i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ THANH TUYỀN SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY HỌC
THƠ XUÂN DIỆU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Ái Học
1.2. Cơ sở thực tiễn
19
1.2.1. Thực trạng dạy văn, học văn ở nhà trường trung học phổ thông
19
1.2.2. Điều tra thực trạng
20
Tiểu kết
31
Chƣơng 2: SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY HỌC
THƠ XUÂN DIỆU Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
32
2.1. Vị trí nhà thơ Xuân Diệu
32
2.1.1. Vị trí nhà thơ Xuân Diệu trong văn học Việt Nam
32
2.1.2. Vị trí nhà thơ Xuân Diệu trong nhà trường THPT Việt Nam
35
2.2. Các chặng đường sáng tác và trong phong cách nghệ thuật thơ
Xuân Diệu
37
2.2.1. Các chặng đường sáng tác
37
2.2.2. Một số đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ Xuân Diệu
40
2.2.3. Định hướng sử dụng biện pháp so sánh khi dạy thơ Xuân Diệu
trước cách mạng tháng Tám
61
3.3.2. Nhận xét giáo án thực nghiệm
108
3.3.3. Kết quả thực nghiệm
108
Tiểu kết 3
110
KẾT LUẬN
111
TÀI LIỆU THAM KHẢO
113
- 3 -
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BPDH
Biện pháp dạy học
ĐC
Đối chứng
DH
Dạy học
ĐHSPHN
- 4 -
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Bảng thống kê việc sử dụng biện pháp so sánh trong giáo án
dạy bài thơ “Vội vàng”.
24
Bảng 1.2: Bảng thống kê tình trạng học văn, học bài thơ “Vội vàng” của HS.
25
Bảng 3.1: Bảng thống kê kết quả bài viết của học sinh sau khi học bài
thơ “Vội vàng”.
109
Trên tinh thần đó, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khoá IX khi nói về giáo
dục đào tạo đã nhấn mạnh “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện,
đổi mới nội dung phương pháp dạy và học phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ
và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học
vấn… ” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc
gia 2001, tr108,109).
Như vậy trên con đường hội nhập với thế giới, Đảng, Nhà nước ta đặc
biệt chú trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, trong đó yêu
cầu phải đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy là vấn đề
then chốt.
- 8 -
Gần đây nhất, trong lần thay sách giáo khoa Ngữ văn 2006, việc đổi
mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương
pháp dạy học. Chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy và học chúng ta mới
có thể tạo được sự đổi mới trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người
năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều
nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.
Môn Văn vừa nằm trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân
văn, bộ môn thuộc lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ, vừa là một bộ môn có tính chất
công cụ. Nó không những nuôi dưỡng tâm hồn mà còn giúp con người hình
thành và phát triển và hoàn thiện nhân cách. Dạy Văn có thể coi là một nghệ
thuật, nghệ thuật cảm thụ cái đẹp và phô diễn cái đẹp, nó lắng đọng trong tâm
hồn, là khát vọng vươn tới chân, thiện, mỹ. Người giáo viên là chiếc cầu nối
không thể thiếu để học sinh đến được với những giá trị đích thực của tác phẩm
văn chương. Bằng tâm huyết, tri thức và khả năng sư phạm của mình, người
thầy sẽ đem đến cho học sinh những điều mới mẻ, củng cố niềm tin, sự hứng
thú, khơi dậy niềm đam mê và tình yêu văn học, để rồi văn học chiếm vị trí
xứng đáng trong hành trang tri thức của các em. Cũng từ đây, các em sẽ lớn
dần lên qua những giờ dạy Văn hiệu quả ấy, bởi văn học có khả năng thanh lọc
văn học nghệ thuật (đợt I).
Xuân Diệu và tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy từ sau năm
1980 cùng một số nhà thơ cùng thời một họ dần dần đã có chỗ đứng trong
chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Đặc biệt từ thập kỷ 90 của thế kỷ
trước lại đây, học sinh được học nhiều hơn về Xuân Diệu, học tới 5 tiết ở lớp
11 (sau Nam Cao; bằng Tố Hữu và ngang bằng Nguyễn Tuân), trong đó bài
thơ "Vội vàng" rút ra từ tập “Thơ thơ” in năm 1938, được đưa vào giảng dạy
trong chương trình Ngữ văn lớp 11 hiện nay là tác phẩm có nhiều mới, lạ và
độc đáo. Bài thơ tập trung cao nhất niềm khát khao giao cảm với đời đến
cuống quýt; là hồn thơ hăm hở, sôi nổi, yêu đời yêu sống đến cuồng nhiệt; là
cái khát vọng của mình giữa tuổi trẻ và xuân tình; là một cảm xúc triết học
một quan niệm nhân sinh mới mẻ. Mà để chiếm lĩnh, cảm nhận được những
- 10 -
niềm cảm xúc đó và cảm nhận được cái mới mẻ xưa nay chưa từng có trong
tác phẩm vậy phải tìm đến biện pháp dạy học so sánh.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Sử dụng biện
pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông”.
2. Lịch sử vấn đề
Xuân Diệu một tác gia lớn, có vị trí quan trọng trong nền văn học hiện
đại Việt nam. Hơn nửa thế kỷ cầm bút ông đã để lại cho đời một di sản văn
học đồ sộ. Thực tế cho thấy các tác phẩm của Xuân Diệu ngay từ khi mới ra
đời đã gây xôn xao dư luận bởi trong thơ ông một phong cách mới, lạ, độc
đáo một phong cách rất Tây. Tác phẩm của ông được nhiều thế hệ đón nhận
với niềm say mê, yêu thích, được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Những
tác phẩm ấy đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Trên thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Xuân Diệu, về
biện pháp giảng dạy thơ Xuân Diệu.
2.1. Nghiên cứu của chuyên ngành văn học Việt Nam
Trước cách mạng tháng Tám
thể hiện tâm hồn nồng nàn, nồng nhiệt của Xuân Diệu và chỉ rõ đặc sắc nghệ
thuật của ông.
Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn có những công trình khác
như: “Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca”(do Huy Cận và Hà Minh
Đức chủ biên), “Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám năm 1945”(qua
“Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”) của Lý Hoài Thu, luận án tiến sĩ “Thế
giới nghệ thuật thơ ca Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám 1945” của tác
giả Lê Quang Hưng, và cuốn “Ba đỉnh cao Thơ mới” của Chu Văn Sơn.
Ngoài ra còn một số bài viết như: “Trường nghĩa của từ yêu trong thơ
Xuân Diệu (So sánh với Nguyễn Bính)” Của Vũ Thi Ân Báo Ngôn ngữ số 9 [tr.
27-37]- 2003; “Hư từ và giá trị biểu đạt của hư từ trong bài thơ “Vội vàng”-
Xuân Diệu” của Bùi Thanh Hoa-Tạp chí khoa học số 2 [tr. 42-45] 2005;…
Tóm lại, Xuân Diệu là nhà thơ lớn trong phong trào Thơ mới nói riêng
và nền văn học hiện đại nói chung. Xuân Diệu đã là một mảnh đất nghiên cứu
- 12 -
lớn cho nhiều nhà nghiên cứu và sẽ còn nhiều vấn đề được khai thác và tìm
hiểu ở tác giả này qua những tác phẩm của ông.
2.2. Nghiên cứu của chuyên ngành phƣơng pháp
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về việc giảng dạy thơ văn của
Xuân Diệu trong nhà trường cũng đã có những đóng góp đáng kể: “Phương
pháp dạy học văn chương trong nhà trường” của PGS.TS.Nguyễn Viết Chữ
đã gợi ý phân tích tác phẩm “Thơ duyên” và “Vội vàng” của Xuân Diệu”;;
“Thiết kế bài giảng ngữ văn 11” của Nguyễn Văn Đường…
Ngoài ra còn có một số khóa luận như: “Phương pháp phân tích tác
phẩm trữ tình của Xuân Diệu trong nhà trường PT” của Nguyễn Kim Hằng,
“Một số phương pháp và biện pháp dạy học thơ lãng mạn của Xuân Diệu
trong chương trình lớp11 THPT” của Nguyễn Thị Mai Phương, luận văn thạc
sĩ “Hướng dạy học mới bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu” của Trương Văn
Đề xuất biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu trong trường
trung học phổ thông để nâng cao khả năng cảm nhận thơ Xuân Diệu.
6. Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ
thông (lớp 11 cơ bản).
7. Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở lớp 11
cơ bản sẽ nâng cao khả năng cảm nhận thơ Xuân Diệu của học sinh trung học
phổ thông.
8. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài để xác định cơ sở lí
luận của việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở
trường trung học phổ thông.
- Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học thơ Xuân Diệu trong trường
trung học phổ thông.
- 14 -
- Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu trong sách
giáo khoa Ngữ văn 11 ban cơ bản ở trường trung học phổ thông.
- Thiết kế phương án dạy học cho bài thơ “Vội vàng” - Xuân Diệu -
Ngữ văn 11 cơ bản có sử dụng biện pháp so sánh.
- Thực nghiệm sư phạm, kiểm nghiệm tính hiệu quả của việc sử dụng
biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu trong sách giáo khoa ngữ văm
11 ban cơ bản ở trường trung học phổ thông.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng biện pháp nghiên cứu các tài liệu, sách báo liên quan đến đề
tài để xác định cơ sở lí luận của đề tài.
9.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra giáo dục, sử dụng phương pháp này để khảo sát tình hình dạy
xen, hỗ trợ nhau trong quá trình nghiên cứu tạo ra sự cộng hưởng về hiệu quả.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm có 3 chương
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về biện pháp so sánh trong dạy
học văn ở trường trung học phổ thông.
Chƣơng 2: Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở
trường trung học phổ thông.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm. - 16 -
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG
DẠY HỌC VĂN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lý luận
Thuyết trình kiểu so sánh, tổng hợp: Nếu nội dung của vấn đề trình bày
chứa đựng những mặt tương phản thì giáo viên cần xác định những tiêu chí để
so sánh từng mặt, thuộc tính hoặc quan hệ giữa hai đối tượng đối lập nhau
nhằm rút ra kết luận cho từng tiêu chí so sánh. Mặt khác, giáo viên có thể sử
dụng số liệu thống kê để phân tích, so sánh rút ra kết luận nhằm góp phần làm
tăng tính chính xác và tính thuyết phục của vấn đề.
1.1.1. Biện pháp dạy học so sánh
1.1.1.1. So sánh
Khái niệm so sánh
So sánh chính là một thao tác của hoạt động tư duy lôgíc nhằm giúp
con người tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt khi đưa đối tượng này ra
đối chiếu với đối tượng khác dựa trên một tiêu chí nào đó, từ đó nhận thức sâu
sắc và làm nổi bật đối tượng.
Cuốn “Từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê (chủ biên) đã đưa ra cách
trong các đối tượng khác” hay “dấu hiệu không tồn tại ở đối tượng cần định
nghĩa nhưng lại có trong đối tượng dùng để so sánh với nó khi định nghĩa”.
Từ đó chúng ta có thể hiểu muốn nhận thức đối tượng sâu sắc cần so sánh, đặt nó
với đối tượng khác.
Trong cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 6 thì “So sánh là đối chiếu sự vật,
sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng, nhằm tăng sức gợi
hình gợi cảm cho sự diễn đạt”.
Trong thực tế đời sống, trong giao tiếp hàng ngày, chúng ta rất hay
dùng biện pháp so sánh, đối chiếu để làm nổi bật đặc điểm riêng, những nét
riêng độc đáo của một đối tượng nào đó. Như thế, so sánh là một thao tác
nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật hoặc là các mặt trong cùng một sự vật để
thấy sự giống và khác nhau. So sánh cũng được đưa vào giảng dạy trong nhà
- 18 -
trường phổ thông như một thao tác chủ đạo. Đây là một thao tác thúc đẩy quá
trình vận động tư duy để tìm tòi cái mới.
Tác dụng của biện pháp so sánh
So sánh vừa có tác dụng gợi hình, giúp cho việc miêu tả sự vật, sự việc
được cụ thể, sinh động, vừa có tác dụng biểu hiện tư tưởng, tình cảm sâu sắc
của người nói hay người nghe.
Chẳng hạn để giúp người nghe hình dung rõ sự vật, đối tượng người nói
có thể lấy những sự vật, đối tượng có những nét tương đồng để so sánh: Khi
miêu tả con mèo người nói có thể lấy những hình ảnh của con hổ để so sánh,
muốn diễn tả hoạt động của mèo có thể so sánh với một số con vật khác có nét
tương đồng, nhưng cũng có khi lấy những nét khác biệt để so sánh làm nổi bật
đối tượng
1.1.1.2. Biện pháp so sánh trong dạy học
Trong dạy học ở các cấp học nói chung và ở trường trung học phổ
thông nói riêng biện pháp so sánh được sử dụng tương đối rộng dãi. Bởi để
tăng hiệu quả tiếp nhận cho học sinh ngoài các biện pháp dạy học tích cực
cũng đã luôn sử dụng biện pháp so sánh để phát hiện vẻ đẹp độc đáo của bài
văn, bài thơ.
Ngày nay, biện pháp so sánh Văn học đã vượt quá giới hạn và tính chất
của một phương pháp khoa học để trở thành một khuynh hướng, một trào lưu
nghiên cứu văn học ở nhiều nước. Ở đây, chỉ giới hạn vấn đề trong phạm vi
một phương pháp văn học. Trong thực tế so sánh nghiên cứu phê bình lí luận
cũng như giảng dạy văn học trở thành một biện pháp có hiệu lực và khá quen
thuộc của nhiều nhà khoa học có kinh nghiệm. Mặc dù chưa được công nhận
trong các công trình biện pháp phân tích văn học, thậm chí ngay cả trong ý
thức của bản thân những người sử dụng nó lấy đó làm một công cụ có hiệu
lực thực sự. Chúng ta cần trả nó về đúng vị trí ban đầu của nó trong các công
trình lí luận về biện pháp phân tích văn học trong cũng như ngoài nhà trường.
Có thể thấy gắn với việc dạy học văn trong nhà thường phổ thông thì so
sánh trong dạy học có một vai trò quan trọng.
- 20 -
Giáo viên sẽ cung cấp được cho học sinh những kiến thức không chỉ
trong tác phẩm mà còn ngoài tác phẩm. Đặc biệt khi sử dụng biện pháp so
sánh lịch đại học sinh sẽ nắm rõ hơn tiến trình phát triển của văn học. Khi sử
dụng biện pháp so sánh đồng đại học sinh sẽ nắm khái quát, tổng hợp và mở
rộng kiến thức.
Nhưng giáo viên dạy văn học so sánh cần phải đảm bảo được những
yêu cầu sau: Thứ nhất, nắm vững, sâu sắc kiến thức trong bài mình định dạy.
Thứ hai, nắm, thông hiểu kiến thức ngoài văn bản để vận dụng biện pháp so
sánh chỉ ra điểm giống và khác nhau trong văn bản. thứ ba, nội dung đem ra
phải vừa phải vừa sức phù hợp, không xa rời văn bản và thời lượng giảng dạy.
Đối với học sinh thì cần chuẩn bị bài kỹ theo câu hỏi sách giáo khoa và
của giáo viên hướng dẫn.
1.1.3.3. Những nguyên tắc so sánh trong dạy học văn
Giới hạn của so sánh trong phân tích tác phẩm văn học theo GS. Phan
từ ngữ, một chi tiết, một hình ảnh ra khỏi chính thể để so sánh với các yếu tố
ít liên quan với tác phẩm rồi bình luận một cách chủ quan, xa rời chủ đề của
tác phẩm.
1.1.3.4. Giới hạn so sánh trong dạy học văn
Trong phân tích văn học phạm vi của so sánh khá rộng rãi. Theo GS.
Phan Trọng Luận có thể chia so sánh thành ba nhóm chính như sau:
Nhóm so sánh thứ nhất
So sánh đối tượng phân tích với những tác phẩm cùng đề tài, chủ đề,
cùng mô típ nhưng khác nhau về loại hinh. Có thể so sánh một tác phẩm trong
nhà trường với một kịch bản hay một sáng tác đã được chuyển thể có thể là
phim ảnh,… có thể mang so sánh với tác phẩm đã được sân khấu hoá. So sánh
vậy càng làm nổi bật chủ đề, ý nghĩa của tác phẩm đang phân tích vừa làm
sáng rõ đặc thù về loại hình. Ở các nước khoa học kĩ thuật phát triển trong
việc giảng văn, người ta sử dụng một cách rộng rãi và thành công bằng
phương tiện màn ảnh, tivi, những bức tranh minh hoạ nghệ thuật có giá trị.
Thế giới thẩm mỹ của học sinh không những được phát triển một cách tự
- 22 -
nhiên và phong phú mà bản thân việc phân tích tác phẩm cũng được thuận lợi
sâu sắc hơn.
Nhóm so sánh thứ hai
So sánh đối tượng phân tích với cuộc sống lớn và nhỏ của tác phẩm.
Việc so sánh này không những là để khám phá vẻ đẹp riêng của tác phẩm mà
còn là vấn đề vận dụng cụ thể của phương pháp luận Mác xít vào việc nghiên
cứu tác phẩm văn học cụ thể.
Những mối liên hệ này thật đa dạng vì đó là bản thân cuộc sống sản
sinh ra tác phẩm, nơi tác phẩm đi đến và có cuộc sống đích thực của nó trong
lòng công chúng.
Có khi so sánh trực tiếp với sự kiện thực làm cơ sở cho tác phẩm. Khi
phân tích “Chí Phèo” so sánh nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến với các nguyên
văn thể hiện trong tác phẩm. Giảng “Tiếng hát sông Hương” của Tố Hữu,
nhiều giáo viên đã làm công việc so sánh với “Đời mưa gió” của Khải Hưng
để hiểu rõ hơn quan điểm sáng tác và nhân sinh quan của nhà thơ cộng sản
qua bài thơ này.
Nhóm so sánh thứ ba
Nhóm so sánh những yếu tố trong bản thân tác phẩm. Như chúng ta đã
biết những yếu tốc hợp thành bản thân tác phẩm vốn là một tập hợp, một hệ
thống nhiều yếu tố hữu hình và vô hình, của nhiều yếu tố vi mô và vĩ mô.
Phân tích bằng con đường so sánh những mối liên hệ phức tạp và đa dạng
giữa các yếu tố đó cũng là cách phát hiện ra vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm.
Phương pháp hệ thống trong giảng văn của Đái Xuân Ninh cũng căn cứ vào
đặc điểm đó của tác phẩm văn học. Mối liên hệ giữa các yếu tố đó được phân
loại theo nhiều tầng lớp. Có thể so sánh các từ, các tập hợp từ, các hình tượng,
các chi tiết, các chặng kết cấu khác nhau của tác phẩm. Có khi là sự so sánh
giữa các phần trong kết cấu của tác phẩm. Khi phân tích “Vợ chồng A Phủ”
của Tô Hoài, chúng ta thấy tư tưởng chủ đề của tác phẩm được thể hiện rõ nét
qua các chặng phát triển của nhân vật A Phủ và Mỵ. Cuộc đời của họ trải qua
- 24 -
nhiều tủi nhục dưới ách của bọn thống lý Pá Tra đến những ngày tự phát đứng
lên xây dựng cuộc sống có vợ có chồng ở Hòn Ngài cho đến chặng đường
được thực sự giải phóng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
GS. Phan Trọng Luận đã hệ thống hoá các nhóm liên hệ so sánh để
phân tích tác phẩm như sau:
Nhóm 1
+ Tác phẩm gần gũi hoặc khác biệt:
(Đề tài)
(Tác giả)
+ Cùng hoặc khác thời điểm sáng tác:
Loại hình
Khi nhắc đến phương pháp nghiên cứu của Lênin, N.K.Krupxkaia có
viết: “Lấy những tác phẩm của Mác có phân tích những tình huống tương tự,
đem phân tích tỉ mỉ các tình huống tương tự, đem phân tích tỉ mỉ các tình
huống đó, so sánh với các yếu tố đã thể nghiệm, vạch ra chỗ giống nhau và
khác nhau. Đó là phương pháp của Lênin”
Dĩ nhiên, giữa phân tích khoa học, xã hội và văn học có những chỗ
khác biệt nhưng trong hoạt động nhận thức biện pháp so sánh nếu được sử
dụng một cách thích hợp với đối tượng phân tích, chắc chắn sẽ đưa đến hiệu
quả tốt đẹp. So sánh là một trong những biện pháp quen thuộc và hữu hiệu
trong phân tích văn học cũng được hoàn thiện trong thực tiễn nghiên cứu,
giảng dạy văn học làm sao cho việc phân tích và giảng dạy văn học vừa có
tính khoa học nghiêm ngặt vừa có tính nghệ thuật đậm đà.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng dạy văn, học văn ở nhà trường trung học phổ thông
Văn học là bộ môn nghệ thuật dễ lôi cuốn và hấp dẫn song không thể
phủ nhận một thực tế đáng buồn: Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước học sinh càng lên lớp trên càng không có hứng thú học văn, đó
là mối băn khoăn không chỉ riêng của nhà giáo và ngành giáo dục mà đã trở
thành mối quan tâm chung của xã hội. Giờ học văn không hứng thú, học sinh
lạnh lùng thờ ơ với những vấn đề đặt ra trong bài văn. Những tâm tư tình
cảm, số phận của các nhân vật ít nhận được sự đồng cảm của học sinh qua
những giờ giảng văn trong nhà trường ([tr.128] – phương pháp dạy học Văn).
Theo thống kê mới nhất về kỳ thi đại học, trong số 64000 hồ sơ dự thi chỉ có
- 26 -
rất ít hồ sơ đăng ký thi khối C. Theo điều tra của Viện Khoa học Giáo dục
năm 2007 trên khoảng 4000 học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thong
ở các địa phương trong toàn quốc, số học sinh không hứng thú với việc học
tập môn Ngữ văn chiếm tới 47,6%, số học sinh hứng thú với môn học chỉ