Sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu Văn bản văn học, chương trình Ngữ Văn lớp 12.
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY
ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC, CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong dạy- học môn Ngữ Văn ở trường THPT nói chung, chương trình lớp 12
nói riêng, các tiết đọc- hiểu Văn bản văn học (VBVH) trong phân môn Đọc văn có
tầm quan trọng đặc biệt. Không hề vô lý khi có ý kiến cho rằng hứng thú và chất
lượng dạy- học môn Văn phần lớn được quyết định bởi các giờ học này. Các tiết đọchiểu VBVH đã bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, năng lực thẩm mỹ cho học sinh. Bên
cạnh đó, nó còn cung cấp cho các em những kiến thức căn bản, phong phú, đa dạng,
bổ ích và thiết thực về tác giả, tác phẩm văn học. Xét trong mối quan hệ với phân môn
Làm Văn, các tiết đọc- hiểu VBVH thực sự trở thành trợ thủ đắc lực giúp học sinh
thực hiện những bài nghị luận văn học một cách thuận lợi và đạt hiệu quả cao nhất.
Ngoài ra, với quan điểm dạy học tích hợp, thông qua các giờ đọc- hiểu, người giáo
viên có thêm cơ hội để củng cố một số kiến thức cũng như rèn luyện thêm một số kỹ
năng làm bài nghị luận văn học mà các em đã được học trong các tiết lý thuyết Làm
Văn như thao tác lập luận phân tích, thao tác lập luận so sánh,…
Trong thực tế, chúng ta cũng đã nhiều lần bắt gặp những đề nghị luận văn học
yêu cầu học sinh phải biết sử dụng phương pháp so sánh để làm bài. Ví dụ:
Đề thi tuyển sinh Đại học khối C năm 2010:
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn văn sau:
(…) Con Sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình,đầu tóc, chân
tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và mù khói
núi Mèo đốt nương xuân. Tôi đã nhìn say sưa làn mây mùa xuân bay trên Sông Đà,
tôi đã xuyên qua đám mây mùa thu mà nhìn xuống dóng nước Sông Đà. Mùa xuân
dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông
Gâm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu
bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về (…)
(Người lái đò Sông Đà- Nguyễn Tuân, Ngữ Văn 12)
(…) Từ Tuần về đây, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn,vượt
qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản để sắc nước trở nên xanh thẳm, và từ
phải so sánh thì không được so sánh mà lại tiến hành so sánh những vấn đề không căn
cốt, khiến việc đọc- hiểu tác phẩm không đạt hiệu quả.
Hoặc, giáo viên lạm dụng phương pháp so sánh. Sử dụng nhiều hoạt động so
sánh trong một tiết dạy, so sánh tràn lan không vào chủ đề gây ảnh hưởng đến tiến
trình giảng dạy, biến giờ dạy học tác phẩm văn học thành giờ thực hành sử dụng
phương pháp của mình. Cũng có khi giáo viên tiến hành so sánh vượt quá giới hạn: so
sánh những yếu tố của tác phẩm với những vấn đề quá rộng hoặc quá xa vời, không
phù hợp với năng lực học tập của học sinh.
Ngoài ra, có một số giáo viên lúng túng trong việc sử dụng kết quả so sánh
nên đã dùng nội dung so sánh để thay thế cho nội dung phân tích tác phẩm; biến hoạt
động so sánh từ một phương tiện để khám phá tác phẩm thành mục đích của quá trình
phân tích, khám phá.
Tất cả những khó khăn trên đều ảnh hướng không tốt đến quá trình khai thác
các nội dung kiến thức của bài dạy, phá hủy tính hệ thống của chuỗi kiến thức bài học
mà học sinh cần chiếm lĩnh.
Xuất phát từ nhận thức của bản thân về tầm quan trọng của tiết dạy đọc- hiểu
VBVH trong dạy học môn Văn; xuất phát từ những khó khăn của một số đồng nghiệp
khi sử dụng phương pháp so sánh trong dạy-học; với mong muốn các tiết dạy đọchiểu VBVH không chỉ cung cấp, mở rộng, khắc sâu được kiến thức bài học mà còn
củng cố thêm kỹ năng so sánh trong nghị luận văn học để học sinh có thể giải quyết
được những đề bài tương tự như các đề đã nêu, trong quá trình giảng dạy các tiết đọchiểu VBVH chương trình ngữ Văn THPT cũng như chương trình Ngữ Văn lớp 12, tôi
Giáo viên: Cao Thị Xuyến- Trường THPT Sông Ray
2
Sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu Văn bản văn học, chương trình Ngữ Văn lớp 12.
đã sử dụng phương pháp so sánh trong sự phối hợp với các phương pháp dạy- học
Văn khác. Trân trọng trình bày cùng quí đồng nghiệp một vài kinh nghiệm “Sử dụng
phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu văn bản văn học, chương trình Ngữ
sức tự nhiên. So sánh các hiện tượng văn học đã trở thành phương pháp nghiên cứu
văn chương nên việc sử dụng nó trong dạy đọc- hiểu VBVH hoàn toàn có cơ sở.
So sánh trong dạy đọc- hiểu VBVH là phương pháp đối chiếu các tín hiệu
nghệ thuật, các vấn đề nội dung, tư tưởng, quan điểm,…. tương đồng, gần gũi hoặc
Giáo viên: Cao Thị Xuyến- Trường THPT Sông Ray
3
Sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu Văn bản văn học, chương trình Ngữ Văn lớp 12.
tương phản, khác biệt giữa VBVH này với VBVH khác hoặc giữa phần này với phần
khác trong cùng một VBVH.
VBVH thể hiện sâu sắc cá tính sáng tạo của người viết ở cách nhìn, cách cảm,
cách diễn đạt hiện thực đời sống. Nó mang dấu ấn và hơi thở của thời đại người nghệ
sĩ sống và viết. Vì thế, trong dạy đọc- hiểu VBVH, giáo viên cần quan tâm so sánh
phong cách nghệ thuật của các tác giả hoặc phong cách của một tác giả qua những
chặng đường sáng tác khác nhau.
2. Cơ sở thực tiễn
Mọi sự sáng tạo nghệ thuật đều bám rễ sâu sắc vào hiện thực đời sống con
người. Vì thế, trong quá trình sáng tác, chắc chắn các nhà văn sẽ có những điểm gặp
gỡ hoặc gần gũi nhất định về cảm hứng, đề tài nghệ thuật hoặc thông điệp muốn
truyền tải,… Thậm chí, sự gặp gỡ này không giới hạn trong phạm vi quốc gia mà đã
mở rộng trên phạm vi quốc tế, bất chấp ranh giới và sự khác biệt về văn hóa, ngôn
ngữ. Mặt khác, nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng lại là sự tái tạo cuộc đời qua
lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. Cho nên, mỗi VBVH đã là một thế giới nghệ
thuật độc đáo đúng như nhận định: Với nghệ thuật thế giới xuất hiện trong tác phẩm
luôn là cái mới đầu tiên. Bởi vậy, tự thân các văn bản văn học, trong đó có các văn
bản được đưa vào chương trình Ngữ văn THPT và Ngữ Văn lớp 12 đã luôn tiềm ẩn
những điều kiện để vận dụng phương pháp so sánh trong tìm hiểu, giảng dạy.
giả khác hay văn bản khác của cùng một tác giả.
GV có thể sử dụng phương pháp so sánh văn bản này với văn bản của tác giả
khác khi đó là những tác phẩm có cùng đề tài, cùng mô típ, … nhưng khác nhau về
loại hình, thời điểm sáng tác,… như Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh và Bình
Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi; Vợ Nhặt của Kim Lân và Vợ chồng A Phủ của Tô
Hoài với Tắt Đèn của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao; Đất nước của Nguyễn
Khoa Điềm với Đất nước của Nguyễn Đình Thi…
Khi dạy bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, giáo viên có thể xác định ngay phạm
vi so sánh là những bài thơ viết về đề tài tình yêu của Xuân Diệu, Bùi Minh Quốc,
Đoàn Thị Lam Luyến,… Trong đó nên ưu tiên so sánh Sóng với một số bài thơ tình
của Xuân Diệu. Sự so sánh này giúp ta nhận ra điểm khác biệt độc đáo trong việc
chọn lựa hình tượng thơ cũng như quan niệm khác nhau về tình yêu, cách biểu hiện
xúc cảm và những rung động trong tình yêu của hai tác giả, hai người khác phái. Nhất
là phải nhấn mạnh được chất “nữ tính” đằm thắm trong thơ tình của nữ sĩ.
Khi dạy đọc –hiểu VBVH Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã
đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường, phương pháp so sánh cũng hỗ trợ
tích cực để giáo viên hướng dẫn học sinh nhận ra nét khác biệt trong phong cách nghệ
thuật của hai tác giả. Cùng là sự tài hoa, uyên bác khi khám phá vẻ đẹp của quê
hương, xứ sở qua hình ảnh những dòng sông nhưng Nguyễn Tuân vô cùng cá tính khi
dụng công ngôn từ để khai thác cái tuyệt mỹ, cái dữ dội đỉnh điểm, vượt qua giới hạn
thông thường của Sông Đà. Còn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường lại độc đáo trong
lối hành văn hướng nội, giàu xúc cảm với trí tưởng tượng lãng mạn, bay bổng làm mê
đắm độc giả khi khắc họa sông Hương trên các bình diện lịch sử, thi ca, nhạc họa,...
Bên cạnh đó, phạm vi so sánh còn là văn bản đang đọc- hiểu với văn bản khác
của cùng một tác giả. Ví dụ, khi dạy Sóng của Xuân Quỳnh có thể so sánh nó với
những bài thơ tình khác của chị như Hoa cỏ may, Tự Hát, Thuyền và Biển,… Trong
trường hợp này, so sánh sẽ giúp học sinh cảm nhận đặc điểm xuyên suốt, thống nhất
trong thơ tình Xuân Quỳnh là nỗi âu lo thường trực, rất phụ nữ về sự mong manh,
ngắn ngủi của tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. Hướng dẫn đọc- hiểu Người lái đò
Sông Đà của Nguyễn Tuân có thể so sánh nó với Chữ người tử tù nhằm nhận ra sự ổn
phẩm với những nhân vật nguyên mẫu ở ngoài đời thật hoặc với chính tác giả (một số
tác phẩm tự truyện hoặc có yếu tố tự truyện).
Phạm vi thứ ba chính là so sánh các yếu tố nghệ thuật trong cùng một tác
phẩm. Ở phạm vi này, có thể so sánh hình ảnh thiên nhiên miền Tây Bắc Bộ với
những nét trái ngược trong phần thứ nhất và phần thứ hai của bài thơ Tây Tiến. Một
miền Tây hùng vĩ, hiểm trở, hoang sơ, kỳ bí đầy sức mạnh đe dọa với người lính
trong đoạn thơ đầu và một miền Tây thơ mộng, huyền ảo làm nao lòng người trong
đoạn tiếp theo. Đối với Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân, phạm vi so sánh
cũng có thể được tiến hành trong nội bộ tác phẩm với hình tượng Sông Đà vừa hung
bạo lại vô cùng trữ tình, gợi cảm. Khi tìm hiểu tùy bút Ai đã đặt tên cho dòng sông,
trong việc khám phá vẻ đẹp của Sông Hương, nên chăng chúng ta cho học sinh đối
chiếu nét phóng khoáng, man dại, hùng vĩ của dòng sông khi ở thượng nguồn với nét
đẹp quý phái, kiều diễm khi chảy giũa lòng thành phố Huế để cảm nhận trọn vẹn vẻ
đẹp độc đáo, đa dạng của dòng sông này? Với Đàn ghi-ta của Lor-ca, tác giả Thanh
Thảo,… có thể cho học sinh so sánh khổ thơ thứ 5 và thứ 6 với khổ thơ thứ 2 của bài
thơ.
2. Lựa chọn nội dung, vấn đề cần so sánh
Để sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu VBVH, sau khi khoanh
vùng phạm vi so sánh, người giáo viên phải lựa chọn được những nội dung, vấn đề
cần so sánh thật đích đáng.
Giáo viên: Cao Thị Xuyến- Trường THPT Sông Ray
6
Sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu Văn bản văn học, chương trình Ngữ Văn lớp 12.
Như đã nói ở trên, không phải VBVH nào khi giảng dạy cũng cần phải áp
dụng phương pháp so sánh. Và ngay trong những VBVH có vấn đề cần so sánh hoặc
để so sánh thì cũng không thể so sánh bất kì chi tiết, hình ảnh hay tín hiệu nghệ thuật
Với Tây Tiến của Quang Dũng, có thể chọn một trong các vấn đề như cảm
hứng, bút pháp hoặc hình tượng người lính được khắc họa trong bài thơ để so sánh
với cảm hứng, bút pháp hoặc hình tượng người lính được khắc họa trong Đồng Chí
của Chính Hữu. Việc chọn hình tượng người lính trong Tây Tiến để so sánh với hình
tượng người lính trong Đồng Chí của Chính Hữu là một hướng đi khá phù hợp. Lý
do: Người lính Tây Tiến là hình tượng nghệ thuật mang vẻ đẹp độc đáo, khác lạ và
Giáo viên: Cao Thị Xuyến- Trường THPT Sông Ray
7
Sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu Văn bản văn học, chương trình Ngữ Văn lớp 12.
được Quang Dũng tô đậm với tất cả tình cảm chân thành, nỗi nhớ sâu sắc dành cho
đồng đội cũ. Đó cũng là hình tượng nổi bật nhất, có giá trị nhất của bài thơ.
Khi hướng dẫn học sinh đọc- hiểu đoạn trích Đất nước (Trường ca Mặt
đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm, giáo viên sẽ đứng trước vấn đề: Đây là bài
thơ viết về một đề tài rất lớn, rất quen thuộc, rất nổi bật và bao trùm văn học Việt
Nam giai đoạn 1945-1975. Bài thơ lại có nhiều biểu hiện độc đáo về giọng điệu, cách
cảm nhận, khám phá và thể hiện hình tượng Đất nước,… Vậy trong quá trình dạy- học
tác phẩm này sẽ chọn cái gì để so sánh với những tác phẩm cùng đề tài nhằm làm nổi
bật giá trị nội dung và nghệ thuật cũng như nét độc đáo của tác phẩm? So sánh giọng
thơ đậm chất suy tư, chính luận của bài thơ với giọng thơ hào sảng, đậm chất sử thi
của Đất nước- Nguyễn Đình Thi? So sánh khả năng vận dụng chất liệu văn học dân
gian của Nguyễn Khoa Điềm trong bài thơ này với khả năng vận dụng ca dao, dân ca
của Tố Hữu trong Việt Bắc? So sánh vai trò của nhân dân, tư tưởng đất nước của nhân
dân trong bài với những câu thơ nói về nhân dân trong Tiếng hát con tàu- Chế Lan
Viên hay trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu?..., Trong trường hợp này,
bản thân tôi cho rằng, giáo viên nên chọn hình tượng Đất nước làm nội dung so sánh.
Lý do: Hình tượng này đã xuất hiện rất nhiều trong thơ văn 1945- 1975 và học sinh đã
man, và phát huy được tác dụng của nó đối với việc đọc- hiểu VBVH, người giáo viên
cần đặt ra và trả lời các câu hỏi: So sánh trong trường hợp này là để làm gì? Phải tiến
hành việc so sánh như thế nào? bằng cách thức gì? Đây là công việc hết sức cần thiết
và không kém phần khó khăn.
Về mục đích so sánh:
Nhìn chung, với mỗi tác giả, tác phẩm văn học, mỗi loại tín hiệu nghệ thuật
khác nhau trong tác phẩm, người so sánh sẽ nhắm tới những mục đích cụ thể. Nhưng
có một nguyên tắc chung cần tuân thủ đó là: Mục đích của so sánh không bao giờ tách
rời hoặc đi ngược lại mục tiêu, kiến thức, kỹ năng cần đạt khi tổ chức đọc- hiểu tác
phẩm. Nói cách khác, việc sử dụng phương pháp so sánh phải hướng đến khắc sâu
kiến thức căn bản, trọng tâm của bài học; làm rõ những điểm độc đáo, những nét đặc
sắc nổi bật của tác phẩm trên phương diện nội dung và nghệ thuật hoặc làm sáng tỏ sự
thống nhất và vận động trong phong cách nghệ thuật của một tác giả,… Thậm chí,
qua việc sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu một tác phẩm văn học cụ
thể, người giáo viên có thể giúp học sinh có cái nhìn khái quát về một giai đoạn văn
học hoặc về một số mảng đề tài tiêu biểu của từng thời kỳ văn học,…
So sánh phần mở đầu trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh với đoạn
mở đầu bài Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi nhằm làm rõ thêm một dụng ý khác
của tác giả khi trích dẫn có chọn lọc những lời trong tuyên ngôn của nước Pháp và
nước Mĩ. Bằng việc trích dẫn này, Bác đã kín đáo thể hiện niềm tự hào dân tộc được
kế thừa từ truyền thống của cha ông ta xưa kia. Bác đặt cuộc Cách mạng của ta “sánh
tầm” với cuộc cách mạng của nước Pháp và nước Mĩ như Đại thi hào Nguyễn Trãi đã
từng đặt các triều đại phong kiến Việt Nam, nền văn hiến Việt Nam bình đẳng, ngang
hàng với các triều đại phong kiến và văn hóa Phương Bắc.
Khi so sánh hình tượng người lính trong Tây Tiến với người lính trong Đồng
Chí, Giáo viên cần hướng đến mục đích tô đậm vẻ lãng mạn, bi tráng, chất hào hoa,
kiêu bạc của người lính Hà thành như nét đẹp độc đáo, hiếm gặp trong thơ ca viết về
đề tài người lính thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đồng thời nhấn mạnh cách nhìn,
cách cảm, cách thể hiện mới của Quang Dũng trước một đề tài quen thuộc của thơ ca
thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đó là một trong những nguyên nhân làm nên giá trị
khá rõ sự ổn định và vận động trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. Trước
Cách mạng, nhà văn chủ yếu ca ngợi cái đẹp và chất nghệ sĩ trong tầng lớp trí thức
thích hoài cổ do bất mãn với thời cuộc. Sau Cách mạng, ông hướng ngòi bút vào
khám phá chất tài hoa, nghệ sĩ, chất anh hùng, chất “vàng mười” trong những con
người lao động với công việc bình thường, lặng thầm, vất vả nhưng không kém phần
cao cả.
Từ Chữ người tử tù đến Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân đã khẳng định
một quan niệm mới mẻ về con người: Người anh hùng không chỉ xuất hiện trong
chiến đấu mà còn xuất hiện trong cuộc sống đời thường. Phẩm chất nghệ sĩ không chỉ
có ở người trí thức biết sáng tạo nghệ thuật mà còn hiện hữu ở những con người bình
thường khác.
So sánh hình tượng Tràng/ Thị /Mị/A Phủ trong Vợ Nhặt và Vợ chồng A Phủ
với Chị Dậu trong Tắt đèn hay Chí Phèo của Nam cao để học sinh khám phá nét mới
mẻ, độc đáo trong việc thể hiện giá trị nhân đạo của các tác phẩm do Tô Hoài và Kim
Lân sáng tạo khi cùng khai thác đề tài quen thuộc: Người nông dân bị áp bức.
Trong điều kiện bị tước quyền làm người như Mị và A Phủ hay trong hoàn
cảnh nhân phẩm, danh dự, giá trị con người bị rẻ rúng đến thảm hại như Thị, người
lao động vẫn tiềm tàng sức sống và khát vọng hạnh phúc mãnh liệt. Họ sẵn sàng
“vượt qua dự luận” và “cưỡng lại định mệnh nghiệt ngã” để tìm đường sống cũng như
tự giải thoát.
So sánh cách kết thúc của các tác phẩm này với cách kết thúc của Tắt đèn hay
Chí Phèo cũng góp phần làm rõ: Vợ chồng A Phủ và Vợ Nhặt có kết thúc mở, kết
thúc có hậu. Cách kết thúc ấy chịu sự chi phối của quan niệm sáng tác mới, thế giới
Giáo viên: Cao Thị Xuyến- Trường THPT Sông Ray
10
Sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu Văn bản văn học, chương trình Ngữ Văn lớp 12.
so sánh tương đồng hoặc so sánh tương phản. So sánh tương đồng là so sánh nhằm
chỉ ra những nội dung, những vấn đề có mối quan hệ gần gũi hoặc có những điểm khá
giống nhau. So sánh tương phản là so sánh để chỉ ra những điểm khác biệt của những
vấn đề, những nội dung được đem ra đối chiếu, so sánh với nhau.
Tác phẩm văn học được ví như “vân chữ” của nhà văn, nhà thơ nên mỗi tác
phẩm là cả một thế giới nghệ thuật độc đáo không lặp lại cái đã có. Vì vậy, khi sử
dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu VBVH, giáo viên không chỉ dừng lại
ở chỗ chỉ ra rằng tác phẩm/ tác giả này gặp gỡ với tác phẩm/tác giả khác ở điểm nào
(đề tài, kiểu nhân vật trung tâm, cách tổ chức các tín hiệu nghệ thuật trong tác phẩm,
Giáo viên: Cao Thị Xuyến- Trường THPT Sông Ray
11
Sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu Văn bản văn học, chương trình Ngữ Văn lớp 12.
…). Điều quan trọng trong so sánh là chỉ ra nét độc đáo, riêng có của nhà văn này so
với nhà văn khác khi cùng khám phá một hiện thực đời sống gần gũi hoặc tương đồng
với nhau. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta phải sử dụng kết hợp cả so sánh
tương đồng và so sánh tương phản khi hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tác phẩm văn
học.
4. Tiến hành so sánh trong dạy đọc- hiểu VBVH
Để thực hiện việc so sánh trong giờ đọc- hiểu VBVH, có những giáo viên tự
so sánh cho học sinh để tránh mất thời gian và đảm bảo trọng tâm so sánh. Trong
trường hợp này, sự so sánh giúp mở rộng kiến thức bài học nhưng chưa rèn được kỹ
năng so sánh trong nghị luận văn học cho học sinh. Bản thân tôi cho rằng, trong từng
điều kiện cụ thể, thích hợp chúng ta nên thiết kế những câu hỏi để chính các em thực
hiện thao tác so sánh thông qua việc trả lời câu hỏi giáo viên nêu ra.
Yêu cầu đặt ra là câu hỏi so sánh của giáo viên cần rõ ràng, phù hợp. Ví dụ:
Câu hỏi “Em hãy so sánh bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng với bài thơ Đồng Chí
Sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu Văn bản văn học, chương trình Ngữ Văn lớp 12.
Hữu,… thì việc so sánh sẽ không đạt được mục tiêu, không thể thành công như mong
đợi.
Khi tiến hành so sánh, giáo viên phải sử dụng hợp lí kết quả so sánh. Giáo
viên luôn phải ghi nhớ: Kết quả so sánh chỉ là một phương tiện, là một con đường
giúp học sinh đi vào tác phẩm, không được lấy nội dung so sánh thay thế cho việc
khám phá, phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật bài văn, bài thơ.
Ví dụ với việc đọc- hiểu bài Sóng của Xuân Quỳnh, giáo viên có thể hướng
dẫn học sinh so sánh nỗi nhớ trong tình yêu của nhân vật em “Lòng em nhớ đến anh/
cả trong mơ còn thức” với nỗi nhớ trong tình yêu của nhân vật anh- “Anh nhớ tiếng,
anh nhớ hình, anh nhớ ảnh/ anh nhớ em anh nhỡ lắm em ơi” - Xuân Diệu) để nhận ra
nỗi nhớ là dấu hiệu dấu hiệu đặc trưng của tình yêu và cách thể hiện nỗi nhớ của
Xuân Quỳnh vô cùng độc đáo: nhớ da diết, khắc khoải, bất chấp mọi quy luật. Nhưng
việc tìm hiểu ý nghĩa, giá trị của bài thơ không dừng ở đó. Giáo viên phải biết dùng
kết quả so sánh đó để tiếp tục hướng dẫn học sinh cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn
người con gái đang yêu. Nhân vật “em” của bài thơ chủ động trong hành trình đi tìm
tình yêu, với nỗi nhớ nhung mãnh liệt, với tấm lòng thủy chung son sắt, với khát vọng
cao cả về một tình yêu vĩnh hằng. Tất cả được “em” giãi bày chân thực không ngần
ngại. Tuy thế, “em” cũng vô cùng nữ tính, yếu đuối và hay ưu tư, lo lắng như bất kỳ
người con gái đang yêu nào!
Khi sử dụng phương pháp dạy học này, giáo viên cũng cần chúy ý: Phương
pháp so sánh tuy có những ưu điểm nhất định nhưng việc áp dụng phương pháp này
phải có giới hạn. Nếu lạm dụng, việc so sánh sẽ trở nên phản tác dụng, ảnh hưởng đến
tiến trình dạy - học của giáo viên và học sinh. Chúng ta chỉ nên lựa chọn nội dung nào
tiêu biểu nhất trong văn bản văn học đang được đọc- hiểu để tiến hành so sánh.
Có một số giáo viên khi sử dụng phương pháp so sánh để hướng dẫn học sinh
đọc- hiểu bài thơ Tây Tiến đã liên tục so sánh bài thơ này với bài Đồng Chí của
Chính Hữu trên rất nhiều phương diện: hoàn cảnh xuất thân của người lính, địa bàn
hoạt động, đặc điểm, vẻ đẹp của người lính, bút pháp khắc họa người lính,… khiến
60/85
70.6%
28/60 = (46.7%)
Bài KT học kỳ II
73/85
85.9%
30/73 = (41.1%)
Điểm TBm HKI
76/85
89.4%
30/76 = (39.5%)
Điểm TBm HKII
80/85
94.1%
35/80 = (44%)
83/89
93.3 %
31/83 = (37.3 %)
Điểm TBm HKI
83/89
93.3%
31/83 = (37.3%)
Điểm TBm HKII
85/89
95.5%
37/85 = (43.5%)
Điểm TBm CN
84/89
94.4%
34/84 = (40.5%)
nội dung, nghệ thuật của văn bản đang tìm hiểu và không phá vỡ tính chỉnh thể của
tác phẩm.
Giáo viên không dùng kết quả so sánh thay thế toàn bộ nội dung cần đạt trong
tiến trình hướng dẫn học sinh đọc- hiểu VBVH.
Như tất cả các phương pháp dạy- học Ngữ Văn khác, việc vận dụng phương
pháp so sánh trong mỗi tiết dạy đọc- hiểu VBVH chỉ có thể thành công khi giáo viên
có sự chuẩn bị chu đáo và nhận được sự phối hợp tích cực của học sinh từ khâu chuẩn
bị đến khâu thực hiện. Ngay trong quá trình thiết kế bài dạy, thiết kế câu hỏi hướng
dẫn học sinh đọc- hiểu văn bản trên giáo án, giáo viên đã phải thể hiện ý đồ sử dụng
phương pháp so sánh của mình. Đồng thời, trước mỗi tiết đọc- hiểu VBVH, giáo viên
cần yêu cầu học sinh chuẩn bị tốt cho bài học bằng việc trả lời câu hỏi của sách giáo
khoa; suy nghĩ về những vấn đề giáo viên đặt ra qua phiếu học tập; đọc lại hoặc đọc
thêm tư liệu tham khảo là những văn bản giáo viên có thể đem ra so sánh, đối chiếu
với văn bản sẽ học,.. Nếu công việc này không được thực hiện nghiêm túc, chu đáo
thì việc sử dụng phương pháp so sánh sẽ mang tính tùy hứng, ảnh hưởng đến tiến
trình chung của toàn bài.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo viên: Cao Thị Xuyến- Trường THPT Sông Ray
15
Sử dụng phương pháp so sánh trong dạy đọc- hiểu Văn bản văn học, chương trình Ngữ Văn lớp 12.
1. Đỗ Ngọc Thống, 2003, “Chương trình Ngữ văn THPT và việc hình thành
năng lực văn học cho học sinh”, Tạp chí giáo dục số 66, trang 26-28
2. Nguyễn Như Ý, Đỗ Việt Hùng, Phan Xuân thành, Từ điển Tiếng Việt căn
bản, Nxb Giáo dục.
3. Trần Đình Sử, 2004, “Đọc- hiểu văn bản- một khâu đột phá trong việc dạy