skkn sử dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy và học chương i quang học - môn vật lí 7 ở trường thcs - Pdf 19

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
TRONG DẠY VÀ HỌC CHƯƠNG I: QUANG
HỌC - MÔN VẬT LÍ 7 Ở TRƯỜNG THCS
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài:
Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu tất yếu, đảm bảo cho
sự phát triển của giáo dục, là nền tảng, là động lực thúc đẩy công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước để Việt nam từng bước vững vàng khi hội nhập
vào nền kinh tế thế giới. Ngày nay nền kinh tế tri thức cùng với sự bùng
nổ thông tin, giáo dục đã và đang thay đổi để phù hợp với sự phát triển
của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của xã hội. Nội dung tri thức khoa
học cùng với sự đồ sộ về lượng thông tin yêu cầu chúng ta phải đổi mới
phương pháp dạy học. Trong giai đoạn hiện nay giáo dục không chỉ tạo ra
những con người có tài, có đức mà giáo dục còn có một thiên chức cao
quý hơn đó là giáo dục cái thẩm mỹ, nhân văn, đào tạo ra những con
người có kỹ năng sống và học tập trong thời đại mới. Mục tiêu giáo dục
thay đổi kéo theo yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học một cách
phù hợp. Nhằm giúp cho giáo viên tháo gỡ những khó khăn trong quá
trình đổi mới phương pháp dạy học, đã có nhiều giáo sư tiến sỹ, các nhà
khoa học chuyên tâm nghiên cứu, thí điểm và triển khai đại trà về đổi mới

qua phương pháp dạy học bộ môn, đặc biệt là phương pháp thực nghiệm.
Vì vậy trong đề tài này tôi xin mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm cụ thể
về việc “Sử dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy và học chương I:
Quang học - môn Vật lí 7 ở trường THCS, sau đó phát triển thêm. Với
những ý tưởng này tôi hi vọng sẽ từng bước đổi mới được phương pháp
giảng dạy một cách có hiệu quả làm cho chất lượng giáo dục ngày càng
cao hơn.

II. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài này được thực hiện trong thời gian từ năm học 2008 - 2009 đến
năm học 2009 - 2010 trong phạm vi các lớp khối 7 trường THCS Dương
Thủy - huyện Lệ Thủy.
B. CƠ SỞ LÍ LUẬN - CƠ SỞ THỰC TIỄN
I. Cơ sở lí luận:
Như chúng ta đã thấy, mỗi môn học có một đặc trưng riêng, vì vậy
khi giảng dạy các môn học khác nhau thì cũng có phương pháp giảng dạy
khác nhau. Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm nên việc đổi mới
phương pháp cũng xuất phát từ đặc trưng này của bộ môn.
Các kiến thức vật lí là sự khái quát hóa các kết quả nghiên cứu thực
nghiệm và các hiện tượng diễn ra trong đời sống. Không có thí nghiệm,
học sinh không có cơ sở để thực hiện các thao tác tư duy để tiếp cận tri
thức mới. Do đó mọi kiến thức mà giáo viên truyền đạt đến học sinh còn
mang tính áp đặt.
Ta có thể nói rằng “Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy
không bằng một làm”. Sự hiểu biết thế giới vật lí không chỉ đơn thuần
bằng suy diễn lôgic. Chỉ có những quan sát thực nghiệm mới cho phép ta
kiểm tra được sự đúng đắn của một sự vật hiện tượng.

hợp sẽ không thành công.
Phong trào đổi mới phương pháp dạy học đã và đang diễn ra một
cách rầm rộ. Tuy nhiên với đa số giáo viên, đặc biệt là giáo viên lớn tuổi
vẫn còn lúng túng hoặc còn ngần ngại khi sử dụng thiết bị dạy học. Việc
tập huấn sử dụng lắp ráp thí nghiệm cho giáo viên còn ít nên khi sử dụng
đồ dùng hoặc lắp ráp thí nghiệm vẫn chưa có hiệu quả cao.
Học sinh ít được tiếp cận với các đồ dùng hiện đại hàng ngày nên
kiến thức thực tiễn về khoa học của học sinh còn nhiều hạn chế, mức độ
hứng thú đối với bộ môn còn ít.
Trường THCS Dương Thủy đã được trang cấp, xây dựng một
phòng thực hành vật lí, đây là điều kiện thuận lợi cho giáo viên triển khai
thực hiện đổi mới dạy học bằng phương pháp thực nghiệm một cách có
hiệu quả.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên nên đã không ít gây ảnh hưởng
đến chất lượng giảng dạy môn vật lý nói chung và vật lý 7 nói riêng.

Kết quả kiểm tra chương I của toàn trường
Năm học: 2008 - 2009
Tổng số
học sinh

Điểm < 5 Điểm 0 - 2
Điểm  5
Điểm
Khá - giỏi
SL % SL % SL % SL %
115 46 40,0 12 10,4 69 60,0 21 18,3

Qua quá trình điều tra phân tích số liệu ở trên ta thấy chất lượng
dạy học bộ môn vật lí 7 còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu. Học sinh

- Có vô số đường (học sinh vẽ hoặc trả lời). Vậy ánh sáng đi theo đường
nào trong những con đường có thể đó, để truyền đến mắt? Từ đó làm xuất
hiện vấn đề tâm lý có hứng thú muốn được giải quyết.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Gương cầu lồi” trong “Chương I: Quang học” giáo
viên có thể đặt vấn đề như sau:
Nhìn vào một gương phẳng ta thấy ảnh của mình ở trong gương .
Nếu gương có mặt phản xạ là mặt ngoài của một phần mặt cầu (gương cầu
lồi) thì ta có thể nhìn thấy ảnh của mình ở trong gương nữa không? Nếu
có thì ảnh đó khác ảnh trong gương phẳng như thế nào?
* Thứ hai: Xây dựng dự đoán, có thể đúng hoặc sai.
Từ vấn đề đã được rút ra học sinh suy nghĩ hướng giải quyết, mỗi
học sinh có thể đưa ra dự đoán của mình.
Ví dụ: * Từ vấn đề đưa ra ở ví dụ 1 (ở trên) học sinh có thễ dự đoán:
- ánh sáng nó truyền theo đường cong
- ánh sáng nó truyền đi theo đường thẳng;
* Từ vấn đề đưa ra ở ví dụ hai (ở trên) học sinh có thể dự
đoán:
- ảnh của vật tạo bởi gương cầu lồi là ảnh ảo (ảnh thật)
- ảnh đó lớn bằng vật (hoặc nhỏ hơn vật, hoặc lớn hơn
vật)
*Thứ 3: Đề xuất và thực hiện một phương án thí nghiệm, thí nghiệm
kiểm tra.
+ Giáo viên cho học sinh phát biểu một phương án thí nghiệm
kiểm tra.
+ Tiến hành thí nghiệm, quan sát hiện tượng, ghi nhận xét kết
quả, công bố kết quả
Ví dụ: Từ dự đoán của học sinh về ánh sáng truyền đi theo đường nào?
Giáo viên yêu cầu học sinh nghĩ ra phương án thí nghiệm kiểm tra. Dựa
vào kinh nghiệm của mình học sinh có thể đưa ra một số phương án như
sau:

chức cho học sinh thảo luận nhóm, thảo luận giữa các nhóm với nhau và
thống nhất kết quả cuối cùng. Trong hoạt động này cần lưu ý cho học sinh
bằng những định hướng của các phương án thí nghiệm trên các em thực tế
bắt tay vào sờ mó và điều khiển, tiến hành thí nghiệm, thu thập thông tin.
Việc ghi chép các thông tin thu được, thành lập biểu bảng một cách trung
thực. Trong khi hình thành kiến thức cần chú trọng nhiều đến phương
pháp suy luận quy nạp. Cần chú trọng việc phát triển ngôn ngữ cho học
sinh, rèn luyện cho các em kĩ năng diễn đạt rõ ràng, chính xác ngôn ngữ
vật lý thông qua việc thảo luận nhóm, tạo điều kiện cho các em được nói
nhiều hơn ở nhóm, ở lớp.
* Thứ tư: Thảo luận để mọi người chấp nhận kết quả
- Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm.
- Giáo viên hướng dẫn cho học sinh thảo luận rút ra kết quả.
Ví dụ: Khi học sinh làm thí nghiệm để xác định xem ánh sáng truyền đi
theo đường nào giáo viên yêu cầu học sinh điền vào chỗ trống để hoàn
thành câu kết luận sau:
Đường truyền của ánh sáng trong không khí là đường thẳng.
Hoặc khi học sinh làm thí nghiệm để xác định ảnh của vật tạo bởi gương
cầu lồi có tính chất gì và yêu cầu học sinh ghi kết quả quan sát vào phần
kết luận sau:
ảnh của một vật tạo bởi gương cầu lồi có những tính chất sau
đây:
1. Là ảnh ảo, không hứng được trên màn chắn.
2. ảnh quan sát được nhỏ hơn vật.
* Thứ năm: ứng dụng kiến thức mới:
Từ kết quả rút ra, giáo viên hướng cho học sinh giải thích một số
hiện tượng trong thực tế. Trên cơ sở đó có thể hướng dẫn học sinh chế tạo
hoặc làm một thiết bị được đưa vào bài tập ở nhà nhằm khuyến khích học
sinh khá giỏi làm việc hoặc giao nhiệm vụ cho các nhóm làm ở nhà.
Ví dụ: Từ kết luận được rút ra: “đường truyền ánh sáng trong không khí

Thiết kế bài dạy trong chương 1 - Vật lý 7

Ngày dạy:
Tiết 7 GƯƠNG CẦU LỒI
I. Mục tiêu:
* Kiến thức:
- Nêu được những tính chất của ảnh một tạo bởi gương cầu lồi.
- Nhận biết được vùng nhìn thấy của gương cầu lồi rộng hơn của
gương phẳng có cùng kích thước.

* Kĩ năng:
- Giải thích được ứng dụng của gương cầu lồi.
- Làm thí nghiệm để xác định được tính chất ảnh của vật qua gương
cầu lồi.
* Thái độ:
- Trung thực, tỉ mĩ, cẩn thận trong khi làm TN.
- Có tinh thần cộng tác phối hợp với bạn trong hoạt đông chung của
nhóm.
II. Chuẩn bị:
* Mỗi nhóm: 1 gương cầu lồi, 1 gương phẳng có cùng kích thước rìa
mép
2 viên phấn giống nhau.
1 tấm bìa đã kẻ ô sẵn
* GV chuẩn bị: Giáo viên phải làm trước thí nghiệm, lường trước những
tình huống có thể xảy ra và có cách giải quyết thích đáng tránh bị động.
Chuẩn bị sẵn cho HS một số bản trong với nội dung sau:
Phiếu 1: Kết luận:
ảnh của vật tạo bởi gương cầu lồi có tính chất sau:
1. Là ảnh không hứng được trên màn chắn.
2. ảnh quan sát được hơn vật.

mình trong gương. Còn khi
nhìn vào gương cầu lồi ta có
nhìn thấy ảnh của mình ở
trong gương không? Nếu có
thì ảnh đó khác ảnh trong
gương phẳng như thế nào? Bài
học hôm nay sẽ cho chúng ta
câu trả lời.
HĐ2: (12 phút) Dự đoán và
làm thí nghiệm kiểm tra tính
chất ảnh tạo bởi gương cầu
lồi .
- Yêu cầu HS đọc mục I phần
“Quan sát”, của SGK và làm
Thí nghiệm hình 7.1.

- Yêu cầu 2 nhóm nêu dự đoán
về tính chất ảnh tạo bởi gương
cầu lồi
(GV ghi tóm tắt dự đoán ở góc
bảng)
- Để kiểm tra dự đoán chúng ta
phải tiến hành thí nghiệm.
- Yêu cầu HS nêu mục đích thí
nghiệm.
- 1 đến 2 HS trả
lời, yêu cầu nêu

-
Qua quan sát HS
nêu dự đoán về
tính chất ảnh của
vật tạo bởi gương
cầu lồi.

- 1 HS nêu mục
Tiết7:
Gương cầu lồi
- GV gợi ý cách tiến hành thí
nghiệm: Sử dụng tấm bìa có
kẻ ô sẵnđể vật được đặt cách
đều hai gương.
- GV thu kết quả của 2 nhóm
chiếu trên máy. Yêu cầu các
nhóm khác nhận xét.
- GV chốt lại kết luận đúng.

HĐ3: (12 phút) so sánh vùng
quan sát được trong gương
cầu lồi và gương phẳng
- GV gọi 1 HS đọc SGK phần
thí nghiệm ở mục II.
- GV chia lớp thành 4 nhóm và
yêu câù làm thí nghiệm
(lưu ý cho các nhóm có thể
đánh dấu điểm ngay trên bàn
để gương không cần phải đánh
dấu ở bàn sau )
- Sau đó điền nội dung thông
tin còn thiếu vào phiếu đã
chuẩn bị.
- GV thu kết quả 2 đến 3
phiếu, chiếu và tổ chức cho
các nhóm khác nhận xét.
- GV chốt lại và ghi bảng.
- 1HS đứng tại chỗ
đọc, cả lớp theo
dõi.

- Bố trí thí nghiệm
làm việc theo
nhóm, rút ra nhận
xét so sánh vào
phiếu học tập 2.
- HS thảo luận và
rút ra kết luận.

- HS nhận xét kết
quả của nhóm bạn.

- HS làm việc cá
nhân theo gợi ý
của GV
- Phương án làm thí
nghiệm: +
+


có cùng kích thước.

III) Vận dụng:
C3: Vùng nhìn thấy
của gương cầu lồi rộng
hơn vùng nhìn thấy của
gương phẳng,vì vậy
giúp cho người lái xe
nhìn được khoảng rộng
hơn ở đằng sau.
C4: Người lái xe nhìn

vào trong gương cầu
lồi thấy được xe cộ và
người bị các vật cản
bên đường che khuất,
tránh được tai nạn.

4) Củng cố bài: (5 phút) GV chia lớp thành hai nhóm tổ chức trò chơi;
mỗi nhóm chọn 2 em lên bảng. Mỗi nhóm chỉ cầm 1 viên phấn lần lượt 1
em sẽ viết 1 câu trả lời và trao phấn cho em kia viết câu còn lại. Xem
nhóm nào làm nhanh, đúng. Dưới lớp vừa làm vừa theo dõi và nhận xét.
GV chiếu câu hỏi và tổ chức cho HS trò chơi trên:
?ảnh của vật tạo bởi gương cầu lồi có tính chất gì?


Điểm < 5 Điểm 0 - 2
Điểm  5
Điểm
Khá - giỏi
SL % SL % SL % SL %
108 14 12,96 0 0 94 87,04 40 37,0

Qua kết quả trên tôi nhận thấy rằng việc sử dụng phương pháp dạy
học bằng thực nghiệm trong dạy học vật lý đã làm cho chất lượng học tập
của học sinh từng bước được nâng lên một cách rõ rệt, học sinh đã tự
mình nắm vững kiến thức, đặc biệt là học sinh yếu kém đã có hứng thú
hơn trong học tập. Do đó cần phải đưa phương pháp dạy học thực nghiệm
vào trong quá trình giảng dạy bộ môn Vật lý. Phương pháp này không
những có hiệu quả trong dạy học chương: Quang học (vật lý 7) mà nên
được áp dụng rộng rãi trong dạy học bộ môn Vật lý lớp 6, 7, 8, 9 ở trường
THCS .
E. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Việc tổ chức thực hiện bằng phương pháp dạy học thực nghiệm
trong dạy học vật lý có hiệu quả để đạt được mục tiêu của mỗi bài học,
cũng như để đạt được mục tiêu của chương trình vật lý THCS cần phải
thực hiện những việc sau:
Đối với giáo viên:
 Nghiên cứu kỹ SGK, SGV và các tài liệu có liên quan đến bài dạy.

cao chất lượng dạy học bộ môn vật lý và đã thu được một số kết quả nhất
định. Tuy nhiên đây chỉ mới là một số kinh nghiệm nhỏ được rút ra trong
quá trình dạy học của bản thân.
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài chắc chắn sẽ có
những tồn tại, khiếm khuyết không thể tránh khỏi. Tôi rất mong được sự
góp ý chân thành, thẳng thắn của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp để
bản sáng kiến kinh nghiệm ngày càng được hoàn thiện hơn góp phần vào
việc nâng cao chất lượng dạy học nói chung và chất lượng dạy học vật lý
nói riêng.
Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu - Giáo viên và
học sinh trường THCS Dương Thủy đã quan tâm góp ý, giúp đỡ, tạo điều
kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này.

Dương Thủy, ngày 25 tháng 03 năm
2010
Người thực hiện Bùi Thị Kim Lan

Xác nhận của hội đồng khoa học


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status