ĐIỀU TRỊ BƯỚU XƠ TỬ CUNG
I- KHÁI NIỆM CĂN BẢN:
Bướu xơ tử cung là bướu lành tính, cấu tạo từ cơ trơn và mô xơ
(fibromyomes utérins), lớpngoài dày và cứng tạo thành lớp vỏ bọc. Trên một
tử cung có thể có 1 hoặc nhiều bướu và mỗi bướu có kích thước thay đổi, có
thể nhỏ bằng viên bi hoặc lớn hơn trái bưởi, phát sinh từ vùng thân, eo hoặc
cổ tử cung.
Đối với thành tử cung, bướu có thể nằm ở:
a- Trong vùng cơ tử cung: bướu xơ trong thành tử cung.còn gọi là bướu xơ kẻ
(interstitiel).
b- Ở mặt ngoài tử cung: bướu xơ dưới phúc mạc (sous séreux).
c- Ở mặt trong tử cung: bướu xơ dưới niêm mạc (sous muqueux), khối bướu
nằm trong buồng tử cung. Bướu xơ tử cung là một trong những bệnh thường thấy, ước lượng khoảng
20% phụ nử ở tuổi 40 - 50 có thể có bướu xơ tử cung. Xảy ra nhiều hơn ở
phụ nử da đen và một số gia đình.(di truyền?) nhất là những phụ nử ít sinh
đẻ.
II- TRIỆU CHỨNG:
Đa số bênh nhân có bướu xơ tử cung không có triệu chứng đặc biệt, nhất là
trường hợp bướu nhỏ, trong 3 - 4 lần có thai, và ngừng phát triển khi mãn
kinh.
a- Triệu chứng thông thường nhất là rối loạn kinh nguyệt: chảy máu nhiều, lâu, có
khi có máu cục. Tuy nhiên không bao giờ chảy máu giữa 2 kỳ kinh.
b- Đôi khi bệnh nhân đến khám bệnh vì những triệu chứng do bướu đè ép các cơ
quan lân cận: như rối loạn tiểu tiện nếu bướu nằm ở mặt trước của tử cung, hoặc
Những trường hợp bướu xơ kẻ (interstitiel) và dưới phúc mạc gây chảy máu có thể
được trị liệu bằng progestatifs. Mục đích là điều trị dày niêm mạc tử cung, thường
thấy trong bệnh bướu xơ và là nguyên nhân của chảy máu. Progestatifs không làm
nhỏ bướu cũng như không ngăn cản sự phát triển của bướu. Thời gian trị liệu tối
đa là 6 tháng.
Thí dụ: nomégestrol 5mg/ngày – từ ngày 16 đến 25 của chu kỳ kinh nguyệt. Hoặc
từ ngày 5 đến ngày 25 nếu muốn ngừa thai cùng lúc.
b-Vào lúc chảy máu:
* Có thể dùng acid tranexamique, là thuốc chống ly giải fibrine: 1000mg, uống 3
lần/ngày, trong 5 - 10 ngày liên tục.
* Hoặc dùng estrogène nhưng phải tôn trọng các chống chỉ định: dùng 1iều cao,
duy nhất.
Thí dụ: estradiol 17 béta, uống(4mg) hoặc dáng da (100µg).
c-Kích thích tố trị liệu ở giai đoạn tiền phẩu:
* Dùng đối chất của hóc môn hướng gonade: với mục đích giảm kích thước của
bứu để giải phẩu được dể dàng. Thời gian trị liệu tối đa là 3 tháng. Thí dụ:
Triptorétine (DECAPEPTYL LP) 1 ống tiêm thịt/mỗi 4 tuần.
* Trị liệu chống thiếu máu.
d-Điều trị chống đau trong trường hợp bướu xơ hoại tử: Hoại tử bướu là nguyên
nhân gây đau vùng hạ vị, có thể đau từng cơn, và sốt nhẹ, thường xảy ra ở bệnh
nhân có thai. Giảm đau bằng thuốc chống viêm kết hợp với các thuốc chống đau
thông thường.
C- NHỮNG TRƯỜNG HỢP CẦN GIẢI PHẨU:
Giải phẩu bảo tồn: chỉ mỗ lấy bướu, bảo tồn tử cung, chỉ định ở bệnh nhân muốn
bảo vệ khả năng sinh sản. nhất là ở bênh nhân trẻ tuổi. Tuy nhiên phương pháp
giải phẩu nầy có những yếu điểm như gây dính kết hậu phẩu các nội tạng vùng hạ
vị và tỷ lệ tái phát bướu khá cao khoảng 1/3 bệnh nhân do đó thường dùng để cắt
lấy những bướu dưới phúc mạc và dưới niêm mạc dính vào tử cung bằng cuống
(pédiculés).
Giải phẩu toàn diện: mỗ lấy bướu và tử cung: Được thực hiện ở Pháp khoảng