Luận văn: Hiệu quả của việc sử dụng FDI
tại Việt Nam trong 21 năm qua
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
21
Chƣơng 2: Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam trong 21
năm qua
2.1. Tóm tắt quá trình hình thành hệ thống pháp luật về đầu tƣ nƣớc ngoài tại
Việt Nam
Từ thực tiễn thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) 21
năm qua, đến nay có thể nói trong điều kiện của thế giới và khu vực hiện nay, ĐTNN thực
sự trở thành hình thức hợp tác kinh tế quốc tế rất hiệu quả đối với các nước đang phát
triển
Nhìn lại 21 năm trước, trong bối cảnh quốc tế: chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và
Đông Âu tan vỡ; các thế lực thù địch tìm cách chống phá Việt Nam trên nhiều mặt. Thế
giới có những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị và an ninh quốc tế, sự phục hồi
chậm của nền kinh tế thế giới và biến động giá cả trên thị trường quốc tế Các nước đang
phát triển ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á thực hiện cải cách kinh tế, trở thành khu
vực phát triển năng động của thế giới. Tình hình trong nước: Việt Nam là một nước nông
nghiệp lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, nền kinh tế ở tình trạng kém phát triển,
sản xuất nhỏ, mang nặng tính chất tự cấp tự túc, cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao
việc nước ta đã ký kết 51 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước và vùng
lãnh thổ. Vì vậy, ngay trong điều kiện cơ chế thị trường của Việt Nam chưa hoàn thiện,
các nhà ĐTNN vẫn có thể tiến hành các hoạt động đầu tư thuận lợi ở Việt Nam mà không
có sự khác biệt đáng kể so với một số nước có kinh tế thị trường truyền thống.
Nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất
trong hệ thống pháp luật về đầu tư và tạo "một sân chơi" bình đẳng, không phân biệt đối
xử giữa các nhà đầu tư; đơn giản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và
sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng
cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, năm 2005 Quốc hội đã ban hành
Luật Đầu tư có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 và thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước. Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước ta đối với thành phần kinh tế có vốn ĐTNN, một bộ phận quan trọng của nền kinh
tế. Mặt khác, đó cũng là yêu cầu phù hợp với quy luật chung, nhằm đáp ứng kịp thời sự
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
23
biến đổi khách quan của tình hình phát triển kinh tế trong nước cũng như quốc tế trong
từng thời kỳ, để tiến tới một đạo luật ngày càng hoàn chỉnh phù hợp với xu thế hội nhập,
nâng cao khả năng thu hút và sử dụng hiệu quả vốn ĐTNN. Thực tế đã chứng minh việc
ban hành Luật Đầu tư đã góp phần quan trọng trong việc tạo ra những chuyển biến tích
cực của tình hình ĐTNN vào Việt Nam kể từ năm 2006 tới nay
Luật Đầu tư năm 2005 xác định việc phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh và Ban
quản lý Khu Công nghiệp, Khu chế xuất, Khu Công nghệ cao và Khu kinh tế cấp Giấy
Chứng nhận đầu tư (GCNĐT) cũng như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt những dự
án phải trình Thủ tướng Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ chỉ chấp thuận về nguyên tắc
đối với một số dự án quan trọng chưa có trong quy hoạch, hoặc chưa có quy hoạch.
Những dự án đã có trong quy hoạch được duyệt và đáp ứng các điều kiện theo quy định
Tích luỹ tăng Tạo đà phát triển cho giai đoạn sau.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, ổn
định đời sống dân cư:
Khi chưa có FDI : Đầu tư thấp quy mô SX nhỏ Sử dụng ít lao động
thất nghiệp
Khi có FDI : Đầu tư tăng quy mô SX tăng Sử dụng nhiều lao động, tạo
nhiều việc làm Giảm thất nghiệp
Tăng thu nhập dân cư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ kích thích quá trình SX: FDI đầu tư tăng
SX tăng
Cầu đầu vào tăng (NVL) Tăng SX cung cấp đầu vào (NVL)
Kể từ khi giành được độc lập, sự phát triển của nền kinh tế ở miền Bắc nước ta gắn
với sự hỗ trợ của các nước xã hội chủ nghĩa. Sau nhiều thập kỷ chiến tranh đồng thời giữ
vững độc lập, tự chủ, việc tìm đến nguồn lực bên ngoài cho phát triển cả về vốn và công
nghệ dưới hình thức FDI là hết sức cần thiết. Đối với nền kinh tế nước ta, việc vay thương
mại để nhập khẩu công nghệ là quá sức chịu đựng của nền kinh tế. Xuất phát từ bối cảnh
trên, để thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế-xã hội nguồn vốn
nước ngoài mà chúng ta có thể sử dụng được chính là vốn FDI. Thực tế đến nay đã chứng
tỏ sự lựa chọn của chúng ta là đúng đắn, đồng thời cũng nói lên sự cần thiết có tính lịch
sử và khách quan của FDI đối với công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước.
Mục tiêu của nước ta là đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước. Tuy nhiên, trong điều kiện
tích luỹ nội bộ nền kinh tế còn nhỏ bé, vấn đề tăng vốn đầu tư xã hội nói chung, trong đó
có nguồn vốn từ bên ngoài (thông qua việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài) đang nổi lên như một yêu cầu cấp bách. Sự cần thiết của FDI đã thể hiện qua
tất cả các đặc điểm và ưu thế của nó: vừa là sự bổ sung đáng kể về vốn đầu tư phát triển,
vừa là kênh dẫn chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm và phương thức quản lý tiên tiến,
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
26
thành phần kinh tế khác và đóng góp tích cực vào thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội
của đất nước. Năm 1995 thu hút được 6,6 tỷ USD vốn đăng ký, tăng gấp 5,5 lần năm
1991 (1,2 tỷ USD). Năm 1996 thu hút được 8,8 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 45% so với
năm trước.
Trong 3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13
tỷ USD; nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước: năm 1998 chỉ bằng 81,8%
năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998, chủ yếu là các dự án có quy mô vốn vừa
và nhỏ. Cũng trong thời gian này nhiều dự án ĐTNN được cấp phép trong những năm
trước đã phải tạm dừng triển khai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa
số từ Hàn Quốc, Hồng Kông). Năm 2000 đã có thêm 391 dự án được cấp mới với tổng số
vốn đăng ký cấp mới đạt 2,7 tỷ USD, tăng 21% so với năm 1999.
Trong giai đoạn 2001-2005 thu hút vốn cấp mới (kể cả tăng vốn) đạt 20,8 tỷ USD
vượt 73% so với mục tiêu tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của Chính phủ,
vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD tăng 30% so với mục tiêu. Nhìn chung trong 5 năm 2001-
2005, vốn ĐTNN cấp mới đều tăng đạt mức năm sau cao hơn năm trước (tỷ trọng tăng
trung bình 59,5%). Trong 5 năm này đã có tổng cộng 3.630 dự án được cấp nhưng đa
phần là các dự án có quy mô vừa và nhỏ.
Đặc biệt trong 2 năm 2006-2007, dòng vốn ĐTNN vào nước ta đã tăng đáng kể với
sự xuất hiện của nhiều dự án quy mô lớn đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp (sản
xuất thép, điện tử, sản phẩm công nghệ cao, ) và dịch vụ (cảng biển, bất động sản, công
nghệ thông tin, du lịch - dịch vụ cao cấp .v.v.). Năm 2006 cả nước đã thu hút được trên
10,2 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 5,7% so với năm trước và đạt mức cao nhất từ khi ban
hành luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đến thời điểm này. Trong tổng vốn
đầu tư nước ngoài đăng ký 2006 có gần 8 tỷ USD vốn đăng ký của hơn 800 dự án mới và
1654
550
820
748
723
789
800
1544
1171
145
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
1600
1800
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
28
Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng doanh nghiệp
ĐTNN còn ít. Từ số vốn đầu tư tăng thêm đạt 2,13 tỷ USD trong 5 năm 1991-1995 thì ở
giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước (4,17 tỷ USD). Giai đoạn
2001-2005 vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,08 tỷ USD (vượt 18% so dự kiến là 6 tỷ USD) tăng
2.6
3.7
3.87
10.2
21.3
64.01
6.35
0
10
20
30
40
50
60
70
80
2006
2007
2008
2009
Vốn cấp mới và tăng thêm
Vốn tăng thêm
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
29
vực sản xuất công nghiệp và xây dựng đã giảm xuống còn 48,85% về số dự án và 54,12%
về vốn đầu tư đăng ký và tính đến hết ngày 22/4/2009 thì tỷ lệ vốn tăng thêm lại tăng
50
60
1988-1990
1991-1995
1996-2000
2001-2005
2006-2007
2008
Quy Mô dự án
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
30
giai đoạn 2001-2005 thuộc dự án có quy mô vừa và nhỏ. Trong 2 năm 2006 và 2007, quy
mô vốn đầu tư trung bình của một dự án đều ở mức 14,4 triệu USD, cho thấy số dự án có
quy mô lớn đã tăng lên so với thời kỳ trước, thể hiện qua sự quan tâm của một số tập đoàn
đa quốc gia đầu tư vào một số dự án lớn (Intel, Panasonic, Honhai, Compal, Piaggio ).
Đặc biệt năm 2008 quy mô dự án bình quân là 51,47 triệu USD/dự án, cao hơn rất nhiều
so với thời gian trước.
2.3.4. Cơ cấu vốn ĐTNN từ 1988 đến nay
2.3.4.1. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng
Từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam đã chú trọng thu hút
ĐTNN vào lĩnh vực công nghiệp-xây dựng. Qua mỗi giai đoạn các lĩnh vực ưu tiên thu
hút đầu tư, các sản phẩm cụ thể được xác định tại Danh mục các lĩnh vực khuyến khích và
đặc biệt khuyến khích đầu tư. Trong những năm 90 thực hiện chủ trương thu hút ĐTNN,
Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các dự án : (i) sản xuất sản phẩm
thay thế hàng nhập khẩu, (ii) sản xuất hàng xuất khẩu (có tỷ lệ xuất khẩu 50% hoặc 80%
trở lên), (iii) sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước và có tỷ lệ nội địa hoá cao.
Công nghiệp và xây dựng
6,303
87,799,745,637
29,663,816,911
CN dầu khí
48
14,477,841,815
4,658,841,815
CN nhẹ
2,740
15,680,141,811
6,884,439,318
CN nặng
2,602
47,164,684,169
14,132,235,521
CN thực phẩm
350
4,199,005,162
1,875,954,424
Xây dựng
563
6,278,072,680
2,112,345,833
Bảng 2.1: Phân bố vốn FDI trong ngành công nghiệp và xây dựng
2.3.4.2. ĐTNN trong lĩnh vực dịch vụ
Nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
kinh doanh dịch vụ phát triển từ khi thi hành Luật Đầu tư nước ngoài (1987). Nhờ vậy,
khu vực dịch vụ đã có sự chuyển biến tích cực đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản
xuất, tiêu dùng và đời sống nhân dân, góp phần đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế. Một số
25
26
1,858,586,500
571,791,647
Khách sạn-Du lịch
26
52
9,126,098,875
1,951,121,408
Tài chính-Ngân hàng
1
2
18,200,000
25,000,000
Văn hóa-Ytế-Giáo dục
21
43
489,511,894
236,084,200
XD Khu đô thị mới
5
9
137,249,866
445,021,655
XD Văn phòng-Căn hộ
5
3
4,896,500,000
400,000,000
XD hạ tầng KCX-KCN
4,465,834,460
Tài chính-Ngân hàng
68
1,057,777,080
991,354,447
Văn hóa-Ytế-Giáo dục
294
1,758,606,263
642,864,566
XD Khu đô thị mới
14
8,224,680,438
2,841,813,939
XD Văn phòng-Căn hộ
189
19,361,686,326
5,735,689,586
XD hạ tầng KCX-KCN
36
1,780,515,658
558,735,597
Bảng 2.3: Phân bố vốn FDI trong ngành dịch vụ (chỉ tính dự án còn hiệu lực)
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
33
Trong năm 2007 tuy vốn đầu tư đăng ký tiếp tục tập trung vào lĩnh vực công nghiệp
(50,6%), nhưng đã có sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư mạnh vào lĩnh vực dịch vụ, chiếm
Thủy sản
138
470,000,029
265,935,220
Bảng 2.4: Phân bố vốn FDI trong ngành Nông, lâm nghiệp đến 19/12/2008
( chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Cho đến nay, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào ngành Nông -
Lâm - Ngư nghiệp nước ta, trong đó, các nước châu Á ( Đài Loan, Nhật Bản, Trung
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
34
Quốc, Hồng Kông, ) chiếm 60% tổng vốn đăng ký vào ngành nông nghiệp (riêng Đài
Loan là 28%). Các nước thuộc EU đầu tư vào Việt Nam đáng kể nhất gồm có Pháp (8%),
quần đảo British Virgin Islands (11%). Một số nước có ngành nông nghiệp phát triển
mạnh (Hoa Kỳ, Canada, Australi) vẫn chưa thực sự đầu tư vào ngành nông nghiệp nước
ta.
Các dự án ĐTNN trong ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở phía
Nam. Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành, đồng bằng sông Cửu
Long 13%, duyên hải Nam Trung Bộ 15%. Miền Bắc và khu vực miền Trung, lượng vốn
đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bằng sông Hồng lượng vốn đăng ký cũng chỉ đạt
5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước
2.3.4.4. Đầu tư nước ngoài phân theo vùng, lãnh thổ
Qua 21năm thu hút, ĐTNN đã trải rộng khắp cả nước, không còn địa phương
“trắng” ĐTNN nhưng tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương, làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế
động lực, lôi kéo phát triển kinh tế-xã hội chung và các vùng phụ cận.
Vùng trọng điểm phía Bắc có 2.220 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư trên 24 tỷ
thái thu hút vốn ĐTNN còn khiêm tốn như vùng Đông Bắc và Tây Bắc, trong đó, tuy Lâm
Đồng (93 dự án với tổng vốn đăng ký 318,4 triệu USD) đứng đầu các tỉnh khu vực Tây
Nguyên nhưng chỉ chiếm tỷ trọng 1% về số dự án. Đồng bằng sông Cửu Long thu hút vốn
ĐTNN còn thấp so với các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% về vốn đăng ký
và 3,2% vốn thực hiện của cả nước.
Khu vực
Số dự án
Tổng vốn (tỷ USD)
Phía Bắc
2220
24
Phía Nam
5293
44,87
Miền Trung
491
8,6
Bảng 2.5: Thống kê số dự án và tổng vốn các dự án ở các khu vực tới cuối năm 2008
Tuy Nhà nước đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho những vùng có điều kiện địa lý-
kinh tế khó khăn nhưng việc thu hút ĐTNN phục vụ phát triển kinh tế tại các địa bàn này
còn rất thấp.
2.3.4.5. Đầu tư nước ngoài phân theo hình thức đầu tư
Tính đến hết năm 2008, chủ yếu các doanh nghiệp ĐTNN thực hiện theo hình thức
100% vốn nước ngoài, có 7574 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký 87 tỷ USD, chiếm
77,3% về số dự án và 58.5% tổng vốn đăng ký. Theo hình thức liên doanh có 1.822 dự án
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
36
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
37
Trong số 9.803 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 149,7 tỷ đô la Mỹ, đã
có khoảng 50% dự án triển khai góp vốn thực hiện đạt hơn 54,5 tỷ USD (bao gồm cả vốn
thực hiện của các dự án hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn), chiếm 36,4%
tổng vốn đăng ký, trong đó, vốn của bên nước ngoài đưa vào (gồm vốn góp và vốn vay)
khoảng 49 tỷ USD, chiếm 90% tổng vốn thực hiện, các dự án ĐTNN đã bổ sung nguồn
vốn quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội đất nước qua từng thời kỳ theo mục
tiêu kế hoạch đề ra.
Vốn thực hiện có xu hướng tăng qua các năm nhưng với tốc độ chậm trong khi vốn
đăng ký và số lượng dự án cấp mới biến động tăng mạnh. Nếu như cả giai đoạn 1991-
1995 vốn thực hiện mới đạt 7,1 tỷ USD, chiếm 44% tổng vốn đăng ký mới ( bao gồm
phần vốn góp của Bên Việt Nam trên 1 tỷ USD - chủ yếu là giá trị quyền sử dụng đất và
vốn nước ngoài đưa vào khoảng 6,1 tỷ USD) thì trong thời kỳ 1996-2000, mặc dù có ảnh
hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế khu vực, vốn thực hiện đã đạt 13,5 tỷ USD, tăng
89% so với 5 năm trước, chiếm 64,8% tổng vốn đăng ký mới (trong đó, vốn góp của Bên
Việt Nam là 1,5 tỷ USD và vốn từ nước ngoài đạt 12 tỷ USD) và tăng 90% so với 5 năm
trước. Trong 5 năm 2001-2005 vốn thực hiện đạt 14,3 tỷ USD, chiếm 64,8% tổng vốn
đăng ký mới, tăng 6% so với 5 năm trước và vượt 30% dự báo ban đầu (11 tỷ USD) nêu
tại Nghị quyết 09/2001/NQ-CP, trong đó, vốn góp của Bên Việt Nam đạt trên 1,1 tỷ USD
và vốn từ nước ngoài đạt 12,6 tỷ USD.
Năm
1991-1995
1996-2000
2001-2005
Giải ngân (Tỷ USD)
Tổng giải ngân
đạt 8,03 tỷ USD, vượt 4 tỷ USD so với báo cáo ban đầu (4,6 tỷ USD). Vốn giải ngân
tháng 12/2008 trên cả nước là 1,45 tỷ USD, nâng tổng số vốn giải ngân trong năm 2008
của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam lên con số 11,5 tỷ USD, tăng 43,2% so với năm
2007
Biểu đồ 2.5: Tình hình giải ngân từ 2005-2008
2.3.2. Triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh của dự án ĐTNN
Trong 20 năm qua, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đã góp phần đáng kể trong quá
trình phát triển kinh tế-xã hội đất nước bằng việc tạo ra tổng giá trị doanh thu đáng kể,
trong đó có giá trị xuất khẩu, cũng như đóng góp tích cực vào ngân sách và tạo việc làm
và thu nhập ổn định cho người lao động. Đồng thời, tiếp tục khẳng định vai trò trong sự
nghiệp phát triển kinh tế, đóng góp ngày càng lớn vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của
đất nước và thực sự trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế.
Từ mức đóng góp trung bình 6,3% của GDP trong giai đoạn 1991-1995, khu vực
doanh nghiệp ĐTNN đã tăng lên 10,3% GDP của 5 năm 1996-2000. Trong thời kỳ 2001-
2005, tỷ trọng trên đạt trung bình là 14,6%. Riêng năm 2005, khu vực ĐTNN đóng góp
khoảng 15,5% GDP, cao hơn mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 09 (15%). Trong ba năm
2006, năm 2007 và 2008 khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đóng góp trên 17% GDP.
3.15
4.2
8.03
11.5
0
2
4
6
8
10
12
14
17
0
5
10
15
20
1991-1995
1996-2000
2001-2005
2006-2008
4.1
27.09
77.4
119.55
0
20
40
60
80
100
120
140
1991-1995
1996-2000
2001-2005
2006-2008
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
20
25
30
35
40
1991-1995
1996-2000
2001-2005
Giá trị XK không dầu thô
12.6
27.3
24.465
0
5
10
15
20
25
30
2006
2007
2008
Giá trị XK tính cả dầu thô
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
41
(10%). Giai đoạn 1991-1995 do chính sách ưu đãi, khuyến khích ĐTNN của Nhà nước ta
6
1991-1995
1996-2000
2001-2005
2006-2008
1.4
1.48
1.982
0
0.5
1
1.5
2
2.5
2006
2007
2008
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
42
năm 2005. Trong năm 2008, khối doanh nghiệp FDI đã tạo ra trên 200 nghìn việc làm
mới, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1,467 triệu người, góp phần
quan trọng vào giải quyết vấn đề công an việc làm vốn đang rất nóng bỏng của Việt Nam
hiện nay.
2.3.3. Rút giấy phép đầu tư, giải thể trước hạn
Tính đến hết năm 2007, đã có 38 dự án ĐTNN kết thúc đúng thời hạn với tổng vốn
đăng ký 658 triệu USD. Các dự án kết thúc đúng thời hạn chủ yếu là các dự án đầu tư
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền
kinh tế Việt Nam, là khu vực có tốc độ phát triển năng động nhất.
2.5.1.1. Về mặt kinh tế
ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu
tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế:
Đóng góp của ĐTNN trong tổng vốn đầu tư xã hội có biến động lớn, từ tỷ trọng
chiếm 13,1% vào năm 1990 đã tăng lên mức 32,3% trong năm 1995. Tỷ lệ này đã giảm
dần trong giai đoạn 1996-2000, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực (năm
2000 chiếm 18,6%) và trong 5 năm 2001-2005 chiếm khoảng 16% tổng vốn đầu tư xã
hội; hai năm 2006-2007 chiếm khoảng 16% (Theo Niên giám Thống kê cơ cấu vốn đầu
tư thực hiện của khu vực ĐTNN năm 2003 là 16%, năm 2004 là 14,2%, năm 2005 là
14,9% và năm 2006 là 15,9%, ước năm 2007 đạt trên 16%). Năm 2008 tuy 3/4 thời gian
thực hiện chính sách thắ chặt tiền tệ và 1/4 thời gian bị tác động của khủng hoảng kinh tế
thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 189,9 nghìn tỷ đồng tăng 46,9% và chiếm
29,8% tổng vốn đầu tư của xã hội.
Vốn ĐTNN đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Từ năm 1991-
2000, GDP tăng liên tục qua các năm với tốc động tăng bình quân mỗi năm 7,56%, trong
đó: (i) 5 năm 1991-1995: tăng 8,18% (nông lâm ngư tăng 2,4%; công nghiệp xây dựng
tăng 11,3%, dịch vụ tăng 7,2%); (ii) 5 năm 1996-2000: tăng 6,94% (nông lâm ngư tăng
4,3%; công nghiệp xây dựng tăng 10,6%, dịch vụ tăng 5,75%). Nhờ vậy, đến năm 2000
tổng sản phẩm trong nước tăng gấp hơn 2 lần năm 1990: (iii) 5 năm 2001-2005: tốc độ
tăng GDP đạt 7,5% (nông lâm ngư tăng 3,8%; công nghiệp xây dựng tăng 10,2%, dịch vụ
tăng 7%; (iv) Năm 2006 đạt 8,17% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công nghiệp xây dựng tăng
10,37%, dịch vụ tăng 8,29% và (iv) Năm 2007 đạt 8,48% (nông lâm ngư tăng 3,4%; công
Chương 2:
Hiệu quả của việc sử dụng FDI tại Việt Nam …
Đỗ Thành Trung. Chỉ share ở
44
9.34
8.15
5.76
4.77
6.8
6.9
7.08
7.34
7.79
8.44
8.23
8.48
6.23
0
2
4
6
8
10
12