100
Tổng số sản phẩm sản xuất
- Dùng thước đo giá trị :
Tỷ lệ SP hỏng
cá biệt
=
Chi phí về sản phẩm hỏng
x100
Tổng chi phí toàn bộ sản phẩm hàng hoá
+ Độ lệch chuẩn và tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng:
6
Độ lệch chuẩn =
( )
1
1
2
−
−
∑
=
n
XX
n
i
i
Trong đó:
X
: đơn giá sản phẩm loại i
P
1
: đơn giá sản phẩm loại 1
1.1.2.2 Nhóm chỉ tiêu không thể so sánh được .
- Độ bền (tuổi thọ sản phẩm ) là thời gian sử dụng sản phẩm cho đến khi sản
phẩm đó hư hỏng hoàn toàn, nó được tính bằng thời gian sử dụng trung bình .
- Độ tin cậy của sản phẩm là thời gian sử dụng trong điều kiện bình thường vẫn
giữ nguyên được đặc tính của nó, các chỉ tiêu phản ánh bao gồm: xác suất sử dụng
không hỏng, cường độ xảy ra khi hỏng, khối lượng công việc trung bình đến khi
hỏng
7
1.1.3 Những nhân tố tạo nên chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm được tạo nên từ nhiều yếu tố, nhiều điều kiện trong chu
kỳ sống của sản phẩm. Nó được hình thành trong suốt quá trình sản xuất kinh
doanh, hoạt động của một doanh nghiệp, một tổ chức do nhiều yếu tố quyết định
như:
• Chất lượng máy móc thiết bị sử dụng trong quá trình sản xuất
• Chất lượng lao động
Như vậy, chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm hàng hóa mà ta
vẫn thường nghĩ. Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể đó là chất lượng
sản phẩm, chất lượng của một hoạt động, chất của một doanh nghiệp…
Từ đó chúng ta thấy rằng chất lượng sản phẩm được cấu thành từ rất nhiều các
nhân tố và các nhân tố này đều có vai trò quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng
sản phẩm, chúng ta có thể thấy rõ hơn chuỗi giá trị
Cơ sở hạ tầng của công ty
Nguồn nhân lực
Phát triển công nghệ
Cung ứng
Hậu cần
d. Trình độ tồ chức quản lý và tổ chức sản xuất
Có nguyên vật liệu tốt, máy móc, trang thiết bị hiện đại song nếu không có
một phương pháp tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh thì không thể nào bảo đảm
và nâng cao chất lượng. Vấn đề quản lý chất lượng đã và đang được các nhà khoa
học, các nhà quản lý rất quan tâm. Vai trò của công tác quản lý chất lượng đã được
xác định là một yếu tố có tính chất quyết định đến chất lượng sản phẩm.
9
1.1.4.2 Nhóm nhân tố bên ngoài
a. Nhu cầu về chất lượng sản phẩm
Nhu cầu về chất lượng sản phẩm là xuất phát điểm của quản lý chất lượng vì
nó là một trong các căn cứ quan trọng để xác định các tiêu thức chất lượng cụ thể.
Cầu về chất lượng sản phẩm cụ thể phụ thuộc vào nhiều nhân tố trong đó có nhân tố
thu nhập của người tiêu dùng: người tiêu dùng có thu nhập cao thường có yêu cầu
cao về chất lượng sản phẩm và ngược lại, khi thu nhập của người tiêu dùng thấp thì
họ không mấy nhạy cảm với chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, do tập quán, đặc tính
tiêu dùng khác nhau mà người tiêu dùng ở từng địa phương, từng vùng, từng nước
có nhu cầu về chất lượng sản phẩm khác nhau. Mặt khác, cầu về chất lượng sản
phẩm là phạm trù phát triển theo thời gian.
b. Trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ sản xuất
Nó phản ánh đòi hỏi khách quan về chất lượng sản phẩm. Trong quá trình phát
triển kinh tế theo hướng hội nhập với khu vực và quốc tế, cạnh tranh ngày càng gay
gắt và mang tính "quốc tế hoá". Chất lượng là một trong những nhân tố quan trọng
quy định lợi thế cạnh tranh, trình độ chất lượng sản phẩm cũng được "quốc tế hoá"
và ngày càng phát triển. Nếu doanh nghiệp không nghiên cứu kỹ và tính toán nhân
tố này, sản phẩm của doanh nghiệp sẽ bị bất lợi về chất lượng và do đó giảm sức
cạnh tranh của doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm của nhiều doanh nghiệp sử dụng
kỹ thuật công nghệ lạc hậu hiện nay ở nước ta là ví dụ điển hình về vấn đề này.
c. Cơ chế quản lý kinh tế
Đây là một nhân tố bên ngoài tác động mạnh mẽ đến phạm trù chất lượng sản
phẩm. Cơ chế kế hoạch hoá tập chung quy địmh tính thống nhất của chất lượng sản
Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tính chất đặc điểm riêng biệt bên
trong của sản phẩm đó. Những đặc tính đó phản ánh tính khách quan của sản phẩm
thể hiện trong quá trình và sử dụng sản phẩm đó. Những đặc tính khách quan này
phụ thuộc rất lớn và trình độ thiết kế quy định cho sản phẩm đó. Mỗi tính chất được
biểu thị các chỉ tiêu lý hóa nhất định có thể đo lường đánh giá được. Vì vậy, nói đến
chất lượng phải đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể. Đặc điểm
11
này khẳng định những sai lầm cho rằng chất lượng sản phẩm là các chỉ tiêu không
thể đo lường, đánh giá được.
Nói đến chất lượng sản phẩm phải xem xét sản phẩm đó thõa mãn tới mức
độ nào nhu cầu của khách hàng. Mức độ thõa mãn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng
thiết kế và những tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra cho mỗi sản phẩm. Ở các nước tư bản,
qua phân tích thực tế chất lượng sản phẩm trong nhiều năm đi đến kết luận rằng
chất lượng sản phẩm tốt hay xấu thì 75% phụ thuộc vào giải pháp thiết kế, 20% phụ
thuộc vào công tác kiểm tra kiểm soát và chỉ có 5% phụ thuộc vào kết quả nghiệm
thu cuối cùng.
1.2.3 Chất lượng sản phẩm mang tính dân tộc
Chất lượng sản phẩm còn mang tính dân tộc thể hiện ở truyền thống tiêu dùng. Mỗi
dân tộc, mỗi quốc gia và mỗi vùng đều có thị hiếu tiêu dùng khác nhau. Mỗi sản
phẩm có thể được xem được tốt ở nơi này nhưng lại được coi là không tốt ở nơi
khác. Trong kinh doanh không thể có một chất lượng như nhau ở tất cả các vùng mà
phải cần căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để đề ra các phương án về chất lượng cho phù
hợp. Chất lượng biểu thị ở hai cấp độ và phản ánh hai mặt khách quan và chủ quan
hay nói cách khác còn gọi là hai loại chất lượng:
- Chất lượng tuân thủ thiết kế: thể hiện ở mức độ sản phẩm đạt được so với tiêu
chuẩn thiết kế đề ra. Khi sản phẩm sản xuất ra có những đặc tính kinh tế kỹ
thuật càng gần với tiêu chuẩn thiết kế thì chất lượng cao, được phản ánh thông
qua các chỉ tiêu như:
• Tỷ lệ phế phẩm
• Sản phẩm không đạt yêu cầu thiết kế
+ Tiêu chuẩn doanh nghiệp (TCDN) là các chỉ tiêu về chất lượng do doanh
nghiệp tự nghiên cứu và áp dụng trong doanh nghiệp mình cho phù hợp với điều
kiện riêng của doanh nghiệp đó.
- Chất lượng thực tế: chỉ mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản
phẩm, bao gồm chất lượng thực tế trong sản xuất và chất lượng thực tế trong tiêu
dùng.
13
- Chất lượng cho phép: là dung sai cho phép giữa chất lượng thực tế với chất
lượng tiêu chuẩn. Chất lượng cho phép phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng
nước, phụ thuộc vào trình độ lành nghề của công nhân. Khi chất lượng thực tế của
sản phẩm vượt quá dung sai cho phép thì hàng hoá sẽ trở thành hàng hoá phế phẩm.
- Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng thoả mãn toàn diện nhu cầu của thị
trường trong những điều kiện xác định với chi phí xã hội thấp nhất. Thường người
ta phải giải quyết mối quan hệ chi phí và chất lượng sao cho chi phí thấp mà chất
lượng vẫn đảm bảo có như vậy doanh nghiệp mới có lợi thế cạnh tranh và tăng được
sức cạnh tranh.
1.4 TẦM QUAN TRỌNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM
1.4.1 Tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm
Cơ chế thị trường tạo động lực mạnh mẽ và thúc đẩy sự phát triển của các
doanh nghiệp và nền kinh tế. Đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với các
doanh nghiệp. Hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự chi phối một cách mạnh
nhất, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm vững nhu cầu thị trường cả về mặt không
gian, thời gian, số lượng, chất lượng.
Thế mạnh của kinh tế thị trường là hàng hóa phong phú đa dạng, cạnh tranh
gay gắt, người tiêu dùng được các sản phẩm theo nhu cầu, sở thích, khả năng mua
của họ. Trong doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm luôn là một trong những nhân tố
quan trọng quyết định khả năng trên thị trường
Chất lượng sản phẩm là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các chiến lược
Marketing, mở rộng thị trường, tạo uy tín, danh tiếng cho sản phẩm của doanh
phải mang tính cạnh tranh về nhiều mặt. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát
triển thì việc liên tục hạ giá thành sản phẩm và không ngừng hoàn thiện chất lương
là một trong những mục tiêu quan trọng trong các hoạt động của mình.
1.4.2.2 Do yêu cầu của người tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng có vai trò quyết định trong
việc lựa chọn sản phẩm tiêu dùng. Các sản phẩm muốn thỏa thuận yêu cầu người
tiêu dùng, được người tiêu dùng tín nhiệm phải phù hợp về kiểu dáng, hiệu suất cao
15
khi sử dụng, giá cả, sự an toàn, dịch vụ sau khi bán hàng …hơn nữa trong buôn bán
quốc tế ngày càng được mở rộng, sản phẩm hàng hóa phải tuân thủ những quy định,
luật lệ quốc tế, thống nhất về yêu cầu chất lượng. Với sự ra đời của hiệp hội quốc tế
người tiêu dùng IOCU (International Organization Consumer Union) vào năm
1962, vai trò của người tiêu dùng trở nên quan trọng trong việc toàn cầu hóa thị
trường. Từ đó cho đến nay nhiều nước đã có luật bảo vệ người tiêu dùng. Đặc biệt
là sự thông tin kịp thời, sự kiểm tra nghiêm ngặt về an toàn vệ sinh môi trường.
1.4.2.3 Do yêu cầu tiết kiệm
Hiệu quả kinh tế, sự phồn thịnh của một công ty không chỉ phụ thuộc vào sự
phát triển của nền sản xuất có năng suất cao, sự hùng hậu của lao động mà còn phụ
thuộc rất nhiều vào sự tiết kiệm (cả tầm vĩ mô và vi mô). Kinh nghiệm của Nhật
Bản và các con rồng Châu Á đã cho thấy một trong những nguyên nhân thành công
của họ là nhờ vào sự tiết kiệm.
Tiết kiệm trong kinh tế là tìm các giải pháp sản xuất kinh doanh hợp lý cho
phép hạ giá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chât lượng, đủ sức cạnh tranh với giá
cả sản phẩm trong nước cũng như ngoài nước.
1.4.2.4 Do đòi hỏi của một hệ thống quản lý kinh tế thống nhất
Thực tế chứng minh rằng ở bất kỳ nền sản xuất nào, dù phát triển đến đâu đi
nữa người ta vẫn còn thấy có những vấn đề liên quan đến chất lượng cần phải giải
quyết nhằm nâng cao hơn nữa tính cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao hiệu quả
chung của nền sản xuất xã hội ( vấn đề thị trường, nguyên liệu, trao đổi quốc tế,
tranh giành ảnh hưởng, vấn đề ô nhiễm môi trường…) vì vậy vấn đề chất lượng
Q
pQ
P
1
1
Bước 2: Xác định ảnh hưởng do chất lượng sản phẩm thay đổi đến Tổng sản lượng:
( )
∑
=
×−=∆
n
i
li
QPPG
1
01
Trong đó: p là đơn giá sản phẩm
Q là sản lượng sản phẩm
i là thứ hạng sản phẩm
17
2.1.3 Phương pháp hệ số phẩm cấp bình quân
Ưu diểm của phương pháp này tương tự phương pháp đơn giá bình quân
Bước 1: Xác định hệ số phẩm cấp bình quân:
∑
∑
=
=
=
n
i
2.2 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SAI HỎNG SẢN PHẨM TRONG SẢN XUẤT
Trong sản xuất có những chi tiết, bộ phận sản phẩm được sản xuất không đúng
quy cách, tiêu chuẩn kỹ thuật, cần phải tiến hành sửa chữa hoặc hủy bỏ do không
sửa chữa được. Số lượng sản phẩm hỏng trong sản xuất tăng lên sẽ phản ánh chất
lượng của sản phẩm sản xuất trong kỳ kém đi. Hơn nữa, việc phát sinh nhiều sản
phẩm hỏng còn làm cho doanh nghiệp phải gánh chịu những tổn thất nhất định về
chi phí, về uy tín
Việc phân tích tình hình sai hỏng trong sản xuất nhằm đánh giá đúng chất
lượng từng loại sản phẩm cũng như tất cả các loại sản phẩm, qua đó tìm ra các
nguyên nhân và xây dựng các biện pháp nhằm phấn đấu giảm bớt tình hình sai hỏng
trong sản xuất.
Sản phẩm sản xuất trong kỳ bao gồm:
- Thành phẩm.
- Sản phẩm hỏng
+ Sản phẩm hỏng có thể sửa chữa được
18
+ Sản phẩm hỏng không sửa chữa được
2.2.1 Đánh giá chất lượng sản phẩm sản xuất của từng loại sản phẩm
Khi phân tích người ta thường đánh giá qua 2 thước đo giá trị và hiện vật.
Thước đo hiện vật:
Tỷ lệ sản phẩm
hỏng cá biệt
=
Số lượng sản phẩm hỏng
x100
Tổng số sản phẩm sản xuất
Thước đo giá trị:
Tỷ lệ sản phẩm
hỏng cá biệt
=
∑
=
=
=
=
=×=
n
i
ii
n
i
iii
n
i
ii
n
i
ii
zQ
szQ
zQ
cQ
S
1
1
1
1
100
(đơn vị tính:%)
So sánh Tỷ lệ sản phẩm hỏng bình quân giữa kỳ phân tích và kỳ gốc, nếu tỷ lệ
Từ đó có thể tính được mức biến động của chi phí về sản phẩm hỏng:
∑
∆×=∆
KCii
SzQC
11
- Ảnh hưởng của nhân tố tỷ lệ sản phẩm hỏng cá biệt của từng loại sản phẩm
đến tỷ lệ sản phẩm hỏng bình quân:
Nếu mức biến động này < 0: do chất lượng sản phẩm sản xuất của nhiều loại
sản phẩm đã được nâng cao đã làm cho chất lượng chung của toàn doanh nghiệp
được nâng cao và ngược lại.
Từ đó có thể tính được mức biến động của chi phí về sản phẩm hỏng:
∑
∆×=∆
i
Sii
SzQC
11
20
- Ảnh hưởng của nhân tố tỷ lệ sản phẩm hỏng cá biệt của từng loại sản phẩm
đến tỷ lệ sản phẩm hỏng bình quân:
∑
∑
∑
∑
−=∆
ii
iii
ii
+ Nhập các thiết bị nước ngoài, học tập nguyên tắc thiết kế, tự thiết kế lại,
cải tiến cho phù hợp với điều kiện sản xuất và chế tạo tại Việt Nam. Một số bộ phận
chưa đủ sức chế tạo thì nhập của nước ngoài.
+ Khuyến khích đầu tư nước ngoài có sử dụng công nghệ tiên tiến.
+ Mua thiết bị có công nghệ tương đối hiện đại, song mức độ tự động hoá
còn thấp (do đó tiết kiệm hơn). Ta tự nâng cấp trình độ tự động hoá bằng thiết kế
của người Việt Nam.
+ Tận dụng khả năng đóng góp của các chuyên gia khoa học công nghệ
người Việt Nam ở nước ngoài muốn góp sức xây dựng quê hương.
3.2 NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LAO ĐỘNG
Hiện nay, nguồn lao động của nước ta rất dồi dào nhưng trình độ tay nghề còn
thấp đa số là lao động phổ thông chưa được qua đào tạo do đó ảnh hưởng không
nhỏ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Do đó, để có được nguồn lao động đủ trình độ để sản xuất kinh doanh có hiệu
quả nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải cải cách mạnh mẽ hệ thống
đào tạo nghề và các tổ chức xúc tiến việc làm. Định hướng cải cách hệ thống dạy
nghề ở Việt Nam mới được các cơ quan quản lý lao động đưa ra gồm các công việc:
+ Người sử dụng lao động tham gia chương trình đào tạo nghề sao cho các
chương trình này đấp ứng được nhu cầu của thị trường lao động
22
+ Các chương trình giảng dạy trong hệ thống đào tạo nghề sẽ được xây dựng
thống nhất và hợp lý trong toàn quốc nhằm đáp ứng mọi nhu cầu đào tạo, tránh
chồng chéo, trùng lặp.
+ Nội dung giảng dạy được thiết kế dựa trên sự phân tích công việc, nhiệm
vụ và kỹ năng.
+ Các lao động lành nghề sẽ tham gia vào việc đưa ra các nội dung giảng dạy
sau khi đã tham khảo ý kiến của chuyên gia nước ngoài
+ Giáo án dạy nghề sẽ được tổ chức thành nhiều học phần, trong đó một số
học phần sẽ quy định năng lực phải đạt của mỗi học viên
+ Ưu tiên phát triển phần thực hành, trình độ học viên được đánh giá căn cứ
Nếu mô hình này áp dụng thì phòng ban, thông tin, phân xưởng sản xuất, hoạt
động nhanh đỡ tốn thời gian chính xác và có thể là bộ máy tinh gọn hơn.
3.3.2 Mô hình GMP
Mô hình thực hành sản xuất tốt (GMP) áp dụng cho cơ sở sản xuất thực phẩm
và dược phẩm, mục đích của nó là kiểm soát tất cả các yếu tố ảnh hưởng tới quá
trình hình thành chất lượng từ khâu thiết kế, xây lắp nhà xưởng, thiết bị dụng cụ chế
biến, điều kiện phục vụ và điều kiện chế biến. GMP có thể áp dụng đối với doanh
nghiệp vừa, nhỏ, lớn.
Nội dung của phương pháp như sau:
a) Điều kiện nhà xưởng và phương tiện chế biến bao gồm:
+ Khu xử lý thực phẩm
+ Phương tiện vệ sinh
+ Phương tiện chiếu sáng thông gió, đo độ ẩm
+ Thiết bị và dụng cụ
+ Hệ thống an toàn.
b) Kiểm soát vệ sinh nhà xưởng bao gồm:
+ Bảo quản hóa chất nguy hiểm
+ Đồ dùng cá nhân.
c) Kiểm soát quá trình chế biến đối với
+ Nguyên vật liệu
24
+ Hoạt động sản xuất
d) Về con người bao gồm
+ Điều kiện sức khoẻ
+ Chế độ vệ sinh
+ Giáo dục cho đào tạo và đầu tư cho đào tạo.
e) Kiểm soát khâu phân phối
Việc kiểm soát khâu phân phối nhằm bảo đảm để tránh nhiễm bẩn thực phẩm
bởi tác nhân vật lí hoá học, vi sinh… và không làm phân huỷ thực phẩm. Hiện nay
ngành y tế và thuỷ sản đã có quyết định áp dụng hệ thống này đối với các xí nghiệp