Tương đồng và khác biệt cơ bản giữa nhà nước và
pháp luật phương đông, phương tây cổ đại
Một nội dung quan trọng của Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới là vấn đề
Lịch sử nhà nước và pháp luật Phương Đông và Phương Tây thời cổ đại. Đây là
một giai đoạn hình thành những nhà nước, những sản phẩm pháp điển hóa đầu
tiên, mà hình thức cũng như nội dung của chúng ảnh hưởng lớn đến thời trung đại
và cận, hiện đại sau này trong một chiều dài lịch sử phát triển. Vấn đề quan trọng
là sau khi nghiên cứu từng nhà nước điển hình ở hai khu vực này, sinh viên phải
chỉ ra được những đặc điểm cơ bản, những điểm giống và khác, cũng như cơ sở
tạo nên sự tương đồng và khác biệt ấy dưới góc nhìn của nhà luật học. Phần tổng
hợp dưới đây chỉ dừng lại ở mức nêu vấn đề để những bạn sinh viên quan tâm khi
có điều kiện tiếp tục cùng tìm hiểu, nghiên cứu chứ không làm thay những gì các
bạn phải làm. Chớ vội "copy + paste" các nội dung này rồi nhân bản thành các
bài tiểu luận hoặc bài kiểm tra na ná giống nhau, điều này là vô ích vì những vấn
đề chính cần phải giải thích làm rõ, tác giả về cơ bản đã không/ chưa giải đáp mà
nêu thành câu hỏi, để trong dấu ngoặc vuông, chữ màu xanh. Hi vọng những câu
hỏi này phần nào sẽ kích thích các bạn sinh viên tư duy, thậm chí phản biện lại và
rút ra những cơ sở lý luận cũng như những bài học kinh nghiệm cho hiện tại.
I. PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
Thuật ngữ "Phương Đông" ban đầu từ quan niệm của người phương Tây. Người
Châu Âu luôn coi mình là trung tâm nên Phương Đông là thuật ngữ dùng để chỉ
toàn bộ khu vực Châu Á nằm ở Phía đông của Phương Tây và được chia thành
Cận Đông, Trung Đông và Viễn Đông.
Đến nay trong giới khoa học giới hạn địa lý của Phương Đông đến đâu vẫn chưa
hoàn toàn thống nhất. Do vậy, mỗi khi bàn đến Phương Đông thông thường người
ta hay đưa ra một khung không gian cụ thể để định vị đối tượng mà người ta muốn
nói. Các nhà sử học của Việt Nam hầu như tương đối thống nhất với ý kiến cho
rằng phạm vi không gian phương Đông có tầm ảnh hưởng lớn đến Việt Nam là hai
vùng Đông Bắc Á (mà nhiều người còn gọi là Đông Á) và Đông Nam Á. [Tìm trên
bản đồ và xác định khu vực Đông Á và Đông Nam Á hiện nay gồm những quốc
giao, buôn bán với các quốc gia khác [Ngoài những chức năng trên nhà nước
Phương Đông cổ đại còn có những chức năng nào khác? Nêu dẫn chứng?].
- Về hình thức nhà nước: Trước hết xét về hình thức chính thể thì các nhà nước ở
Phương Đông cổ đại được tổ chức theo chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô với
các mức độ tập trung quyền lực khác nhau (Ví dụ: Trung Quốc cổ đại, Ấn Độ cổ
đại, Ai cập cổ đại, Lưỡng Hà cổ đại). Ở Phương Tây cổ đại, các nhà nước được tổ
chức chủ yếu theo chính thể quân chủ và cộng hòa chủ nô [Vì sao hình thức chính
thể cộng hòa lại xuất hiện ở Phương Tây?]. Các nhà nước cộng hòa chủ nô tồn tại
dưới hai dạng thức là cộng hòa dân chủ chủ nô và cộng hòa quý tộc chủ nô (Ví dụ
nhà nước Xpác (nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô); nhà nước Aten (nhà nước dân
chủ chủ nô); nhà nước La mã (cộng hoà và quân chủ chuyên chế). Hình thức cấu
trúc cơ bản của nhà nước chủ nô là cấu trúc đơn nhất, tuy nhiên ở Phương Tây
xuất hiện các nhà nước thành bang có tính tự trị cao [Giải thích?].Chế độ chính trị
phổ biến thời kỳ này là chế độ độc tài chuyên chế với việc áp dụng công khai các
biện pháp thực hiện quyền lực nhà nước bằng bạo lực và phản dân chủ, tuy nhiên
cũng có nhà nước áp dụng những biện pháp dân chủ sơ khai, điển hình như thiết
chế Hội nghị công dân, việc bỏ phiếu bằng vỏ sò ở nhà nước Aten ở Hy Lạp cổ
đại.
- Về tổ chức bộ máy nhà nước: Bộ máy nhà nước ở cả Phương Đông và Phương
Tây đã bao gồm các cơ quan chuyên trách với chức năng, nhiệm vụ khác nhau và
trong bộ máy đều có một bộ phận quan trọng là các cơ quan quản lý về quân sự,
cảnh sát [Nêu rõ tên những cơ quan nhà nước cụ thể? Nhận xét?].
2. Về pháp luật
- Về tính giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật
Pháp luật (hiểu theo nghĩa hẹp là những Bộ luật thành văn) thường ra đời muộn
hơn nhiều thời điểm xuất hiện nhà nước [Dẫn chứng? Thời gian, địa điểm?]. Theo
học thuyết Mác - Lênin, thời kỳ nào và ở đâu thì pháp luật về cơ bản cũng thể hiện
và bảo vệ lợi ích trước hết của giai cấp thống trị và thời cổ đại cũng không phải
ngoại lệ. Thời kỳ này bản chất pháp luật là pháp luật chủ nô có mục đích thiết lập
một trật tự xã hội có lợi cho giai cấp chủ nô. Ngoài tính giai cấp, pháp luật chủ nô
phiên chợ thứ ba, các chủ nợ có thể tùng xẻo con nợ không trả được nợ. Nếu xử
quá mức, họ cũng không bị tội" [Các ví dụ khác?].
- Ghi nhận tình trạng phân biệt đẳng cấp trong xã hội.
Pháp luật cho phép những chủ nô giàu có thuộc các đẳng cấp cao trong xã hội có
những đặc quyền về kinh tế và chính trị. Ví dụ: Điều 1 Bảng X Luật 12 Bảng qui
định cấm kết hôn giữa quí tộc và bình dân: "Cấm kết hôn giữa người bình dân và
quí tộc" [Các ví dụ khác?].
- Ghi nhận và bảo vệ chế độ gia trưởng.
Pháp luật của nhiều nhà nước thời kỳ này ghi nhận quyền tuyệt đối của người gia
trưởng đối với tài sản trong gia đình và địa vị chi phối của người gia trưởng đối
với các thành viên khác của gia đình. Thí dụ, ở Bộ luật Hammurabi nếu không có
con, người chồng có quyền ly dị hoặc bán vợ hoặc lấy vợ lẽ; nếu bắt được vợ
ngoại tình thì chồng có quyền trói vợ và nhân tình của vợ ném xuống sông. Ngược
lại nếu vợ bắt được chồng ngoại tình, chỉ có quyền ly dị mà thôi. Điều 129 qui
định : "Nếu vợ của dân tự do ngủ với người đàn ông khác mà bị bắt, thì phải trói
cả hai người này lại và ném xuống sông" [Nêu thêm các ví dụ khác để chứng
minh?].
- Hình phạt mang nặng tính trừng trị, ít chứa đựng tính chất giáo dục và cảm hóa.
Pháp luật thời kỳ này hình sự hóa hầu hết các vi phạm, kể cả các vi phạm trong
quan hệ dân sự [Giải thích?]. Các qui phạm pháp luật đặc biệt là ở Phương Đông
thời kỳ cổ đại thường mang tính hàm hỗn (hầu hết các điều luật đều kèm theo chế
tài). Hình phạt được áp dụng phổ biến nhất là tử hình bằng rất nhiều hình thức
khác nhau như: ném đá cho đến chết, buộc đá ném xuống sông, ném người vào
vạc dầu, chặt người ra thành nhiều mảnh, thiêu chết, chôn sống, treo cổ [Dẫn
chứng cụ thể?] Các hình phạt dã man khác cũng được áp dụng cho các hành vi
phạm tội ít nghiêm trọng hơn như: chọc mù mắt, khắc chữ vào mặt, chặt chân tay,
cắt lưỡi, bắt đi trên than hồng Pháp luật chủ nô còn cho phép tra tấn nhục hình
phạm nhân, cho phép trả thù ngang bằng (Ví dụ: Điều 2 Bảng VIII Luật 12 bảng:
"Nếu ai gây thương tích làm tàn tật người khác và không bồi thường, thì việc trả
thù ngang bằng là hợp pháp"). Trong nhiều trường hợp, pháp luật chủ nô cho
nào?]. Đây là nơi thuận lợi cho kinh tế nông nghiệp phát triển.
Trong khi đó về điều kiện tự nhiên, ở Phương Tây, các nhà nước Hy Lạp và La
Mã được hình thành chủ yếu trên 2 bán đảo là bán đảo Ban-căng và bán đảo I-ta-
li-a. Đây là nơi không thuận lợi cho kinh tế nông nghiệp, nhưng thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế thủ công nghiệp, thương nghiệp [Nêu dẫn chứng cụ thể để chứng
minh cho lập luận trên? lý giải vì sao nhà nước ở Phương Tây lại ra đời muộn
hơn ở Phương Đông?].
2. Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Ở Phương Đông, nhà nước Phương Đông ra đời trên cơ sở lực lượng sản xuất phát
triển thuộc giai đoạn đồ đồng. Kinh tế tự nhiên, trong đó nông nghiệp chiếm vai
trò chủ đạo. Ở Phương Tây, nhà nước ra đời trên cơ sở lực lượng sản xuất đã phát
triển thuộc giai đoạn đồ sắt [Sự khác nhau về tính chất và trình độ của lực lượng
sản xuất nói lên điều gì?].
3. Thời điểm xuất hiện nhà nước
Các nhà sử học cho rằng khoảng thế kỷ 7 TCN, tức là mãi sau hơn 2000 năm, sau
sự xuất hiện của nhà nước Phương Đông cổ đại, nhà nước Phương Tây mới ra đời
(Cụ thể: nhà nước thành bang của Hy Lạp xuất hiện sớm nhất vào khoảng thế kỷ
VIII - VI TCN trong khi đó nhà nước Phương Đông lại xuất hiện rất sớm từ cuối
thiên niên kỷ thứ IV TCN) [Dựa vào đâu mà người ta xác định được thời điểm xuất
hiện nhà nước? Tiêu chí nào để biết rằng nhà nước ra đời? Liệu có một cái mốc cụ
thể rằng nhà nước năm này hay năm kia ra đời không?].
4. Thành thị
Nhà nước Phương Đông cổ đại tồn tại và phát triển trên cơ sở nền kinh tế tự nhiên,
kinh tế hàng hoá chậm phát triển nên không xuất hiện những trung tâm kinh tế lớn.
[Tại sao kinh tế hàng hóa lại chậm phát triển ở Phương Đông?].
Ở Phương Tây, nền kinh tế vẫn mang tính chất tự nhiên, nhưng khác với Phương
Đông là kinh tế công thương nghiệp ở Phương Tây rất phát triển, nên ở Phương
Tây đã sớm xuất hiện những thành thị, những khu tập trung buôn bán, trao đổi
hàng hóa.
Khác cơ bản với thành thị ở Phương Đông mang nhiều yếu tố "tĩnh" chủ yếu là
các lãnh chúa [Còn có những nguyên nhân nào khác không?].
7. Hình thức nhà nước
Hình thức chính thể ở Phương Đông hầu hết là hình thức quân chủ (Nêu ví dụ?).
Vua đứng đầu nhà nước, có quyền lực cao nhất về mọi mặt, vua được thần thánh
hoá, được coi là vị thần vĩ đại, là thiên tử hoặc tăng lữ tối cao [Ở nhà nước nào?
Người đứng đầu nhà nước thời kỳ này ở Phương Đông có những đặc điểm gì
giống và khác so với người đứng đầu nhà nước ở những giai đoạn sau đó? Cho ví
dụ?]. Quần chúng nhân dân phải phục tùng vô điều kiện giai cấp thống trị và hầu
như không được tham gia bất cứ sinh hoạt chính trị nào của đất nước [Dẫn
chứng?].
Ở Phương Tây, hình thức chính thể được biểu hiện rất đa dạng gồm dân chủ chủ
nô, cộng hoà quý tộc, quân chủ chuyên chế. Ví dụ nhà nước Xpác (nhà nước cộng
hoà quý tộc chủ nô); nhà nước Aten (nhà nước cộng hòa dân chủ chủ nô); nhà
nước La mã (cộng hoà và quân chủ chuyên chế). Những nhà nước được tổ chức
theo chính thể cộng hòa thì các thiết chế quan trọng được hình thành bằng phương
thức bầu cử. Ví dụ: Thiết chế Hội nghị công dân ở nhà nước Aten; Hai vua trong
nhà nước Xpac được hình thành bằng phương thức bầu cử (Tại sao ở Phương Tây
lại xuất hiện đa dạng các hình thức chính thể như vậy? hình thức quân chủ ở
Phương Đông và Phương Tây thời kỳ này có những điểm khác nhau nào?].
Về hình thức cấu trúc nhà nước,đa phần các nhà nước là đơn nhất. Ở Phương Tây
đặc biệt là ở Hy Lạp và La Mã cổ đại đã lần lượt xuất hiện các nhà nước thành
bang (Tại sao? Nêu ví dụ?).
Về chế độ chính trị, khác với các nhà nước Phương Đông, các biện pháp và biểu
hiện dân chủ (Demokratie) đã xuất hiện ở nhà nước Phương Tây. Ví dụ: Hội nghị
công dân - cơ quan quyền lực cao nhất trong nhà nước Aten cổ đại. Một trong
những lý do khiến tính chất, mức độ dân chủ của nhà nước ở Phương Tây cao hơn
Phương Đông thời kỳ này là do những nhà nước ở Phương Tây thời kỳ này liên
tục có những cuộc cải cách rất toàn diện từ chính trị, kinh tế đến xã hội (Ví dụ:
điển hình là các cuộc cải cách của Xô-lông, Clít-x-ten, Pê-ri-clét ở nhà nước Aten
cổ đại) [Tại sao ở Phương Tây lại diễn ra các cuộc cải cách như vậy? So sánh các
Ở Phương Đông, hệ thống các cơ quan giúp việc cho nhà vua từ trung ương đến
địa phương được phân chia theo chức năng, lĩnh vực (kể tên các cơ quan, chức
năng, nhiệm vụ cụ thể?). Ở Phương Tây, ví dụ nhà nước cộng hòa quí tộc chủ nô
Xpac cũng có thiết chế nhà vua (hai nhà vua) - người đứng đầu nhà nước, nhưng
hai vua không phải là thiết chế nắm nhiều quyền hành. Ở các nhà nước Phương
Tây cổ đại, sự chuyên môn hóa trong hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng
cao hơn, xuất phát từ nguyên nhân những nhà nước này liên tục có các cuộc cải
cách rất toàn diện [Còn có nguyên nhân nào khác không?]. Ví dụ: Sự chuyên
nghiệp trong tổ chức và hoạt động của các thiết chế như: Hội đồng 5 quan giám sát
ở nhà nước Xpac, Hội đồng 10 tướng lĩnh ở Aten, Hội đồng quan án ở La Mã
[Tiêu chí nào để đánh giá sự chuyên nghiệp?].
Về cơ quan xét xử, ở Phương Đông nhìn chung cơ quan xét xử không tách riêng
thành cơ quan độc lập với cơ quan hành chính. Cụ thể quyền xét xử tối cao thuộc
về ngư*ời đứng đầu nhà nư*ớc và thư*ờng được nhà vua uỷ nhiệm cho một cơ
quan đặc biệt ở trung ương. Tại các địa phương, hoạt động xét xử thuộc thẩm
quyền của viên quan đứng đầu đơn vị hành chính đó. [Tại sao ở Phương Đông thì
cơ quan xét xử không tách riêng thành cơ quan độc lập với các cơ quan hành
chính? Hệ quả?]. Ở Phương Tây ngay từ đầu tính chuyên nghiệp và tính độc lập
trong hoạt động xét xử đã cao hơn. Các cơ quan xét xử thường được tách khỏi cơ
quan hành chính và phân nhóm để xét xử những loại vụ việc cụ thể. Ví dụ: ở La
mã (thời kì cộng hòa) cơ quan xét xử chuyên trách được thành lập với số lượng
khá đông các thẩm phán được bầu, hoạt động thường xuyên theo các nhóm với
quy chế hoạt động chặt chẽ. [Vậy ở nhà nước Hy Lạp thời cổ đại có sự tách biệt
này không?].
10. Pháp luật
Thời cổ đại đã có những sản phẩm lập pháp rất đồ sộ và thể hiện tính pháp điển
hóa cao như Bộ luật Hammurabi và Bộ luật Manu (ở Phương Đông), Luật 12
Bảng và Bộ pháp điển Corpus Iuris Civilis năm 533 SCN ở La Mã (ở Phương
Tây). Đây là những thành tựu nổi bật về lập pháp thời cổ đại.
Điểm khác biệtrõ nhất giữa pháp luật Phương Đông và Phương Tây thời cổ đại là
trước hoặc khoản nợ mà Tòa án đã tuyên bố buộc phải trả, thì trong thời hạn ba
mươi ngày khoản nợ đó phải được thanh toán“; Điều 1. Bảng VI: “Nếu một người
làm một giao kèo hoặc chuyển nhượng và thông báo điều đó bằng lời nói, thì kể từ
thời điểm đó quyền lợi được xác lập); 4). Xác định rõ quyền đối với bất động sản
liền kề (Ví dụ: Điều 1. Bảng VII: “Một người chủ tài sản phải làm một con đường
để đi lại (nếu tồn tại một quyền với lối đi - right-of-way); nếu người chủ từ chối
không làm, khách qua đường vẫn có quyền đi qua cùng với gia súc bất cứ chỗ nào
mà họ phải đi qua.”); 5). Xác định rõ đối tượng được hưởng thừa kế (Ví dụ: Điều
1. Bảng V: “Nếu một người qua đời không để lại di chúc mà cũng không có người
thừa kế theo luật, thì người đàn ông tiếp theo thuộc họ hàng gần nhất sẽ hưởng
thừa kế. Nếu không có người đàn ông kế tiếp thuộc họ hàng gần nhất, những
người đàn ông thuộc dòng tộc còn lại sẽ được hưởng thừa kế”; Điều 2. Bảng V
Luật 12 Bảng: “Nếu một người bị điên, thì người đàn ông tiếp theo thuộc họ hàng
gần nhất của người đó sẽ có quyền đối với tài sản của anh ta") [Nhận xét, bình
luận?].
- Bộ pháp điển Corpus Iuris Civilis năm 533 SCN ở La Mã là đỉnh cao về lập pháp
thời cổ đại. Đây được coi là cội nguồn của luật pháp Châu Âu thời Trung đại và
Cận hiện đại. Sự tiến bộ của Bộ pháp điển này ở chỗ pháp luật bảo vệ tất cả các
mặt của chế độ tư hữu, phạm vi điều chỉnh của luật rất sâu và rộng, liên quan đến
cá nhân như sở hữu, hôn nhân và gia đình, hợp đồng, thừa kế. Điển hình là các qui
định như: 1). Phân loại sở hữu đất đai thành sở hữu nhà nước, sở hữu công xã và
tư hữu; 2). về qui định điều kiện hợp đồng phải thoả mãn 2 điều kiện là phải dựa
trên cơ sở thoả thuận tự nguyện giữa hai bên, không được lừa dối, không được
dùng bạo lực và nội dung của hợp đồng phải hợp pháp, phù hợp với các qui định
của pháp luật, người kí kết phải có đủ năng lực theo qui định của pháp luật; 3).
Các cách phân loại hợp đồng; 4). Qui định về cầm cố tài sản; 5). Cách qui định về
giải quyết tranh chấp hợp đồng khi gặp phải trường hợp bất khả kháng; 6). Về
thừa kế theo di chúc (Testato) và thừa kế theo luật (Intestato); 7. Về qui định tài
sản riêng của vợ chồng; 8. Về việc cho phép người vợ có quyền li hôn và nhận lại
của hồi môn của mình ([Đọc bản dịch của Bộ luật và trích dẫn đúng những điều