Đề tài: Ảnh hưởng của chế phẩm vi khuẩn nốt sần với các liều lượng đạm khác nhau đến năng suất lạc trong vụ Xuân 2010 tại HTX Hương Long, thành phố Huế - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đ ề tài:
Ảnh hưởng của chế phẩm vi khuẩn nốt
sần với các liều lượng đạm khác nhau
đến năng suất lạc trong vụ Xuân 2010
tại HTX Hương Long, thành phố Huế
MỤC LỤC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP 1
Đề tài: 1
Ảnh hưởng của chế phẩm vi khuẩn nốt sần với các liều lượng đạm khác nhau đến
năng suất lạc trong vụ Xuân 2010 tại HTX Hương Long, thành phố Huế 1
MỤC LỤC 2
5.1. Kết luận 49
5.2. Đề nghị 49
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp, cùng với sự phát triển của nền kinh tế
trong nước, ngành nông nghiệp nói chung và nghành trồng trọt nói riêng cũng
không ngừng đi lên về mọi lĩnh vực như: Nghiên cứu các biện pháp thâm
canh cây trồng, chọn tạo bộ giống thích hợp cho từng vùng, phát triển cơ giới
hoá cho địa phương,… Đặc biệt trong những năm gần đây nước ta chủ động
phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, mở rộng diện tích canh
tác, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu
trong đó có cây lạc.
Cây lạc (Archist hypogea.L) là cây công nghiệp quí và quan trọng ở nước
ta, được trồng từ Bắc vào Nam với nhiều tên gọi khác nhau như lạc, đậu lạc,
đậu phụng,… Tuy nhiên lạc không phải là cây nguyên sản ở Việt Nam.
Lich sử trồng lạc ở Việt Nam hiện nay chưa xác minh rõ ràng. Nếu căn
cứ vào tên gọi mà xét đoán thì danh từ “lạc” có thể là do từ Hán “Lạc hoa
sinh” là từ người Trung Quốc gọi cây lạc, như vậy có thể lạc từ Trung Quốc

có thể tăng 14 - 15% .
Tuy nhiên, để mang lại hiệu quả cao nhất trong việc nhiễm chế phẩm vi
khuẩn nốt sần thì việc sử dụng phân đạm phải có liều lượng hợp lý. Vì khi
nhiễm chế phẩm vi khuẩn nốt sần cho lạc sẽ làm tăng khả năng cố định đạm
nhờ có sự cộng sinh của vi khuẩn nốt sần. Nhưng trong trường hợp này, nếu
chúng ta bón lượng đạm cho lạc nhiều sẽ ức chế sự sinh trưởng và khả năng
cố định đạm của vi khuẩn nốt sần. Như vậy thì việc sử dụng chế phẩm vi
khuẩn nốt sần trở nên vô ích và lãng phí lượng đạm đã dùng.
Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của
chế phẩm vi khuẩn nốt sần với các liều lượng đạm khác nhau đến năng
suất lạc trong vụ Xuân 2010 tại HTX Hương Long, thành phố Huế”.
1.2. Mục đích của đề tài
- Khẳng định vai trò của VKNS đến sinh trưởng, phát triển và năng suất lạc.
- Xác định liều lượng đạm thích hợp nhất bón cho lạc ở địa bàn nghiên cứu.
- Xác định hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm VKNS đến đặc tính sinh
học và hóa học của đất trồng lạc.
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và Việt Nam
2.1.1. Tình hình sản xuất lạc trên thế giới
Cây lạc xếp thứ 13 trong các cây thực phẩm trên thế giới. Nó có nguồn
gốc từ Nam Mỹ nhưng hiện tại được trồng từ 40
0
vĩ Bắc đến 40
0
vĩ Nam thuộc
vùng nhiệt đới và các vùng ấm áp trên thế giới [1].
Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lạc trên thế giới
Chỉ tiêu
Diện tích

điều kiện rất thích hợp cho cây lạc phát triển. Cây lạc đã được nhân dân ta
trồng từ lâu đời và đã trở thành thực phẩm thông dụng trong bữa ăn hàng
ngày của người dân.
Trong phạm vi toàn quốc, lạc được phân bố chủ yếu ở 4 vùng lớn là đồng
bằng và trung du Bắc Bộ, đồng bằng Sông Hồng, Khu IV cũ và miền Đông
Nam Bộ. Cả 4 vùng này chiếm trên 3/4 diện tích và sản lượng lạc, số còn lại
nằm rải rác ở các tỉnh .
Vùng trung du Bắc Bộ, cây lạc chủ yếu được trồng trên đất bạc màu như
ở Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc,…vụ lạc chính từ tháng 2 đến tháng 6.
Vùng đồng bằng Bắc Bộ thì trồng trên chân đất bãi ven sông, chân đất
bạc màu,…
Vùng duyên hải Bắc Miền Trung trồng trên vùng đất cát ven biển là
chính.Vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thường lạc được trồng trên chân
đất cát ven sông suối, đất đỏ, đất đen.
Vùng Đông Nam Bộ trồng trên các loại đất đỏ bazan, đất đen,…
Trong các vùng, diện tích lạc tập trung nhiều nhất ở vùng duyên hải Bắc
Miền Trung. Với phương hướng phát triển sản xuất nông nghiệp là nền sản
xuất hàng hóa, phát huy các lợi thế của vùng chuyển dịch cơ cấu mùa vụ hợp
lý để né tránh thiên tai, tập trung phát triển cây màu, cây công nghiệp, cây ăn
quả. Trong đó, cây lạc là thế mạnh của vùng. Dự kiến đến 2010, diện tích lạc
toàn vùng đạt 93.000 ha [21], tập trung ở các tỉnh: Nghệ An, Thanh Hóa, Hà
Tĩnh,… Mở rộng diện tích lạc chủ yếu bằng phương pháp tăng vụ, thay đổi
công thức luân canh, chuyển một phần diện tích khoai lang xuân, đất cát ven
biển để trồng lạc .
Diễn biến về diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở Việt Nam trong 10
năm qua được thể hiện ở bảng 2.2.
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích

nhiều tiềm năng để phát triển cây lạc. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh đến 2010 đã xác định diện tích trồng lạc là 8.000 ha và sản
lượng dự kiến là 16.000 tấn.
Ở tỉnh Thừa Thiên Huế cây lạc được xem là cây trồng quan trọng mang
lại hiệu quả kinh tế cao và ổn đỉnh. Nhiều nơi đã chuyển đổi cơ cấu mở rộng
diện tích trồng lạc, đầu tư vào sản xuất lạc nên diện tích và năng suất đã có
những thay đổi đáng kể trong những năm gần đây.
Qua số liệu thống kê ta thấy diện tích trồng lạc từ năm 2000 - 2002 liên
tục tăng đạt đến 4.880 ha (2002), đến năm 2003 có giảm do giá cả không ổn
định bên cạnh đó sự chuyển giao một phần đất trồng lạc sang trồng sắn theo
dự án nhà máy tinh bột sắn của tỉnh, nhưng từ năm 2004 đến nay diện tích
trồng lạc của tỉnh bắt đầu tăng lên nhẹ và sự tăng giảm diện tích là không lớn
lắm.Về năng suất, từ 2000 - 2007 có xu hướng tăng và đạt 20,0 tạ/ha vào năm
2007 tăng 6 tạ/ha so với năm 2000 (14,1 tạ/ha). Diện tích lạc ít thay đổi
nhưng do năng suất tăng nên sản lượng lạc ngày càng tăng, năm 2000 (5.500
tấn) đến năm 2007 (9.549 tấn) tăng 4.049 [19]. Đạt được những thành tựu trên
đáng kể trên là nhờ sự quan tâm đầu tư của tỉnh Thừa Thiên Huế đến nông
nghiệp nói chung và cây lạc nói riêng. Mặc dù vậy tiềm năng phát triển cây
lạc vẫn còn rất lớn, cần có những chính sách hợp lý để thúc đẩy phát triển
diện tích trồng lạc.
Bảng 2.3. Tình hình sản xuất lạc ở Thừa Thiên Huế
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(ha)
Năng suất
(ta/Ha)
Sản lượng
(tấn)
2000 3900 14,1 5500

lupine; R. japonicum; R. meliloti.
Ngay từ 1888, người ta đã phát hiện rằng vi khuẩn nốt sần cộng sinh
với cây trồng thuộc bộ đậu có thể cố định được nitơ trong khí quyển nhưng
khi nó sống đơn độc trong đất lại không làm được điều đó. Quá trình khử N
2
thành NH
3
là do sự tham gia Nitrogenaza trong vi khuẩn, Nitrogenaza tạo
thành từ 2 bản thể: Một bản thể có phân tử thấp và chứa Fe; Một bản thể có
phân tử lượng cao và chứa Fe+Mo. Khi ở trong đất, 2 bản thể này tách rời
nhau nên vi khuẩn không có khả năng cố định nitơ. Chỉ khi vào nốt sần có
ATP của lạc đã làm cho nó khít lại, khi đó quá trình khử nitơ mới diễn ra.
Sau khi rễ ăn sâu vào đất, nó tiết ra các chất hữu cơ (đường, axít hữu
cơ, vitamin, enzim,…) hấp dẫn vi khuẩn nốt sần tương ứng. Vi khuẩn nốt sần
xâm nhập vào rễ cây bộ đậu thông qua các lông hút hoặc những tế bào bị
thương của biểu bì và vỏ rễ, đặc biệt là những chỗ phân nhánh của rễ. Do sự
kích thích của vi khuẩn, rễ tiết ra chất dịch bao vây lấy đường đi của vi khuẩn
và cũng là chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn, chúng tạo thành dây xâm
nhập nên vi khuẩn chỉ tiến vào tầng nội bì của rễ. Trong dây xâm nhập vi
khuẩn tiếp tục sinh sản, làm kích thích các tế bào bị xâm nhiễm và các tế bào
bao xung quanh, chúng nhanh chóng vào các tổ mô phân sinh và hình thành
các tế bào mới, từ đó phình ra tạo thành nốt sần [11]. Những nốt sần có khả
năng cố định nitơ phải là những nốt có dịch màu hồng đỏ, đó là màu của
Leghemoglobin, khi nốt sần già không thấy có Leghemoglobin trong dịch, nốt
sần mất màu hồng đỏ và cũng không còn khả năng cố định đạm nữa.
Thời gian đầu, sự cố định nitơ chưa có ý nghĩa đối với sinh trưởng phát
triển của cây lạc. Từ khi lạc ra hoa, đặc biệt là thời kỳ ra hoa rộ và hình thành
quả, sự cố định nitơ ngày càng có ý nghĩa và quan hệ lúc này là quan hệ cộng
sinh: Vi khuẩn sử dụng nguồn dinh dưỡng cacbon của lạc (dưới dạng gluxít)
và năng lượng, đồng thời cung cấp N

2
trong lớp khí quyển bên trên mỗi km
2
đất có khoảng 800.000 tấn nitơ,
lượng đủ cho cây sống trên kkhoảng 80 triệu năm nếu cây trồng đồng hoá
được chúng. Tuy nhiên con người cũng như cây trồng lại không thể tự lấy
nitơ từ không khí vì phân tử N
2
trong khí quyển tồn tại ở trạng thái liên
kết ba rất bền vững [13]. Muốn phá vỡ liên kết này người ta phải sử dụng
một năng lượng rất lớn để hoạt hoá. Dĩ nhiên trong cơ thể sinh vật không
thể đáp ứng được những điều kiện như trên. Thế nhưng vi khuẩn nốt sần
và một số vi sinh vật nhờ có những hệ enzim có hoạt tính xúc tác mạnh là
nitrogenaza, cũng có khả năng cố định N
2
trong điều kiện bình thường.
Với tiến bộ khoa học kỹ thuật, con người đã sản xuất được phân đạm
hoá học bằng cách phá vỡ liên kết ba trong phân tử nitơ, việc sản xuất phân
đạm hoá học ngày càng tăng nhưng cũng chỉ đáp ứng một phần nhỏ lượng
nitơ mà cây trồng lấy đi khỏi đất. Hàng năm sản phẩm nông nghiệp lấy đi
khỏi đất khoảng 100 -110 triệu tấn N, trong khi đó phân đạm hoá học chỉ bổ
sung được 30% số đạm bị lấy đi, chưa kể lượng phân đạm mà cây cần.
Đối với lạc, N là yếu tố quan trọng bởi vì cây lạc chứa một lượng lớn
trong thân, lá vá hạt lạc. Theo tài liệu của Xênêgan, một tấn lạc quả lấy đi 46
– 52 kg N. Khi thiếu N cây sinh trưởng và phát triển kém, lá chuyển màu
vàng, thân chuyển nâu đỏ, nếu thiếu N nghiêm trọng thì sau hai tháng có thể
chết đến 50% [12].
Tổ chức nông lượng thế giới (FAO) đã ước tính khả năng cố định nitơ
cộng sinh của vi khuẩn nốt sần làm tăng năng suất của lạc 10 - 15%, thậm chí
50% ở vùng trồng lạc trên đất mới, đồng thời tăng phẩm chất một cách rõ rệt.

Nga cho thấy cứ 3 năm trồng cây đậu đỗ làm giàu cho đất 300 - 600 kgN/ha;
cho 13 - 15 tấn mùn, cải thiện quá trình khoáng hoá trong đất và đẩy ra từ keo
đất 60 - 80 kg P
2
O
5
, 80 - 120 kg K
2
O/ha/năm, có thể thay thế được 20 - 60 kg
đạm ure [10].
Hàng năm cây trồng lấy đi từ đất hàng triệu tấn N, bằng cách bón phân
con người trả lại cho đất khoảng hơn 40%, lượng thiếu hụt còn lại cơ bản
được bổ sung bằng N do hoạt động sống của vi sinh vật. Vì vậy, hiện nay việc
nghiên cứu và sử dụng nguồn đạm sinh học được xem là giải pháp quan trọng
trong nông nghiệp, đặc biệt là trong xu hướng phát triển nền nông nghiệp bền
vững của thế kỷ XXI [2].
2.4. Tình hình sản xuất và sử dụng chế phẩm vi khuẩn nốt sần trên thế
giới và Việt Nam.
2.4.1. Tình hình sản xuất và sử dụng chế phẩm vi khuẩn nốt sần trên thế giới
Phân bón vi sinh do Noble Hiltmer sản xuất lần đầu tiên tại Đức năm
1896 và được đặt tên là nitragin. Sau đó loại phân này được phát triển sản
xuất tại nhiều nước trên thế giới như ở Mỹ (1896), Canada (1905), Nga
(1907), Anh (1910), Thụy Điển (1914) [22], và nhờ công nghệ tiên tiến mà
ngày càng phong phú và phát huy tác dụng cao.
Ở Mỹ năm 1895 lần đầu tiên người ta đã sản xuất được nitragin - phân
vi sinh để đưa vào ứng dụng trong nông nghiệp. Số lượng phân vi khuẩn nốt
sần sản xuất ở Mỹ hàng năm có thể xử lý cho 650 nghìn tấn hạt giống cây bộ
đậu (Erdman 1962) [14]. Năm 1968, hơn 70% diện tích trồng đậu đã được xử
lý bằng chế phẩm vi sinh vật cố định đạm.
Ở Nga, vào đầu thế kỷ XX người ta đã bắt đầu thí nghiệm dùng chế

Diện tích trồng
(1000ha)
Diện tích xử lý
(ha)
Tỷ lệ xử lý
(%)
1979 96,7 0 0,00
1980 106,1 4 0,03
1981 120,1 8 0,06
1982 130,8 12 0,09
1983 141,1 40 0,28
1984 170,4 50 0,29
1985 212,7 100 0,47
1986 224,5 200 0,89
1987 237,8 250 1,00
1988 230,0 320 1,39
1989 238,2 380 1,82
1990 204,2 400 1,95
(Niên giám thống kê Việt Nam năm 2008)[21]
Tuy nhiên, việc sản xuất và sử dụng chế phẩm vi khuẩn nốt sần ở Việt
Nam vẫn còn một số hạn chế nhất định như: Các kết quả nghiên cứu thu được
chỉ dừng lại ở mức độ phòng thí nghiệm, nếu có đưa ra áp dụng thì hiệu quả
cũng chưa cao do các chủng vi khuẩn không phù hựp với các điều kiện thực tế
sản xuất. Thêm vào đó chúng ta chưa có nhà máy chuyên sản xuất đủ để cung
ứng cho cả nước. Vì vậy cần phải có chính sách đầu tư hợp lý và kịp thời để
xây dựng các cơ sở chuyên sản xuất phân bón vi sinh và rút ngắn khoảng cách
phòng thí nghiệm ra đồng ruộng.
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu

2
HPO
4
0,5g
Agar 20,0g
Nước cất 1000ml
Dung dịch tím kết tinh 1ml
Nuôi cấy VKNS: Nấu môi trường YMA và cho vào khoảng ¼ các ống
nghiệm đã khử trùng. Đưa các ống nghiệm này vào nồi áp suất ở 1 at trong 30
phút để khử trùng môi trường. Khử trùng xong làm thạch nghiêng các ống
nghiệm, khi thạch đông cho các ống nghiệm vào tủ ấm 30
0
C trong 2 - 3 ngày.
Cấy VKNS đã được phân lập vào các ống nghiệm không nhiễm rồi cho lại
vào tủ ấm 2 - 3 ngày.
Nhân nhanh VKNS: Pha chế môi trường YMA (không có agar) và cho
khoảng 300 - 400 ml vào bình tam giác 500ml đã khử trùng. Khử trùng môi
trường ở 1 at trong 30 phút, để nguội và đưa vào tủ cấy vô trùng. Cho VKNS
đã cấy ở trên vào bình tam giác (khoảng 10 ống nghiệm/bình). Để nhân sinh
khối, khoảng 4 - 5 ngày ta có dịch huyền phù VKNS. Sau đó kiểm tra mật độ
VKNS trong bình nhân giống, đảm bảo mỗi ml dịch huyền phù có tối thiểu
10
9
CFU.

3.3.1.2. Cách phối và kiểm tra chế phân VKNS:
- Xử lý chất mang: Chất mang để phối chế chế phẩm VKNS là than bùn.
+ Than bùn được hong khô tự nhiên, nghiền nhỏ, rây bằng rây có đường
kính lỗ rây 0,1mm, khử chua bằng CaCO
3

lạc trước và sau khi thu hoạch.
- Phương pháp xác định một số chỉ tiêu hóa tính của đất:
+ pH đất: Xác định theo phương pháp pH metre.
+ Lân tổng số và lân dễ tiêu: Sử dụng phương pháp so màu Ôniani.
+ Mùn tổng số được xác định bằng phương pháp Tiurin.
+ Đạm tổng số được phân tích theo phương pháp Kendan.
- Phương pháp xác định một số chỉ tiêu hóa tính của đất:
Với thời gian có hạn và điều kiện phòng thí nghiệm chưa thật đầy đủ
dụng cụ, chúng tôi chỉ phân tích một số nhóm VSV chủ yếu bằng phương
pháp đếm số khuẩn lạc tạo thành sau khi nuôi cấy trên môi trường đặc.
Để xác định số lượng VK tổng số, chúng tôi sử dụng môi trường cao thịt
- pepton đặc.
Để xác định số lượng VK phân giải lân vô cơ chúng tôi sử dụng môi
trường đặc có thành phần như sau:
Glucoza: 10g
KCl: 0,3g
Ca
3
(PO
4
)
2
: 2g
MgSO
4.
7H
2
O: 0,3g
FeSO
4

6
, 10
7
, Dùng micropipet lấy 0,1ml từ các
ống nghiệm có độ pha loãng khác nhau, cấy vào các đĩa peptri đã được chuẩn
bị các môi trường thích hợp cho từng nhóm VSV. Mỗi độ pha loãng lập lại 3
lần. Sau khi đưa các đĩa peptri vào tủ ấm 30
0
c khoảng 3 - 4 ngày thì kiểm tra
và đếm số khuẩn lạc tạo thành.
3.3.2. Nghiên cứu ngoài đồng ruộng
3.3.2.1. Loại đất
Thí nghiệm đươc bố trí trên đất thịt nhẹ tại Hơp Tác Xã Hương Long
tỉnh Thưa Thiên Huế.
3.3.2.2. Thời vụ.
Thí nghiệm đươc tiến hành vào vụ xuân 2010
Đối với cây trồng nói chung và cây lạc nói riêng, hai yếu tố khí hậu và
đất đựơc xem là hai yếu tố tác động trực tiếp đến sinh trưởng , phát triển của
cây. Trong đó yếu tố thời tiết và khí hậu ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ chu
trình sống của cây. Để tìm hiểu khí hậu thời tiết của cây lạc, trong thời gian
tiến hành thí nghiệm chúng tôi đã tiến hành thu thập một số yếu tố khí tượng
cơ bản vụ xuân 2010 từ Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Thừa
Thiên Huế được thể hiện ở bảng sau:
Tháng 1: Nhiệt độ có phần lạnh nhưng nhiệt độ trung bình của tháng ấm
21,0
0
C, lượng mưa khá cao 111,5(mm) và số ngày mưa là 17 ngày. Nhìn
chung nhiệt độ tương đối thuận lợi để chúng tôi tiến hành gieo hạt.
Bảng 3.2: Thời tiết Thừa Thiên Huế
Tháng

26,1 38,1 20,0 87 53 4 52,3 139
Ghi chú: T
tb
,T
max
,T
min
: Nhiệt độ trung bình, Nhiệt độ cao nhất, Nhiệt độ
thấp nhất.
Tháng 2: Thời tiết có sự thay đổi rõ rệt, nhiệt độ trung bình 23,2
0
C,
thời tiết ấm và độ ẩm cao thuận lợi cho lạc sinh trưởng và phát triển. Thời
gian này, trong thí nghiện của chúng tôi cây lạc đang trong thời kỳ phát triển
thân và lá.
Tháng 3: Nhiệt độ cao hơn tháng 2, lượng mưa tăng đạt 89,3(mm) kết
hợp với số ngày nắng là 170 ngày. Thơì tiết tạo điều kiện thuận lợi cho lạc ra
hoa và hình thành quả.
Tháng 4: Trong những ngày đầu nhiệt độ tương đối cao, nhưng những
ngày sau đó giảm dần và có mưa, lượng mưa khá lớn tạo tạo điều kiện cho
cây sinh trưởng và phát triển tốt và năng suất.
Nhìn chung thời tiết vụ xuân 2010 khá thuận lợi cho cây lạc sinh
trưởng và phát triển và thí nghiệm của chúng tôi.
3.3.2.3. Các công thức thí nghiệm và phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm gồm 5 công thức:
Công thức I (ĐC 1) : không nhiễm chế phẩm với lượng 30Kg/ha N
Công thức II : Nhiễm chế phẩm VKNS với lượng 0Kg/ha N
Công thức III : Nhiễm chế phẩm VKNS với lượng 15 kg/ha N
Công thức IV : Nhiễm chế phẩm VKNS với lượng 30 kg/ha N
Công thức V : Nhiễm chế phẩm VKNS với lượng 45 kg/ha N

III
1
IV
1
II
1
V
1
Bảo vệ
Trong đó: I, II, III, IV, V là các công thức thí nghiệm.
1, 2, 3 là các lần nhắc lại
- Diện tích thí nghiệm:
Diện tích toàn bộ thí nghiệm: 400m
2
Diện tích thí nghiệm: 250m
2
Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 10m
2
Diện tích mô hình thí nghiệm: 150m
2
Diện tích bảo vệ: 20m
2
- Các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm:
+ Làm đất:
Sau khi đất được cày bữa kỹ lần 1, tiến hành cày bừa xới xáo lần 2 nhằm
làm cho đất tơi xốp, thoáng khí tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, vi khuẩn
nốt sần Rhizôbium hoạt động mạnh. Sau đó làm sạch cỏ và tiến hành chia ô
thí nghiệm.
- Phương pháp gieo và mật độ gieo:
Lạc được gieo thẳng hàng.

góc, đóng cọc cố định để theo dõi các chỉ tiêu như: chiều cao cây, số lá, số
cành trên cây.
Định kỳ theo dõi là 10ngày/ lần và lúc thu hoạch.
- Các chỉ tiêu theo dõi:
aTheo dõi thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn (ngày):
+ Theo dõi thời gian từ khi gieo hạt đến khi bắt đầu mọc (10% số
cây /ô có lá mầm trồi lên trên mặt đất).
+ Thời gian từ khi gieo hạt đến khi mọc tối đa (70%số cây/ô nảy mầm).
+ Thời gian từ khi gieo hạt đến khi phân cành cấp 1 đầu tiên (khi các
cành này có chiều dài 1cm ở nách lá).
+ Thời gian từ khi gieo đến khi bắt đầu ra hoa (10% số cây/ô có hoa).
+ Thời gian từ khi gieo hạt đến khi kết thúc ra hoa (số hoa bình
quân/cây/ngày < 1 hoa liên tiếp trong vonòng 3 ngày).
+ Thời gian từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch.
aTheo dõi chiều cao cây (cm).
Bắt đầu theo dõi từ lúc lạc có 3 lá thật và theo dõi định kỳ 10 ngày 1 lần
cho đến lúc thu hoạch.
Cách đo: Đo từ chỗ phân cặp cành cấp 1 đầu tiên đến đỉnh sinh trưởng
của thân chính.
aTheo dõi sự ra lá trên thân chính (số lá trên thân chính):
+ Định kỳ theo dõi: 10 ngày 1 lần cho đến lúc thu hoạch để xác định tốc
độ ra lá.
+ Xác định tổng số lá trên thân chính.
+ Đếm số lá xanh còn lại trên thân chính
a Theo dõi sự phát sinh phát triển của cành lạc:
+ Theo dõi ngày phân cặp cành cấp 1 đầu tiên.
+ Đếm tổng số cành trên cây. Số cành cấp 1 trên cây, số cành cấp 2 trên cây.
+ Xác định chiều dài cành cấp 1 đầu tiên (đo 1 cành).
+ Định kỳ theo dõi 10 ngày 1 lần.
a Theo dõi một số chỉ tiêu về nốt sần trên rễ lạc:

2
(kg) . 7500m
2
/10
2
Xác định trọng P
100
quả khô (gam) : Bốc ngẫu nhiên cho đủ 100g quả và
đếm tổng số quả. Sau đó xác định P
100
quả.
100g quả
P
100
quả(gam) = *100
Tổng số quả
+ Tính năng suất lý thuyết:
Số quả chắc/cây. Số cây/m
2
NSLT(tạ/ha) =
10
7
3.3.3. Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học bằng
máy tính bỏ túi, phần mềm exell và phần mềm xử lý thống kê statistic.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status