Bài báo cáo
Chuyển dịch rủi ro trong hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế
1
Họ tên: Lớp:
Hoạt động thương mại quốc tế thường gặp nhiều rủi ro, đặc biệt là trong lĩnh
vực trao đổi hàng hóa vì hợp đồng mua bán hàng hóa liên quan chặt chẽ đến hợp đồng
vận chuyển và hàng hóa thường dễ bị mất mát hư hỏng trong quá trình chuyên chở.
Rủi ro đó có thể là những sự cố như thiên tai hoặc tai nạn bất ngờ, chẳng hạn trong
chuyến hải trình, tàu vận chuyển có thể gặp nhiều rủi ro nghiêm trọng liên quan đến
tai nạn biển như tàu bị mắc cạn, cháy, chìm; hoặc gặp thời tiết khắc nghiệt (bão, gió
xoáy, biển động, … gây lật tàu hoặc làm vỡ thân tàu, hư hại máy móc… từ đó gây ra
những tổn thất cho hàng hóa…); rủi ro do tính chất của hàng hóa (bông gòn, đay,
thuốc nổ…gặp thời tiết nóng bức có khả năng tự phát cháy); do lỗi lầm của con người
(đóng hàng không chắc chắn, cầu móc làm rách bao hàng, quay tàu làm tàu va vào cầu
cảng) … Rủi ro là điều mà không ai mong muốn. Vì vậy, việc xác định thời điểm mà
tại đó người bán không còn phải chịu trách nhiệm về rủi ro và người mua bắt đầu phải
chịu rủi ro đối với hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vừa
có ý nghĩa pháp lý, vừa có ý nghĩa thực tiễn hết sức quan trọng. Từ thời điểm rủi ro
được chuyển sang người mua, người mua phải chịu mọi hậu quả của việc hàng hóa bị
mất mát, hư hỏng trong quá trình vận chuyển do những tình huống bất thường. Để
buộc người bán phải chịu trách nhiệm về khuyết tật của hàng hóa hay hàng hóa bị
thiếu, người mua phải chứng minh được rằng, hàng hóa bị mất mát hay hư hỏng trước
thời điểm rủi được chuyển sang người mua.
Việc phân bổ rủi ro là một vấn đề mà cả người bán hàng và người mua hàng
đều quan tâm bởi lẽ nó có thể ảnh hưởng rất lớn đến việc mua bán và kết quả của giao
dịch. Các nguyên tắc về chuyển dịch rủi ro trả lời câu hỏi liệu người mua có buộc phải
trả tiền cho hàng hóa ngay cả khi chúng vô tình bị thiếu hụt hay thiệt hại hoặc liệu
2
Họ tên: Lớp:
người bán có quyền đòi đủ tiền trong trường hợp đó không ? Vì vậy, khi giao kết hợp
Họ tên: Lớp:
muốn và người mua và người bán đều không có trách nhiệm gì. Kết quả là hàng hóa
có thể bị hao hụt, hư hại, chẳng hạn khi chúng được đóng gói tại kho hàng của người
bán, trên đường tới cảng nơi chúng được xuất đi hoặc trong suốt chuyến vận tải đường
biển hoặc từ cảng nhập khẩu đến kho của người mua. Câu hỏi đặt ra là khi nào thì rủi
ro được chuyển dịch sang cho người mua. Việc xác định được câu trả lời cho câu hỏi
đó có ý nghĩa quyết định rằng bên nào sẽ phải trả tiền cho những thiệt hại đó ngay cả
khi bên đó chưa nhận được hàng hoặc nhận được hàng hóa trong tình trạng bị hỏng
hóc, thiếu hụt, và liệu người bán có còn quyền nhận tiền trả cho hàng hóa. Đây được
gọi là “rủi ro về giá cả” (price risk)
1
.
Có 3 học thuyết chính liên quan đến vấn đề chuyển dịch rủi ro
2
:
(i) Học thuyết gắn thời điểm chuyển giao rủi ro với thời điểm ký kết hợp đồng.
Học thuyết này không phù hợp với thực tiễN, bởi đối với phần lớn các hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế, vào thời điểm hợp đồng được ký kết, hàng hóa vẫn nằm trong
tay người bán, nằm trong tầm kiểm soát của họ. Nếu người mua phải chịu rủi ro từ
thời điểm giao kết hợp đồng thì điều này là khó chấp nhận, bởi vì người mua có thể
lập luận rằng người bán đã không thực hiện nghĩa vụ mẫn cán một cách cần thiết, điều
này sẽ dẫn đến những tranh chấp nghiêm trọng và tranh tụng.
3
(ii) Học thuyết gắn thời điểm chuyển dịch rủi ro với thời điểm chuyển dịch quyền
sở hữu. Học thuyết này cũng không phù hợp với thực tiễn bởi lẽ quyền sở hữu không
phải lúc nào cũng gắn với hoặc liên quan đến khái niệm rủi ro. Hơn nữa, học thuyết
này không lý giải được những thông lệ mới nhất trong mua bán hàng hóa với việc giữ
lại quyền sở hữu, đó là những trường hợp mà người bán vẫn giữ quyền sở hữu trong
khi người mua nắm giữ hàng hóa trên thực tế. Điều này có nghĩa rằng, người bán sẽ
là một điều khó tránh khỏi và việc xác định ai là người chịu trách nhiệm cho rủi ro đó
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định bên bồi thường thiệt hại nếu có biến cố
xảy ra. Các bên đã nhận thức được điều này và khi soạn thảo hợp đồng, họ thường chỉ
ra một điểm cụ thể mà tại đó rủi ro sẽ được chuyển dịch từ người bán sang người mua,
hoặc họ cũng có thể áp dụng những tập quán trong thương mại quốc tế như các điều
khoản giao hàng FOB, CIF. Từ thời điểm người vận chuyển nhận hàng từ người bán,
thì chính người này chiếm giữ hàng hóa trên thực tế. Thông thường, người mua sẽ
chịu rủi ro từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao cho người vận chuyển.
Các nguyên tắc về rủi ro xác định bên nào phải chịu những rủi ro do tai nạn,
hoặc sự thiệt hại đối với hàng hóa. Vì vậy, chúng xác định việc người mua phải trả
tiền và tiếp nhận hàng hóa bất kể những mất mát hay sự hư hỏng đó. Cũng cần lưu ý
rằng các học thuyết về rủi ro cần được phân biệt với học thuyết về sự kiện bất khả
5
Họ tên: Lớp:
kháng – cái không liên quan đến vấn đề phân bổ rủi ro. Thay vào đó, thuyết về sự kiện
bất khả kháng loại trừ trách nhiệm về sự mất mát của bên gây thiệt hại do không làm
tròn nghĩa vụ bởi một sự trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát của họ.
4
2. Quy định của CISG về chuyển rủi ro
Vấn đề chuyển dịch rủi ro đã từng được đề cập trong Luật thống nhất về thiết
lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình (ULIS) với hệ quả giống như ở
Công ước Viên 1980, tuy cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, những quy định ở ULIS
được đánh giá là quá phức tạp và khó hiểu và dẫn đến nhiều giải pháp không thỏa
đáng trong một số tình huống thương mại thông thường
5
. Và do đó đã có nhiều nhóm
nghiên cứu về các cách tiếp cận khác so với ULIS.
6
Vấn đề chuyển dịch rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được
quy định tại chương IV, phần III – Mua bán hàng hóa của CISG (từ điều 66 đến điều
trùm cả những trường hợp hành vi của người bán có thể không vi phạm luật về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng (law of tort) nhưng rủi ro vẫn phải thuộc về người
bán. Hơn nữa, nếu chỉ hiểu theo cách tiếp cận thứ nhất, người bán có thể gây ra những
thiệt hại dưới bất kỳ hình thức nào mà không vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.
8
Vụ việc
sau đây là một ví dụ:
Vào năm 1992, một người mua California và người bán Trung Quốc đã thỏa thuận về
một hợp đồng mua bán 10000 kg tinh dầu chiết xuất từ hoa nhài, điều kiện giao hàng
CIF đến New York. Sau khi ký kết hợp đồng, người mua đã cảnh báo người bán về
nguy cơ hàng hóa có thể bị hư hỏng ở điều kiện nhiệt độ cao. Người mua đã yêu cầu
người bán phải thông báo cho người vận chuyển biết điều này và đảm bảo rằng tinh
dầu hoa nhài phải được bảo quản ở nhiệt độ tương đối lạnh trong suốt quá trình vận
chuyển. Người mua cũng yêu cầu hàng hóa phải được vận chuyển càng sớm càng tốt
trên một tuyến đường đã được vạch sẵn. người bán không phản đối nhưng đáp lại rằng
nhiệt độ ở cảng là phù hợp và không thể gây nguy hại cho hàng hóa. Sau khi đi qua
Hong Kong, khối tinh dầu này được đưa lên tàu đến New York, một phần lớn đã bị
tan chảy và rò rỉ do nhiệt độ vượt quá mức cho phép trong suốt hành trình. Vài ngày
7
Xem tại Zoi Valioti, Passing of risk in international sale contracts: A comparative examination of the rules on
risk under the United Nation Convention on Contracts for the International Sales of Goods (Vienna 1980) and
INCOTERMS 2000, 84 p, PACE, September 2003, đoạn ii phần A chương II, truy cập tại
http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/valioti1.html
8
Zoi Valioti, tài liệu đã dẫn, đoạn ii phần A chương II, truy cập tại
http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/valioti1.html
7
Họ tên: Lớp:
sau, chỗ tinh dầu đó được vận chuyển bằng tàu đến người sử dụng cuối cùng mà đã từ
chối chúng. Người mua khi đó đã đã thông báo cho người bán về sự thiệt hại và đưa
8
Họ tên: Lớp:
1. Khi hợp đồng mua bán hàng quy định việc vận chuyển hàng hóa và người bán
không bị buộc phải giao hàng tại nơi xác định, rủi ro được chuyển sang người
mua kể từ lúc hàng được giao cho người chuyên chở thứ nhất để chuyển giao
cho người mua chiếu theo hợp đồng mua bán. Nếu người bán bị buộc phải
giao hàng cho một người chuyên chở tại một nơi xác định, các rủi ro không
được chuyển sang người mua nếu hàng hóa chưa được giao cho người chuyên
chở tại nơi đó. Sự kiện người bán được phép giữ lại các chứng từ nhận hàng
không ảnh hưởng gì đến sự chuyển giao rủi ro.
2. Tuy nhiên, rủi ro không được chuyển sang người mua nếu hàng hóa không
được đặc định hóa rõ ràng cho mục đích của hợp đồng hoặc bằng cách ghi ký
mã hiệu trên hàng hóa, bằng các chứng từ chuyên chở, bằng một thông báo
gửi cho người mua hoặc bằng bất cứ phương pháp nào khác.
Khoản 1 điều 67 đưa ra một sự phân biệt tình huống, phụ thuộc vào việc người bán có
buộc phải giao hàng tại nơi xác định hay không:
- Thứ nhất, khi hợp đồng mua bán quy định việc vận chuyển hàng hóa và người
bán không bị buộc phải giao hàng tại nơi xác định.
- Thứ hai, khi hợp đồng mua bán quy định việc vận chuyển hàng hóa và người
bán bị buộc phải giao hàng cho một người chuyên chở tại một nơi xác định.
Lý giải điều luật trên, “quy định việc vận chuyển” không chỉ được hiểu là hàng hóa
được chất lên tàu, xe tải hoặc máy bay để vận chuyển đến tay người mua mà còn được
hiểu là bao gồm cả việc người bán toàn quyền hoặc có nghĩa vụ sắp xếp người vận
chuyển hàng hóa, tiến hành những hành động cần thiết để vận chuyển hàng hóa đến
chỗ người mua. Việc chuyển giao hàng hóa phải tuân thủ theo hợp đồng.
Người chuyển chở thứ nhất được hiểu là một bên thứ ba độc lập chịu trách
nhiệm về việc vận tải mà không phải là chính người bán hàng hoặc nhân viên của họ.
Do vậy điều 67 không được hiểu là chỉ trong phạm vi mối quan hệ giữa hai bên bán –
mua mà còn bao gồm sự có mặt của một bên thứ ba. Họ được người bán yêu cầu hoặc
ủy quyền vận chuyển hàng. Điều 67 không điều chỉnh trường hợp người vận chuyển
pháp nào khác thì rủi ro không được chuyển sang người mua. Quy định này nhằm
đảm bảo rằng trong trường hợp hàng hóa bị mất một phần hoặc có thiệt hại xảy ra,
10
Xem thêm tại Zoi Valioti, tài liệu đã dẫn, đoạn (iii) phần A chương II
10
Họ tên: Lớp:
người bán không thể tuyên bố rằng hàng hóa bị thiệt hại là hàng hóa mà người mua đã
mua. Người bán chỉ cần gửi đi một trong những loại giấy tờ đó là đủ, việc người mua
có nhận được hay không không có ý nghĩa quyết định. Rủi ro được chuyển giao khi
những thông báo đó được gửi đi và không có hiệu lực pháp lý kể từ thời điểm hàng
được chất lên tàu. Điều 27 CISG cũng quy định như sau:
“Bởi vì trong phần II của công ước này không có quy định gì khác nên trong trường
hợp, nếu thông báo yêu cầu hay thông tin khác đã được thực hiện bởi một bên của
hợp đồng chiếu theo phần III này và bằng một phương tiện thích hợp với hoàn cảnh,
thì một sự chậm trễ hoặc lầm lần trong việc chuyển giao thông tin hoặc sự thông tin
không đến người nhận, cũng sẽ không làm bên đó mất quyền viện dẫn các thông tin
của mình.”
Đối với trường hợp hàng hóa bán trên đường vận chuyển, Công ước Viên quy
định như sau:
Điều 68:
“Rủi ro đối với hàng hóa được bán khi đang trên đường vận chuyển chuyển sang
người mua kể từ khi giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, nếu hoàn cảnh chỉ ra rằng rủi ro
chuyển sang người mua kể từ khi hàng hóa được giao cho người chuyên chở là người
đã phát chứng từ xác nhận hợp đồng vận chuyển. Tuy nhiên, nếu vào lúc giao kết hợp
đồng mua bán, người bán đã biết hoặc đáng lẽ phải biết sự kiện hàng hóa đã bị mất
mát hay hư hỏng và đã không thông báo cho người mua về điều đó thì việc mất mát
hay hư hỏng hàng hóa đó do người bán phải gánh chịu.”
Hàng hóa bán trên đường vận chuyển thường được thực hiện đối với những loại hàng
như dầu, bột mì, khí tự nhiên, kim loại và những hàng hóa được vận chuyển với số
lượng lớn, chưa xác định sẽ được bán cho ai và hợp đồng mua bán hàng hóa được
11
Zoi Valioti, tài liệu đã dẫn, đoạn iv, phần A chương II.
12
Một trong những vấn đề được cho là chưa rõ ràng, đó là những thiệt hại hay mất mát được đề cập trong trường
hợp ngoại lệ của điều 68 xảy ra trước lúc giao kết hợp đồng và người bán đã biết hoặc phải biết về tình trạng đó
hay là thiệt hại xảy ra trước khi ký kết hợp đồng nhưng người bán không đủ kiến thức để biết hay những thiệt
hại đó xảy ra sau khi ký kết hợp đồng. Một vấn đề khác nữa là hàng hóa trong trường hợp này có cần phải được
đặc định hóa rõ ràng như theo quy định tại điều 67 khoản 2 hay không – xem thêm tại Zoi Valioti, tài liệu đã
dẫn, đoạn iv, phần A chương II.
12
Họ tên: Lớp:
- Chuyển giao hàng hóa từ người bán sang người mua hoặc sang một người
chuyên chở được chỉ định bởi người mua (không phải là một người chuyên chở
độc lập).
Trong trường hợp thứ nhất, người mua được cho là nhận hàng tại xí nghiệp thương
mại của người bán, rủi ro được chuyển giao từ thời điểm người mua tiếp nhận hàng
hóa vì lúc này hàng hóa đã được đặt dưới sự quản lý của bên mua. Đối với trường hợp
giao hàng tại xưởng như vậy, người bán có điều kiện tốt hơn để bảo quản hàng hóa.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là người bán phải chịu trách nhiệm vô thời hạn cho
số hàng hóa đó, nếu như người mua vi phạm hợp đồng vì không chịu nhận hàng.
Trường hợp ba có thể rơi vào một trong những tình huống sau:
- Người bán giao hàng đến nhà xưởng của người mua;
- Hàng hóa được giao đến người một nơi xác định cho người mua hoặc người
vận tải do người mua chỉ định.
Trong các trường hợp trên, rủi ro được cho là được chuyển dịch sang người mua khi
hàng hóa đã được đặt dưới sự định đoạt của họ.
3. Pháp luật Việt Nam về vấn đề chuyển rủi ro.
Hiện nay, vấn đề chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa được đề cập
đến trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, Luật thương mại năm 2005 và Bộ luật
hàng hải 2005.
gồm cả chi phí cho việc trông coi hàng hóa sẽ do bên nào chịu?
- Thứ hai, tài sản được đề cập trong điều luật là hàng đặc định hay hàng đồng
loại? BLDS không phân biệt khi xác định thời điểm chuyển rủi ro đối với hai
loại hàng hóa trên. Điều này là chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.
Còn đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải
đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký,
14
Họ tên: Lớp:
bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, kể cả khi bên mua
chưa nhận tài sản, nếu không có thỏa thuận khác. (khoàn 2 điều 440 BLDS)
3.2. Luật thương mại 2005.
Vấn đề chuyển dịch rủi ro được quy định từ điều 57 đến điều 61 Luật thương
mại 2005. Các trường hợp chuyển rủi ro bao gồm:
- Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định (điều 57);
- Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định (Điều
58);
- Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà
không phải là người vận chuyển (điều 59);
- Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển
(điều 60)
- Chuyển rủi ro trong những trường hợp khác (điều 61)
Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, nếu không:
Trong trường hợp thứ nhất – khi bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại một
địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên
mua hoặc người được bên mua ủy quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó, kể cả là trong
trường hợp bên bán được ủy quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với
hàng hóa.
Trong trường hợp thứ hai – khi hợp đồng quy định việc vận chuyển hàng hóa và bên
bán không có nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc
hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua khi hàng hóa đã được giao cho người
có ý nghĩa quan trọng trên thực tế vì khi đó hàng hóa vẫn do người nhận hàng
để giao nắm giữ.
16
Họ tên: Lớp:
- Nếu người nhận hàng để giao có mối quan hệ với người mua thì việc người bán
giao hàng cho họ có nghĩa là hàng hóa đã được giao cho người mua, do đó việc
người mua nhận được chứng từ hàng hóa hay không cũng không có ý nghĩa gì.
Một câu hỏi nữa đặt ra là người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu
hàng hóa của bên mua như thế nào ?
Thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế có nhiều trường hợp người bán buộc phải
ký hợp đồng mua bán hàng hóa khi hàng hóa đã nằm trên đường vận chuyển. Do đó
rất khó để xác định thời điểm chuyển dịch rủi ro. Điều 60 Luật thương mại 2005 đưa
ra giải pháp đối với trường hợp này đó là rủi ro được chuyển cho bên mua kể từ thời
điểm giao kết hợp đồng. Quy định này giúp cho việc xác định thời điểm rủi ro được
chuyển sang người mua trở nên đơn giản hơn. Tuy nhiên, trên thực tiễn, có những
trường hợp mà rủi ro có thể xảy ra đối với hàng hóa kể từ thời điểm hàng hóa không
còn nằm trong phạm vi kiểm soát của người bán – đó là từ thời điểm hàng hóa được
người bán giao cho người vận chuyển, vả có khả năng hàng hóa bị hư hỏng trước thời
điểm ký kết hợp đồng. Trong trường hợp như vậy, điều 60 chưa thật sự phù hợp. Công
ước Viên quy định rõ ràng hơn trong trường hợp này: người mua sẽ chịu rủi ro từ thời
điểm hàng hóa được giao cho người chuyên chở là người đã phát hành chứng từ xác
nhận hợp đồng vận chuyển, trừ trường hợp nếu vào lúc ký kết hợp đồng mua bán,
người bán đã biết hoặc không thể không biết rằng hàng hóa đã bị mất mát hay hư
hỏng nhưng không thông báo cho người mua.
Trong trường hợp người mua chậm tiếp nhận hàng theo quy định của hợp
đồng thì rủi ro sẽ được chuyển sang cho người mua từ thời điểm mà theo quy định của
hợp đồng hàng hóa phải được đặt dưới sự định đoạt của người mua (điều 61 khoản 1 –
Luật thương mại 2005). Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hóa với điều kiện EXW (giao
hàng tại xưởng) quy định thời hạn giao hàng là ngày 10.4.2012, đến trước thời điểm
đó, bên bán đã chuẩn bị sẵn hàng để giao cho bên mua và thông báo cho bên mua về
hóa, trách nhiệm của các bên: ai sẽ trả tiền vận tải, người nào sẽ đảm trách các chi phí
về thủ tục hải quan, bảo hiểm về hàng hóa, người nào chịu trách nhiệm về những tổn
thất và rủi ro của hàng hóa trong quá trình vận chuyển…, thời điểm vận chuyển giao
trách nhiệm về hàng hóa.
18
Họ tên: Lớp:
INCOTERMS 2010 là phiên bản mới nhất của INCOTEMS, được phòng
thương mại quốc tế (ICC) ở Paris, Pháp thông qua, có hiệu lực kể từ ngày 1.1.2011.
13
INCOTERMS 2010 bao gồm 11 điều kiện, được chia thành hai nhóm riêng biệt:
(i) Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải:
- EXW: giao tại xưởng
- FCA: giao cho người chuyên chở
- CPT: cước phí và bảo hiểm trả tới
- DAT: giao tại bến
- DAP: giao tại nơi đến
- DDP: giao hàng đã nộp thuế
(ii) Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa:
- FAS: giao dọc mạn tàu
- FOB: Giao lên tàu
- CFR: tiền hàng và cước phí
- CIF: tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
- CIF: tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
Nhóm thứ nhất gồm 7 điều kiện, có thể sử dụng mà không phụ thuộc vào phương thức
vận tải lựa chọn và cũng không phụ thuộc vào việc sử dụng một hay nhiều phương
thức vận tải. Chúng có thể được dùng khi hoàn toàn không có vận tải biển, và cũng có
thể được sử dụng khi một phần chặng đường được tiến hành bằng tàu biển.
Trong nhóm thứ hai, địa điểm giao hàng và nơi hàng được chở tới người mua đều là
cảng biển, vì thế chúng được sắp xếp vào nhóm các điều kiện đường biển và đường
13
loại tổn thất hư hỏng nào sẽ được bồi thường cũng như yêu cầu đối với bên ký hợp
đồng bảo hiểm và công ty bảo hiểm.
14
Xem tại website Cục hàng hải Việt Nam: INCOTERMS http://www.vinamarine.gov.vn/Index.aspx?
page=transportdetail&id=17
20
Họ tên: Lớp:
Các thương nhân Việt Nam thường thỏa thuận với đối tác áp dụng các điều
kiện giao hàng theo INCOTERMS, Hiện nay, tuy Việt Nam chưa là thành viên của
Công ước Viên 1980 nhưng CISG cũng có thể được áp dụng trong trường hợp mà
theo các quy tắc tư pháp quốc tế, luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công
ước này. (xem khoản 1 điều 1 CISG)
21
Họ tên: Lớp:
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Sách, giáo trình tham khảo
1. Nguyễn Bá Diến (chủ biên), Giáo trình Luật thương mại quốc tế, Khoa Luật
Đại học quốc gia Hà Nội, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, 2005.
2. Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thị, Dương Anh Sơn, Giáo trình Luật hợp
đồng thương mại quốc tế, NXB. Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh,
2006.
3. Bộ luật dân sự 2005, NXB. Lao động, 2009
4. Luật thương mại năm 2005, NXB. Lao động 2010
5. Bộ luật hàng hải năm 2005 (nguồn: Internet)
6. Incoterms 2000, Incoterms 2010 (nguồn: Internet)
7. Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (nguồn: Internet)
B. Bài viết nghiên cứu tham khảo
1. Zoi Valioti, Passing of risk in international sale contracts: A comparative
examination of the rules on risk under the United Nation Convention on
Contracts for the International Sales of Goods (Vienna 1980) and