Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƯỜNG THPT NGUYỄN SIÊU
TRƯỜNG THPT NGUYỄN SIÊU
***
***
SÁNG KIN KINH NGHIM
DẠY VIẾT PHÂN TÍCH BIỂU ĐỒ TIẾNG ANH THÔNG QUA
PHÂN TÍCH BÀI VIẾT MẪU CHO HỌC SINH LỚP 11 TRƯỜNG
THPT NGUYỄN SIÊU
Tổ : Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Môn : Ngoại Ngữ
Giáo viên : Bùi Thị Thu Nhung
Khoi Châu, thng 2 năm 2014
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài 2
1. Cơ sở lý luận 2
2. Cơ sở thực tiễn 4
II. Mục đích nghiên cứu 5
III. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
IV. Phương php nghiên cứu 5
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
II. Thực trạng vấn đề nghiên cứu 8
III. Hoạt động Viết 9
như một ngôn ngữ toàn cầu, được biết đến như một công cụ hỗ trợ con người trong
giao tiếp. Tiếng Anh đã pht triển với một tốc độ chưa từng thấy ở Việt Nam, ngày
nay, việc học Tiếng Anh không còn là một “xu hướng”, mà nó đã trở thành một
trong những mối quan tâm hàng đầu của tất cả cc học sinh, sinh viên Việt Nam.
Từ thực tế này, học Tiếng Anh không còn đơn thuần là khả năng giao tiếp, mà đòi
hỏi người học phải pht triển cả bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc và viết. Những kỹ
năng tiếng này đồng thời cũng tích hợp và bổ trợ cho nhau. Trong số bốn kỹ năng,
kỹ năng Viết được coi là trọng tâm chính trong việc giảng dạy của cc khóa học
Tiếng Anh, kỹ năng này cũng được xem là kỹ năng khó và quan trọng nhất đối với
hầu hết người học (Jack C. & Willy A, 2002). Dễ dàng nhận thấy sự cần thiết của
việc viết một văn bản rõ ràng, mạch lạc trong những tình huống hàng ngày: viết
tiểu luận, bo co, hay thư xin việc…Hơn nữa, việc giảng dạy và rèn khả năng viết
Tiếng Anh như một ngoại ngữ thứ hai thậm chí còn gặp nhiều khó khăn hơn
(Melvyn, 2010). Người học Tiếng Anh như một ngoại ngữ hai phải đối mặt với
nhiều khó khăn, ví dụ như họ không có nhiều cơ hội để tiếp xúc và sử dụng Tiếng
Anh hàng ngày, đồng thời họ phải đối mặt với những khc biệt ngôn ngữ về mặt
chức năng, văn phong…của Tiếng Anh đối với tiếng mẹ đẻ (ở đây là Tiếng Việt).
1. Cơ sở lý luận
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, được hình thành và pht triển
cùng xã hội loài người, đó là đặc trưng của loài người khc hoàn toàn với loài vật.
Ngôn ngữ tồn tại trong cuộc sống hàng ngày của con người với vai trò là
phương tiện giao tiếp. Thông qua sự diễn đạt của ngôn ngữ mà người ta có thể hiểu
nhau hơn, hiểu được tâm trạng, thi độ của nhau để từ đó xây dựng được những
mối quan hệ xã hội, tc động lẫn nhau, làm cho xã hội loài người trở thành một tiết
chế chặt chẽ.
Đối với học sinh, việc hình thành ngôn ngữ cho cc em là việc làm hết sức
cần thiết, đòi hỏi chúng ta luôn phải tập trung hướng vào việc pht triển tính năng
động, sng tạo, tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết và giải quyết
vấn đề cho cc em. Để đạt được mục tiêu này, việc thay đổi phương php dạy học
trong nhà trường theo hướng coi trọng người học là chủ thể hoạt động, khuyến
của việc giảng cc kĩ năng ngôn ngữ khc.
Từ những luận điểm trên, việc p dụng cc phương php dạy Viết như thế
nào để giúp học sinh thực hiện một bài viêt Tiếng Anh tốt, nghĩa là đảm bảo chính
xc về yêu cầu bài viết, ngữ php, tính sng tạo trong bài viết là rất quan trọng.
Hơn thế nữa, mục đích cuối cùng của việc dạy – học ngoại ngữ không đơn thuần là
nhận biết cc hệ thống ngữ âm, từ vựng hay ngữ php mà học sinh phải biết sử
dụng cc hệ thống đó để đạt được những mục đích giao tiếp cụ thể: bằng lời nói,
bằng hành động, bằng văn bản…
Vai trò của kỹ năng Viết trong chương trình phổ thông hiện nay (cụ thể là
SGK Tiếng Anh 11 – Chương trình cải cch) chủ yếu là nhằm phối hợp với cc kỹ
năng lời nói khc để làm phong phú thêm cc hình thức luyện tập trên lớp cũng
như cc bài tập ở nhà nhằm củng cố thêm những kiến thức đã học, đồng thời giúp
học sinh bước đầu làm quen với văn phong, cấu trúc chặt chẽ của văn viết và học
cch sử dụng hoạt động viết vào một mục đích đơn giản như viết thư, viết văn
miêu tả người, biểu đồ, ngày lễ, địa điểm…
Bùi Thị Thu Nhung 3 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Về phía giáo viên
Nhìn từ góc độ của một gio viên dạy ngoại ngữ, tôi thấy rằng sch Tiếng
Anh 11 – Chương trình cải cch có sự phân chia rất rõ ràng cc kỹ năng: Reading –
Speaking – Listening – Writing. Cuối mỗi bài là phần Language Focus – tập trung
vào phân tích cc thành tố ngữ php. Một điều thuận lợi nữa cho gio viên đó là
trong mỗi phần lại được phân chia thành cc nhiệm vụ cụ thể. Có thể nói rằng SGK
Tiếng Anh 11 như một “gio n mẫu”. Điều này không có nghĩa là gio viên chỉ
cần yêu cầu học sinh làm chủ cc quy trình trong SGK là xong, mà điều quan trọng
nhất là gio viên cần có những thủ thuật chuyển hóa cc quy trình đó thành kỹ
năng thực thụ.
Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy những khó khăn nhất định mà gio
dụng trong năm học 2013 – 2014, tôi mạnh dạn trao đổi với quý thầy cô gio dạy
môn Tiếng Anh về một khía cạnh nhỏ của vấn đề dạy – học Viết, đó là:
“Dạy viết phân tích biểu đồ Tiếng Anh thông qua phân tích bài viết mẫu
cho học sinh lớp 11 trường THPT Nguyễn Siêu.”
II. Mục đích nghiên cứu
Qua qu trình nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích vấn đề, tc giả mong muốn
đưa ra được một cch học viết phân tích biểu đồ theo văn bản cho sẵn để khai thc
tính chủ động, sng tạo của học sinh trong qu trình rèn luyện cc kỹ năng trong
dạy học Tiếng Anh.
Bên cạnh đó, tc giả hy vọng có thể giúp rèn luyện và pht triển kỹ năng
Viết cho học sinh:
Nhận biết -> Suy nghĩ -> Dựng ý -> Diễn đạt thành văn
Học sinh biết phân tích, khai thc cc bài viết mẫu về miêu tả biểu đồ, từ đó
đưa ra được dàn ý chung cho dạng bài phân tích biểu đồ, cch mở bài giới thiệu ý
tổng qut đến cch triển khai ý chi tiết và kết luận. Thêm vào đó, HS có thể tự tìm
tòi, học hỏi cc cấu trúc ngữ php hay, từ vựng liên quan để đưa vào bài viết của
mình một cch sng tạo, mang dấu ấn c nhân.
III. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Phân tích biểu đồ là một dạng cụ thể của thể loại viết đoạn văn. Tuy nhiên
do giới hạn về kinh nghiệm của tc giả cũng như thời gian thực hiện đề tài, trong
nội dung của sng kiến kinh nghiệm, tc giả chỉ mong muốn giới thiệu cch phân
tích bài viết biểu đồ mẫu cho cc giờ thực hành viết miêu tả biểu đồ trong SGK
Tiếng Anh 11 – Chương trình đổi mới đối với học sinh lớp 11 trường THPT
Nguyễn Siêu năm học 2013 – 2014.
IV. Phương pháp nghiên cứu
1. Phương php nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu đọc tài liệu, gio trình có
liên quan đến vấn đề nghiên cứu bằng phương php phân tích, tổng hợp, so snh để
Bùi Thị Thu Nhung 5 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
tế.
Nói về kỹ năng Viết, Thạc sĩ Trần Văn Hùng nhận định đây là một trong
những kỹ năng giao tiếp cơ bản nhất của con người, có vai trò rất quan trọng trong
công việc của bất kỳ c nhân nào và ở bất kỳ vị trí công tc nào. Đã rất nhiều bài
viết, bài nghiên cứu về việc dạy và học Ngoại Ngữ (cụ thể là Tiếng Anh) và cũng
không ít bài nghiên cứu về việc dạy và học kỹ năng Viết. Rõ ràng, trong số bốn kỹ
năng, kỹ năng Viết được coi là trọng tâm chính trong việc giảng dạy Tiếng Anh, kỹ
năng này cũng được xem là kỹ năng khó và quan trọng nhất đối với hầu hết người
học (Jack C. & Willy A, 2002). Học viên thường nản chí trong cc giờ học Viết do
sự thiếu hụt về kiến thức xã hội, thiếu vốn từ vựng hay cấu trúc cần thiết…Để khắc
phục vấn đề đó, có rất nhiều gio viên đã nghiên cứu, tìm tòi và ứng dụng cc
phương php khc nhau trong giảng dạy. Có rất nhiều thủ thuật để tiến hành trong
dạy kĩ năng Viết, như viết theo mẫu, viết có hướng dẫn hay viết tự do, người gio
viên phải tuỳ thuộc vào trình độ cụ thể của học sinh, biết vận dụng một cch linh
hoạt cc thủ thuật khc nhau để đạt được mục đích cuối cùng là giúp học sinh tích
hợp những kiến thức đã học vào kĩ năng Viết một cch hiệu quả nhất (Nguyễn
Phương Ngọc, 2008).
Đi sâu vào nghiên cứu dạy Viết theo phương php thực hành viết theo văn
bản cho sẵn, tc giả Nguyễn Thị Thanh Trúc (2010) cho rằng nếu môn viết được
dạy có hệ thống sẽ giúp học viên bớt lo lắng, nản chí và càng có nhiều học viên
thích thú học viết.
Phương php thực hành viết phân tích theo văn bản cho sẵn – model
text deconstruction process (MTDP). Đây là một phương php dựa trên lý thuyết
Bùi Thị Thu Nhung 7 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
phân tích cảm nhận văn học của triết gia người Php – Jacques Derrida đề xuất từ
cuối thập niên 60 của thế kỷ XX. Phương php này chỉ ra rằng trong ngôn ngữ
không phải lúc nào cũng có một ý nghĩa, một bài văn có ý nghĩa thế nào tùy ở
người đọc cảm nhận chứ không phải tc giả bài viết p đặt, cch này còn gọi là
phạm trong cc bài làm của học sinh; ít triển khai cc bài kiểm tra theo hình thức
tiểu luận, bài tập lớn,…Thêm vào đó, nhiều gio viên chưa có sự đầu tư đầy đủ cho
bài giảng của mình trước khi đến lớp. Việc chuẩn bị cc đồ dùng dạy học hay thiết
Bùi Thị Thu Nhung 8 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
kế cc hoạt động, trò chơi tạo hứng thú lại mất qu nhiều thời gian cũng khiến
không ít gio viên nản lòng. Vì thế không ít gio viên chỉ sử dụng những nội dung
sẵn có trong SGK để hướng dẫn học sinh. Như vậy, trong qu trình học cc kỹ
năng, đặc biệt là kỹ năng Viết, học sinh có thể sẽ cảm thấy uể oải, nhàm chn và
khó thực hiện tốt nhiệm vụ của bài học. Bên cạnh đó, thời gian dành cho tiết thực
hành Viết trên lớp không nhiều, đôi khi nhiệm vụ thực hiện lại qu nhiều hoặc
mang tính chất lặp đi lặp lại, gây nản chí cho người học, trong khi Tiếng Anh vẫn
là một ngoại ngữ qu khó với học sinh, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.
Bên cạnh đó còn có cc nguyên nhân từ chính bản thân học sinh: học sinh
ngày càng ít đọc (bài bo, sch) của cc tc giả có uy tín, ít chủ động và kiên trì
thực hành viết; trong khi đó học sinh lại bị tc động tiêu cực của ngôn ngữ chat,
blog, phim ảnh, truyện tranh và ca nhạc thị trường, thậm chí bị ảnh hưởng bởi tình
trạng sử dụng sai lỗi chính tả và ngữ php trong cc gio trình, tài liệu, văn bản,
vv…Vậy trong khi viết Tiếng Việt còn là một vấn đề nan giải thì khi học sinh phải
luyện viết một ngôn ngữ nước ngoài mà họ còn chưa nói thành thạo lại càng trở
nên khó khăn. Điều đó dẫn đến một thực trạng là hầu hết học sinh trong cc giờ
luyện viết Tiếng Anh đều không có sự đam mê, hứng thú hay chú ý. Đa số học sinh
chỉ ngồi ghi chép theo những điều gio viên hướng dẫn mà không hiểu bản chất
vấn đề, không có sự tìm tòi, suy nghĩ, trăn trở trong bài viết. Thay vào đó để hoàn
thành bài tập viết, học sinh lại tìm tới những cuốn sch giải, những bài văn viết sẵn
để chép mà không có sự phân tích, chọn lọc ngôn ngữ, ý tưởng hay cấu trúc …theo
đúng như dụng ý của nhà biên soạn Sch tham khảo. Điều này dẫn đến hậu quả là
mặc dù học sinh đã được học Tiếng Anh rất nhiều năm rồi nhưng lại không thể viết
nổi một đoạn văn tự giới thiệu về bản thân hay miêu tả đơn giản về một đồ vật hay
giả đã đề cập trước đó đưa ra.
2. Tại sao cần dạy Viết?
Mục đích của việc học một ngoại ngữ nào đó là để chúng ta có thể giao tiếp
với người nước ngoài, để hiểu và nói chuyện với họ. Một phần thiết yếu của việc
tiếp cận một nền văn hóa mới là việc học cch gio tiếp như thế nào khi mà đối
tượng giao tiếp không ở ngay trước mặt chúng ta để nghe chúng ta nói hay quan st
những cử chỉ, điệu bộ hay biểu hiện nét mặt của chúng ta. Vậy trong tình huống
này, chúng ta bắt buộc phải để lại tin nhắn hay viết thư…Hay trong những tình
huống khc như điền vào phiếu thông tin khch hàng, viết hướng dẫn, miêu tả …
luôn bắt buộc chúng ta phải biết viết làm sao cho rõ ràng, mạch lạc, chính xc,
đúng ngôn ngữ và cấu trúc …
Đối với qu trình dạy và học, Raim (1993, p3) cho rằng đây là một lý do
chính đng và rất quan trọng: viết giúp học sinh của chúng ta học tốt hơn. Tc giả
đã chỉ ra ba cch mà học sinh có thể học được qua hoạt động Viết.
Trước tiên, Viết giúp củng cố lại cc cấu trúc ngữ php, thành ngữ, và từ
vựng mà gio viên đã dạy cho học sinh.
Thứ hai, khi học sinh viết, cc em cũng có cơ hội được thử thch với ngôn
ngữ, để vượt lên trên điều đó, dm mạo hiểm.
Thứ ba, khi viết, học sinh bắt buộc phải thực sự hòa mình vào ngôn ngữ
mới, nỗ lực để thể hiện ý kiến, quan điểm và việc liên tục sử dụng mắt, tay và bộ
óc là cch tốt nhất để củng cố lại bài học.
Chính hoạt động Viết đã cung cấp cho học sinh cơ hội vừa tập hợp ngôn ngữ
vừa luyện tập cc kỹ năng giao tiếp. Qua hoạt động Viết, học sinh sẽ nhận ra cc
em đã nắm vững được những phần nào và những vấn đề gì cc em cần phải học hỏi
Bùi Thị Thu Nhung 10 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
thêm để trở thành một người viết thành thạo, cũng như một người học tốt. Như
vậy, vấn đề đặt ra cho gio viên không phải là “tại sao lại cần dạy Viết” mà là làm
thế nào để giúp học sinh xây dựng được mục đích chính xc cho việc học Viết.
phân tích mỗi loại biểu đồ cũng có sự phân biệt. Tuy nhiên trong đề tài này, tc giả
sẽ cố gắng đưa ra những điểm chung nhất của hai loại biểu đồ để có thể đưa ra
được cch phân tích biểu đồ chung bằng Tiếng Anh với sự hỗ trợ của bài viết mẫu.
2. Kết cấu của một đoạn văn phân tích biểu đồ
Để viết được một đoạn văn phân tích biểu đồ hay, trước hết cần nắm rõ thế
nào là đoạn văn và cấu trúc của nó ra sao. Đoạn văn là sự kết hợp của một vài câu
cùng bàn luận về một đề tài chung. Đoạn văn được chia thành ba phần cơ bản: câu
chủ đề, phần bổ trợ và câu kết.
- Câu chủ đề (Topic sentence): câu dùng để giới thiệu khi qut ý của cả
đoạn văn. Nó định hướng cho người đọc về phần tiếp theo của đoạn văn và giúp
người viết kiểm sot được ý, không bị viết lệch hướng. Câu chủ đề thường là câu
đứng đầu đoạn, đặc biệt trong cc đoạn văn học thuật. Cũng có những trường hợp
câu chủ đề không đứng ở đầu câu mà ở giữa câu hoặc cuối câu nhưng sẽ ít gặp
hơn. Đối với đoạn văn phân tích biểu đồ thì câu chủ đề luôn xuất hiện ở đầu đoạn
nhằm giới thiệu đối tượng được thể hiện ở biểu đồ, cc thông tin về thời gian, địa
điểm và xu hướng chung nhất được thể hiện ở biểu đồ. Với những biểu đồ chứa
nhiều thông tin thì câu chủ đề có thể được tch làm hai câu.
Ví dụ, SGK Tiếng Anh 11 bài 5 – Illiteracy, phần viết đoạn văn miêu tả
bảng thông tin có câu mở đầu như sau: “The table describes the trends of literacy
rates in Sunshine country from 1998 to 2007” (nghĩa là biểu đồ thể hiện sự pht
Bùi Thị Thu Nhung 13 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
triển về tỉ lệ biết chữ ở Sunshine từ năm 1998 đến năm 2007. Trong câu mở đầu
này, tc giả đã cung cấp cc thông tin về đối tượng được miêu tả (sự pht triển về tỉ
lệ biết chữ), thời gian (từ năm 1998 đến năm 2007) và địa điểm (ở Sunshine). Phần
tiếp theo của đoạn văn, tc giả cần tập trung triển khai cc ý, phân tích nhằm làm
rõ vấn đề được nêu ở câu chủ đề. Đối với độc giả, sau khi đọc câu mở đầu này,
người đọc có thể đon được nội dung tiếp theo của đoạn văn sẽ nói về điều gì.
- Câu bổ trợ (Supporting sentences): những câu bổ sung ý nghĩa hoặc giải
sau: “In conclusion, the literacy rates in Sunshine has changed sharply from
Bùi Thị Thu Nhung 14 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
region by region from 1998 to 2007”. Câu văn đã tổng kết lại về tỉ lệ người biết
chữ ở mỗi vùng ở Sunshine là khc nhau theo từng năm.
3. Cách viết đoạn văn phân tích biểu đồ
Nhìn chung, về cơ bản thì cch viết một đoạn văn phân tích biểu đồ cũng
giống như cch viết một đoạn văn phân tích thông thường. Tuy nhiên thì phần nội
dung cần bm st vào cc thông tin thể hiện trong biểu đồ.
3.1. Chuẩn bị (Preparation)
Đây là giai đoạn mà người viết cần suy nghĩ cẩn thận và tổ chức ý cho đoạn
văn định viết.
Các bước thực hiện
Bước 1: Suy nghĩ cẩn thận về những điều định viết. Thông thường người
viết cần suy nghĩ xem mình sẽ miêu tả biểu đồ đó thế nào bằng cch trả lời cc câu
hỏi như: Phần quan trọng nhất cần trình bày về biểu đồ là gì? Câu chủ đề cần được
viết như thế nào? Cần dùng những sự việc, ý kiến nào để bổ trợ cho câu đề tài?
Cần phải phân tích biểu đồ như thế nào, mô tả liệt kê hay so snh đối chiếu để làm
rõ vấn đề?
Ví dụ, SGK Tiếng Anh 11, bài 11 – Sources of energy, phần D – Writing, ở
bài số 2 yêu cầu về miêu tả biể đồ về sự tiêu thụ năng lượng ở Highland trong năm
2005, người viết có thể trả lời cc câu hỏi trên như sau:
+ Phần quan trọng nhất cần trình bày về biểu đồ là thể hiện được sự khc
nhau về xu hướng sử dụng cc nguồn năng lượng thông qua cc số liệu cụ thể.
+ Câu chủ đề cần thể hiện cc thông tin về đối tượng miêu tả (ở đây là sự
tiêu thụ cc nguồn năng lượng), địa điểm (ở Highland) và năm (năm 2005).
+ Cc ý bổ trợ sẽ nói về tổng số năng lượng được tiêu thụ, tiếp đó là chi tiết
về số lượng mỗi nguồn năng lượng được tiêu thụ.
+ Đoạn văn có thể dùng cch liệt kê cc số liệu và so snh sự chênh lệch về
này, học sinh cần nhớ lại cch viết câu chủ đề, những câu bổ trợ và câu kết. Cần
chú ý viết những câu đơn giản và rõ ràng để bày tỏ ý kiến của mình. Hãy cố gắng
tập trung vào ý chính của đoạn văn, trnh đi lệch hướng.
Để giúp đoạn văn được rõ ràng, mạch lạc, dễ theo dõi, người viết cần nắm
vững một số cấu trúc sau:
+ Mở bài: Người viết cần nói được biểu đồ biểu diễn số liệu về gì bằng cc mẫu
câu sau:
The table shows/illustrates the trends in …. between …….
The graph shows……
The chart shows how the … have changed ……
Sau đó cần có câu tóm tắt tổng qut dữ liệu bằng cch nhìn tổng qut cc dữ
liệu chính. Chúng ta thường bắt đầu với:
In general, …
Overall, ……….
It can be seen that…………
Bùi Thị Thu Nhung 16 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
+ Thân bài: miêu tả những xu hướng chung nhất, nổi bật nhất từ cc dữ liệu. Khi
trình bày cc dữ liệu, cc bạn phải sử dụng cc từ nối để làm câu văn logic và
mạch lạc. Những từ nối như: in addition, therefore, furthermore,
Tiếp theo cần miêu tả chi tiết hơn, vẫn tập trung vào xu hướng chính nhưng tập
trung hơn vào cc dữ liệu nhỏ hơn, kèm theo số liệu minh họa.
Dưới đây là một số cấu trúc, từ ngữ thường dùng khi phân tích, so snh cc
số liệu trong biểu đồ:
Từ, cụm từ chỉ sự so sánh, đối chiếu:
Từ, cụm từ so sánh Từ, cụm từ đối chiếu
……the same as….
As well as
growth
a climb
a boom
(reach) a peak (at)
Giảm Decline (to) a decline (of)
Bùi Thị Thu Nhung 17 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
Fall (to)
Decrease (to)
Dip (to)
Drop (to)
Go down (to)
Reduce (to)
a fall (of)
a decrease (of)
a dip (of)
a drop (of)
a reduction (of)
Không đổi Level out
Not change
Remain stable (at)
Remain steady (at)
Stay (at)
Stay constant (at)
Maintain the same level
a leveling out
no change
Đối với dạng bài miêu tả quá trình, có thể sử dụng những từ và cụm từ để
diễn tả các bước như:
To begin/ the first stage / first / first of all….
After / after that / then… Following this….
Next / the next stage…. In the subsequent stage….
Followed by…. Finally / the final stage….
Alternatively,… Otherwise,…
In addition,… At the same time,…
Concurrently,….
+ Kết bài: Phần kết luận thường bắt đầu bằng In conclusion, To summary, To sum
up,….và tiếp đó là thông tin chung nhất về nội dung biểu đồ. Trnh sử dụng lặp từ
so với phần mở bài.
3.3. Chỉnh sửa lại đoạn văn (Correction)
Bùi Thị Thu Nhung 19 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
Đây là giai đoạn kiểm tra đoạn văn để tìm lỗi và sửa lại chúng. Trong qu
trình kiểm tra, người viết cần chú ý về những vấn đề sau:
+ Về ngữ pháp và chính tả: sau khi viết xong, người viết cần đọc lại bài viết
của mình, kiểm tra cc lỗi chính tả, ngữ php trong bài. Cần đảm bảo mỗi câu
trong bài đều là câu có nghĩa, chú ý sự hòa hợp giữa chủ ngữ và động từ, và kiểm
tra lại thì của mỗi câu…
+ Văn phong và cách tổ chức đoạn văn: đây cũng là phần quan trọng
không kém khi kiểm tra lại bài viết. Người viết cần đảm bào rằng bài viết của mình
có câu chủ đề và những câu bổ trợ đều tập trung vào ý chính, đúng chủ đề tạo nên
sự thống nhất cho toàn bài viết. Thêm vào đó, một bài viết tốt cần có sự liên kết rõ
ràng, mạch lạc giữa cc ý trong bài bằng cc liên từ cụ thể. Bài viết nên được kết
thúc một cch hợp lý.
bản mới thú vị hơn
- Qu trình viết cần đảm bảo tính chặt chẽ, lời văn mạch lạc, thuyết phục
4.2. Cách phân tích bài viết mẫu đạt hiệu quả
Trong chương trình dạy Viết Tiếng Anh THPT, đặc biệt là trong SGK Tiếng
Anh 10 và 11 – Chương trình cải cch, thì ở rất nhiều bài trong dạy kỹ năng Viết,
ví dụ như viết miêu tả biểu đồ, cc nhà biên tập SGK đã cung cấp cc bài viết mẫu
đi kèm với những yêu cầu chính của mỗi bài học. Cc bài viết mẫu có thể được đưa
ra ở nhiều dạng khc nhau như: điền vào chỗ trống (gap-filling), sắp xếp đoạn văn
(ordering) hay đọc đoạn văn trả lời câu hỏi (question and answer)…Nhưng dù bằng
cch nào thì dụng ý cuối cùng mà những nhà biên soạn sch mong muốn đạt được
là giúp gio viên và học sinh có thể sử dụng bài viết mẫu đấy, biết cch phân tích
nhằm đưa ra được dàn ý (outline) của bài viết, học hỏi cc cấu trúc ngữ php hay,
những từ ngữ chuyên dụng cho từng chủ đề viết để phục vụ cho qu trình dạy và
học. Nếu nắm bắt được điều này và biết tận dụng ưu điểm ấy thì qu trình dạy –
học Viết của gio viên và học sinh sẽ trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.
Vậy làm thế nào để có thể sử dụng bài viết mẫu một cch hiệu quả nhất?
Trong qu trình làm bài, gio viên cần hướng dẫn học sinh đọc và phân tích bài
viết mẫu bằng cch đặt cc câu hỏi mang tính gợi mở, yêu cầu học sinh phải suy
nghĩ, tìm tòi, phân tích để đưa ra câu trả lời chính xc, ví dụ: đoạn văn được chia
làm mấy phần? Phần mở đầu tc giả muốn giới thiệu điều gì? Có mấy ý chính
trong phần thân bài? Nó được trình bày ra sao? Tc giả đã liên kết cc ý trong đoạn
văn như thế nào? Sau khi học sinh đưa ra câu trả lời, gio viên cần tổng kết giúp
học sinh đưa ra được dàn ý chi tiết của đoạn văn, chỉ ra cc cấu trúc cơ bản,
chuyên biệt cho từng dạng bài viết. Học sinh cần ghi chú lại cc cấu trúc đó và ghi
nhớ. Gio viên có thể yêu cẩu học sinh lấy ví dụ, đặt câu với cc cấu trúc và từ ngữ
vừa học để kiểm tra xem học sinh đã thực sự hiểu và nắm vững vấn đề hay chưa.
Cuối cùng là giúp học sinh ứng dụng cc cấu trúc, từ ngữ vừa lấy được từ bài viết
mẫu vào giải quyết nhiệm vụ chính của bài học – viết đoạn văn theo chủ đề đã cho.
Bên cạnh đó, sự tích cực, chủ động của học sinh cũng có vai trò quan trọng không
kém. Cc em phải chủ động phân tích, tìm hiểu vấn đề theo gợi ý của gio viên,
Period: 39
UNIT 7 – WORLD POPULATION
PART D - WRITING
1. Aim: To write a description of pie charts
2. Objectives: By the end of the lesson, Ss will be able to:
- Learn how to write descriptions of a chart
- Interpret statistics on population from a chart given
Bùi Thị Thu Nhung 22 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ
Sáng kiến kinh nghiệm 2013 – 2014 Trường THPT Nguyễn
Siêu
- Learn some vocabulary related to describing a pie chart showing the
changes in the world population
3. Materials:
- Textbook, blackboard, handouts
4. Anticipated problem:
- Ss may find it hard to compare and contrast the statistics in the chart as
they lack related vocabulary and structures
-> Solution: T should provide them necessary words and structures before
writing by using model text.
5. Procedure:
Time/
Stages
Teacher’s activities Students’ activities
5.1
Warm – up
5’
* Chart drawing
- Ask Ss to work in groups of 3 - 4
- Prepare a table of information about the
distribution of population in the world.
1. pie 2. biggest 3. 3721
- Take the handouts
- Work in pairs, study the
paragraph and choose the best
answer
- Give the answers
- Correct the wrong ones
Bùi Thị Thu Nhung 23 Tổ Sử - Địa – Ngoại Ngữ