Các hình thức sở hữu hiến định – Phần 1 - Pdf 19

Các hình thức sở hữu hiến định –
Phần 1

Châu Âu vào đầu thế kỷ XIX, những nhà kinh tế học cổ điển hầu như không bàn
đến vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất. Quyền sở hữu được cho là quyền tự nhiên.
Ngay cả trong bản tuyên ngôn về quyền con người, quyền công dân sau Cách
mạng tư sản Pháp 1789 cũng viết: “Sở hữu là quyền không thể xâm phạm và
thiêng liêng của con người”. Con người sinh ra là đã có quyền sở hữu.
Marx chỉ ra rằng quan hệ sản xuất chịu sự quyết định trực tiếp của lực lượng sản
xuất, nhưng với tư cách là thành tố quan trọng nhất, quyết định bản chất quan hệ
sản xuất, quyết định bản chất chế độ kinh tế, quan hệ sở hữu là tiêu chí để phân
biệt các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau. Như vậy quan hệ sở hữu trong xã hội
như thế nào thì kết cấu giai cấp, bản chất chính trị của xã hội sẽ như vậy. Sở hữu
là một vấn đề kinh tế chính trị, cần có quan điểm chính trị khi bàn về vấn đề sở
hữu chứ không chỉ thuần túy kinh tế khi xem xét vấn đề này.
Bàn đến vấn đề sở hữu là bàn đến vấn đề cốt lõi của một chế độ kinh tế – xã hội.
Trước khi chủ nghĩa lập hiến ra đời những vấn đề cốt lõi có tính nhạy cảm phô bày
bản chất giai cấp, bản chất của Nhà nước như vấn đề sở hữu chưa bao giờ được
đưa ra công khai trước toàn xã hội như một thỏa ước hết sức bình đẳng giữa nhà
cầm quyền và nhân dân. Vấn đề sở hữu như là yếu tố lõi của một nền kinh tế vì thế
hẳn nhiên nó cũng có quan hệ rất lớn, ảnh hưởng nhiều đến sự hưng vong của một
nền chính trị của bất cứ quốc gia nào. Việc phân tích các hình thức sở hữu của một
xã hội cho phép xác định cơ cấu kinh tế - xã hội, địa vị kinh tế - xã hội của mỗi
giai cấp, tầng lớp trong trong xã hội cũng như những mối quan hệ qua lại giữa các
hình thức sở hữu có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu cơ sở hạ tầng của nhà
nước, bản chất giai cấp của Nhà nước.
Với cách tiếp cận pháp lý – chính trị, nước ta hiện nay thừa nhận song song 2 chế
độ sở hữu xã hội chủ nghĩa (với nền tảng là sở hữu toàn dân và chế độ sở hữu tập
thể) và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa ( hình thức sở hữu tư nhân làm nòng cốt).
Trong Hiến pháp năm 1946, Nhà nước ta chưa xác định các hình thức sở hữu
trong nền kinh tế quốc dân. Đến Hiến pháp 1959, bốn hình thức sở hữu chủ yếu

1. Cơ sở pháp lý và lý luận
1.1. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp năm 1992 là cơ sở pháp lý cao nhất cho sự ra đời và hoàn thiện pháp
luật về kinh tế - phương tiện đặc biệt quan trọng trong việc xóa bỏ các quan hệ
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng quan hệ kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, mở
cửa, hội nhập, có sự quản lý của Nhà nước.
Sự đổi mới về mặt tư duy, nhận thức về vấn đề quan hệ sản xuất gồm quan hệ sở
hữu, quan hệ quản lý, quan hệ phân phối thực sự là một cuộc cách mạng đã vực
dậy nền kinh tế Việt Nam và tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ về mọi mặt của đời
sống xã hội. Sự đa dạng hóa các thành phần kinh tế trong Hiến pháp 1992 có nền
tảng là chế độ sở hữu gồm ba hình thức: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu
tư nhân, trong đó sở hữu tư nhân lần đầu tiên được thừa nhận là động lực mạnh
mẽ, giải phóng sức lao động, tạo sức bật cho toàn thể xã hội.
Đề tài chúng tôi dựa trên cơ sở pháp lý là điều 15 thuộc chương II, chương chế độ
kinh tế Hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 để tìm hiểu các hình thức sở
hữu hiến định với cách tiếp cận pháp lý:
"Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhà nướcthực hiện nhất quán chính sáchphát triển nền kinh tếthị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập
thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”
Đồng thời cũng dựa vào các quy định khác trong Hiến pháp 1992:
Điều 17 Hiến pháp năm 1992:Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên
trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài
sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực
kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kĩ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng
các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn
dân.

hình thức, cơ chế thực hiện sở hữu, và thứ hai là sự phân cấp trong quan hệ sở
hữu.
Về sự phân cấp trong quan hệ sở hữu quan hệ đến vấn đề “tổ hợp các quyền” gọi
là quyền sở hữu. Tổ hợp ấy gồm các quyền: quyền sử dụng; quyền hưởng thụ:
quyền chuyển nhượng (cho thuê, bán), quyền thế chấp; quyền mở mang thu hẹp
hay thay đổi vật sở hữu từ bản chất, chức năng, cơ cấu tổ chức đến mục đích của
vật sở hữu ấy; quyền hiến tặng, quyền phá huỷ hoặc thủ tiêu vật sở hữu nếu không
vi phạm pháp luật. Từ đó xuất hiện khái niệm đồng sở hữu. Như trong doanh
nghiệp nhà nước thì Nhà nước cùng giám đốc doanh nghiệp hoặc hội đồng quản trị
và công nhân là đồng sở hữu.
Khái niệm đồng sở hữu chỉ phù hợp ở những phạm vi, thời gian nhất định. Người
nắm quyền sở hữu có quyền nắm tất cả các quyền còn lại, hoặc phân cho những
đối tượng những quyền khác nhau. Những đối tượng nắm một hay một số quyền
trong thời hạn nào đó được tham dự vào quyền sở hữu, có lợi ích từ đó. Vì vậy họ
trở thành đồng sở hữu chỉ ở phạm vi, mức độ và thời gian nhất định.
Vì vậy sự phân cấp trong quan hệ sở hữu để có thể thực hiện có hiệu quả hơn sở
hữu đó về mặt kinh tế cũng là đòi hỏi của cuộc sống.
Trước khi đi vào phân tích chúng tôi sẽ làm rõ các định nghĩa và cách tiếp cận của
nhóm trong vấn đề các hình thức sở hữu hiến định ở dưới đây:
-Trước hết là định nghĩa về sở hữu:Về mặt thuật ngữ sở hữu có nguồn gốc Hán
Việt. Về mặt lý luận có thể được hiểu sở hữu là quan hệ xã hội giữa người với
người về việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải xã hội. Khi nói về sở hữu
không chỉ bao gồm quan hệ con người chiếm hữu tư liệu sản xuất, của cải, mà hết
sức quan trọng là nói về quan hệ giữa người với người diễn ra sự chiếm hữu đó.
Người ta phân biệt hai loại sở hữu: loại sở hữu mang tính dân sự (sở hữu nhà ở, sở
hữu đồ dùng cá nhân) và sở hữu tư liệu sản xuất. Quyền sở hữu theo quan điểm
của pháp luật nói chung và pháp luật Dân sự nói riêng bao gồm 3 quyền năng :
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt[1].
Hiện tại các nhà làm luật của Việt Nam vẫn duy trì việc tồn tại song song hai cách
tiếp cận chính trị và pháp lý. Nếu tiếp cận dưới góc độ pháp lý thì việc minh định

được pháp luật qui định về chế độ pháp lý đối với nó.
Luật Dân sự Việt Nam thừa nhận tài sản theo nghĩa rộng, theo đó, tài sản bao gồm
các vật và quyền tài sản trên các vật đó (vật quyền). Mặc dù không đưa ra định
nghĩa về tài sản nhưng Điều 163 Bộ luật Dân sự xác định tài sản bao gồm vật, tiền,
các giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
BLDS năm 2005 phân loại tài sản thành động sản – bất động sản, tài sản hữu hình
– tài sản vô hình, đó là những phân loại mang tính truyền thống và phù hợp với
thông lệ quốc tế. Bài viết này tập trung đề cập đến cách phân loại tài sản ở cách
phân loại thú hai – Bất động sản và động sản. Để phân biệt động sản – bất động
sản Bộ luật Dân sự đã dùng phương pháp loại trừ để xác định một tài sản là động
sản hay bất động sản. Khoản 1 Điều 174 BLDS liệt kê các tài sản được coi là bất
động sản,
1. Bất động sản là các tài sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà,
công trình xây dựng đó;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản
Việc phân biệt động sản và bất động sản chủ yếu dựa trên tính chất vật lý không di
dời được về mặt cơ học và giá trị kinh tế. Trên thực tế thì những tài sản không di,
dời được thường là những tài sản có giá trị lớn, như ruộng vườn, nhà cửa, ao
chuôm. Việc phân biệt động sản và bất động sản nhằm mục đích qui định hai quy
chế pháp lý khác nhau cho hai loại tài sản này. Hai qui chế pháp lý này ảnh hưởng
trực tiếp đến những qui định của BLDS khi qui định về quyền của chủ sở hữu thực
quyền đòi lại động sản, bất động sản từ người chiếm hữư không có căn cứ pháp
luật nhưng ngay tình theo qui định tại Điều 256,257,258 của BLDS
Theo qui định tại Điều 174 BLDS, có thể thấy luật tài sản Việt Nam thừa nhận các
loại bất động sản sau đây:
Bất động sản không thể di, dời được do bản chất tự nhiên vốn có của nó, bao gồm

chủ yếu thuộc về công hữu, còn không chủ yếu có thể thuộc những hình thức sở
hữu khác, kể cả sở hữu cá nhân. Thực tiễn đã chứng minh quan điểm có tính chất
mở như trên là phù hợp với quy luật khách quan. Trong thời kỳ quá độ, chúng ta
chưa thể thiết lập được một chế độ công hữu toàn diện mà phải thừa nhận sự vận
động của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần kinh tế cùng với sự đa dạng các
hình thức sở hữu.
Theo quan điểm pháp luật dân sự thì có rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau như
sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu chung, sở hữu của tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (Điều 172, chương IV, BLDS
2005) tuy nhiên điều 15 thuộc chương II, chương chế độ kinh tế Hiến pháp 1992
qui định 3 hình thức sở hữu chủ yếu:
"Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhà nướcthực hiện nhất quán chính sáchphát triển nền kinh tếthị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ
chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập
thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.”
Cần phân biệt chế độ sở hữu với các hình thức sở hữu khác theo quan điểm pháp
luật dân sự (Điều 172, chương IV, BLDS 2005). Gọi là chế độ sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể, sở hữu tư nhân khi đề cập ở góc độ chính trị-pháp lý. Các hình thức
này trong Hiến pháp quy định nên gọi là các hình thức sở hữu hiến định.
Vấn đề phân loại các hình thức sở hữu gợi ra câu hỏi là tại sao và căn cứ vào cái gì
để có thể chia sở hữu thành 7 hình thức theo pháp luật dân sự. Hiện nay các nhà
làm luật Việt Nam đang đồng thời dựa vào 2 tiêu chí để thực hiện việc phân loại
này. Căn cứ thứ nhất là tính chất chính trị (công hay tư) của việc chiếm hữu tài
sản. Chính vì căn cứ vào tiêu chí này có thể chia sở hữu thành sở hữu xã hội chủ
nghĩa (với hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và sở hữu
phi xã hội chủ nghĩa mà sở hữu tư nhân là đại diện chủ yếu. Căn cứ thứ hai là dựa
vào yếu tố ai là người được coi là chủ sở hữu của tài sản. Nếu toàn dân là chủ sở

Trong thời kì quá độ ở Việt Nam có ba loại hình sở hữu cơ bản : sở hữu toàn dân,
sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân ( tư hữu ) mỗi loại hình sở hữu lại có nhiều hình
thức sở hữu ở nhiều mức độ chín muồi khác nhau. Các hình thức sở hữu tư liệu
sản xuất tồn tại khách quan, lâu dài và thường đan xen lẫn nhau. Trong một đơn vị
sản xuất - kinh doanh có thể có nhiều chủ sở hữu đại diện cho nhiều hình thức sở
hữu tư liệu sản xuất. Ví dụ, trong công ti cổ phần bao gồm nhiều cổ đông thuộc
loại nhiều loại hình sở hữu khác nhau ( sở hữu công cộng, sở hữu tập thể, sở hữu
tư nhân ); trong hợp tác xã, đất đai thuộc sở hữu công cộng, vốn và tư liệu sản xuất
có phần thuộc sở hữu tập thể, có phần thuộc sở hữu của hộ xã viên; trong công ty
tư nhân, tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tư nhân, nhưng đất đai, điện, nước thuộc
sở hữu công cộng.
Chính sự đa dạng của các loại hình sở hữu và các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
tồn tại đan xen với nhau mà hình thành nhiều thành phần kinh tế, nhiều tổ chức
liên doanh, liên kết và các hình thức kinh tế quá độ hết sức phong phú trong thời
kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong các hình thức sở hữu trên thì sở hữu công hữu những tư liệu sản xuất chủ
yếu là nền tảng, là đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, nhưng nó chỉ có thể được hình
thành từng bước từ thấp đến cao và chỉ chiếm ưu thế tuyệt đối khi chủ nghĩa xã
hội được xây dựng xong về cơ bản.
nhà nước
- Chủ thể của sở hữu nhà nước: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân nên trên thực tế Nhà
nước là chủ thể duy nhất của sở hữu của sở hữu toàn dân. Các cơ quan nhà nước,
các tổ chức xã hội và công dân được Nhà nước giao vốn, các tư liệu sản xuất, các
phương tiện làm việc để quản lý, sử dụng. Nhà nước không giao cho các cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và cá nhân quyền sở hữu mà chỉ giao cho
quyền sử dụng. Khi sử dụng không đúng mục đích hoặc trái quy định của pháp
luật, Nhà nước có thể chuyển giao quyền sử dụng từ cơ quan, tổ chức này cho cơ
quan, tổ chức khác Tuy nhiên để tài sản thuộc thuộc sở hữu nhà nước được bảo
tồn và sử dụng có hiệu quả, Nhà nước quy định những quyền và nghĩa vụ cụ thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status