1
Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học
thơ Xuân Diệu ở trường Trung học phổ thông
Using comparable measures for the teaching of poetry Xuan Dieu popular in high school
NXB H. : ĐHGD, 2012 Số trang 113 tr. +
Vũ Thị Thanh Tuyền Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lí luận và phương pháp dạy học ( bộ môn Ngữ văn);
Mã số:60 14 10
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Ái Học
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Nghiên cứu tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài để xác định cơ sở lí luận của
việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông.
Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học thơ Xuân Diệu trong trường trung học phổ thông. Sử
dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 ban
cơ bản ở trường trung học phổ thông. Thiết kế phương án dạy học cho bài thơ “Vội vàng” -
Xuân Diệu - Ngữ văn 11 cơ bản có sử dụng biện pháp so sánh. Thực nghiệm sư phạm, kiểm
nghiệm tính hiệu quả của việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu
trong sách giáo khoa ngữ văm 11 ban cơ bản ở trường trung học phổ thông.
Keywords: Ngữ văn; Phương pháp dạy học; Thơ; Phổ thông trung học
Content.
1. Lý do chọn đề tài
Bước vào thế kỷ XXI là bước vào một thế kỷ của khoa học kỹ thuật, của công nghệ thông tin.
Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự gia tăng như thác lũ của lượng thông tin đòi hỏi
thực của tác phẩm văn chương. Bằng tâm huyết, tri thức và khả năng sư phạm của mình, người thầy sẽ
đem đến cho học sinh những điều mới mẻ, củng cố niềm tin, sự hứng thú, khơi dậy niềm đam mê và tình
yêu văn học, để rồi văn học chiếm vị trí xứng đáng trong hành trang tri thức của các em. Cũng từ đây, các
em sẽ lớn dần lên qua những giờ dạy Văn hiệu quả ấy, bởi văn học có khả năng thanh lọc tâm hồn con
người, thấy yêu đời, yêu người và hoàn thiện mình hơn.
Trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông, khối lượng thơ Lãng mạn khá lớn nên việc
giảng dạy sao cho đạt hiệu quả là điều hết sức cần thiết. Nó có tác dụng nâng cao trình độ thưởng
thức, nâng cao phẩm chất đạo đức, nhân cách cho học sinh trong thời đại mới.
Thơ lãng mạn- phong trào Thơ Mới (1930-1945) đánh dấu bước chuyển mình của nền văn
học dân tộc từ truyền thống sang hiện đại, không ít tác phẩm giai đoạn này được đánh giá ngang tầm
với các tác phẩm xuất sắc của nền văn học phương Tây hiện đại. Trong giai đoạn này, vai trò của chủ
thể sáng tạo (cái Tôi cá nhân, cá thể) in dấu ấn đậm nét và chính điều đó đã tạo nên sự đa dạng về
phong cách cũng như bút pháp nghệ thuật. Mỗi người một quan điểm, một phong cách riêng nhưng
đều đóng góp vào quá trình cách tân, hiện đại hoá giúp cho thơ Việt nam phát triển mạnh mẽ cả bề
rộng lẫn chiều sâu, đánh dấu mốc son chói lọi trên thi đàn văn học.
Trong số những cây bút lãng mạn xuất sắc đóng góp to lớn vào sự phát triển, trưởng thành và
cách tân thơ Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nói riêng và của nền Văn học Việt Nam thế kỷ XX nói
chung được đưa vào giảng dạy ở trường trung học phổ thông, không thể không kể tới Xuân Diệu –
3
nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ Mới. Một nhà thơ lãng mạn số một của văn học Việt nam lúc bấy
giờ, ông hoàng của thơ tình. Ông là một trong số không nhiều nhà thơ đã có nhiều cống hiến cho nền văn
chương Việt Nam thế kỷ XX. Mỗi trang viết của ông đều thể hiện dạt dào cảm xúc, sự táo bạo, mới lạ
Xuân Diệu đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ với nhiều thể loại: Thơ, văn xuôi, tiểu luận, phê bình,
dịch thuật. Văn nghiệp của Xuân Diệu trải qua hai giai đoạn, trước và sau cách mạng tháng Tám. Trước
cách mạng tháng Tám Ông xứng đáng được coi là một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn. Năm 1983, ông
được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà dân chủ Đức. Năm 1996, ông được
Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I).
Xuân Diệu và tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy từ sau năm 1980 cùng một số nhà
thơ cùng thời một họ dần dần đã có chỗ đứng trong chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Đặc
- Năm 1942, Vũ Ngọc Phan trong cuốn “Nhà văn hiện đại”(Hà Nội tân dân, 1942) đã khẳng
định: “Xuân Diệu mới nhất, đằm thắm và nồng nàn nhất trong tất cả thơ mới”. Và trong cuốn “Việt
Nam văn học sử yếu”, Dương Quảng Hàm có đánh giá tập “Thơ thơ”: “Thơ thơ là một tập thơ chan
chứa tình cảm lãng mạn, trong đó có nhiều từ mới lạ, tỏ ra tác giả thật có tâm hồn thi sĩ nhưng cũng
có nhiều câu vụng về, non nớt chứng tỏ tác giả chưa lão luyện về kĩ thuật của nghề thơ”[tr.18 - 82].
Sau Cách mạng tháng Tám năm đến năm 1975
Phong trào Thơ mới nói chung, thơ ca Xuân Diệu nói riêng trở thành đối tượng bị phê
phán, công kích.
Mãi đến cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, các công trình nghiên cứu đề cập
đến thơ ca Xuân Diệu mới xuất hiện.
- Trong “Nhà thơ Việt Nam hiện đại”(công trình tập thể), các tác giả Mã Giang Lân, Nguyễn
Văn Long coi Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ và rực rỡ của
phong trào Thơ mới.
Giữa những năm 1975 đến nay
- Trong cuốn “Xuân Diệu – về tác gia và tác phẩm” của Lưu Khánh Thơ tuyển chọn và giới
thiệu, cuốn sách tập hợp khá đầy đủ và tương đối có hệ thống những bài viết về sự nghiệp văn và
cuộc đời của tác giả
- Trong cuốn “Con mắt thơ”, Đỗ Lai Thúy đã phản ánh những cố gắng, tìm tòi của các nhà
nghiên cứu về phong cách và thi pháp thơ Xuân Diệu.
- Trong cuốn “Thơ mới những bước thăng trầm”, tác giả Lê Đình Kỵ đã thể hiện tâm hồn
nồng nàn, nồng nhiệt của Xuân Diệu và chỉ rõ đặc sắc nghệ thuật của ông.
Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn có những công trình khác như: “Nhìn lại một
cuộc cách mạng trong thi ca”(do Huy Cận và Hà Minh Đức chủ biên), “Thơ Xuân Diệu trước cách
mạng tháng Tám năm 1945”(qua “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió”) của Lý Hoài Thu, luận án tiến
sĩ “Thế giới nghệ thuật thơ ca Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám 1945” của tác giả Lê Quang
Hưng, và cuốn “Ba đỉnh cao Thơ mới” của Chu Văn Sơn.
Ngoài ra còn một số bài viết như: “Trường nghĩa của từ yêu trong thơ Xuân Diệu (So sánh
với Nguyễn Bính)” Của Vũ Thi Ân Báo ngôn ngữ số 9 tr 27-37- 2003; “Hư từ và giá trị biểu đạt của
hư từ trong bài thơ “Vội vàng”- Xuân Diệu” của Bùi Thanh Hoa- Tạp chí khoa học số 2 tr 42-45
2005;…
Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu lớp 11 cơ bản và thiết kế phương án
dạy học với biện pháp đó.
4. Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp dạy học so sánh.
Tác gia và tác phẩm Xuân Diệu.
Tác giả và tác phẩm Nguyễn Bính.
Thơ Trung đại.
Sách ngữ văn 11
Phong trào Thơ mới
5. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu trong trường trung học phổ thông để
nâng cao khả năng cảm nhận thơ Xuân Diệu.
6
6. Phạm vi nghiên cứu
Biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông (lớp 11 cơ bản).
7. Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở lớp 11 cơ bản sẽ nâng cao khả năng
cảm nhận thơ Xuân Diệu của học sinh trung học phổ thông.
8. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu, sách báo liên quan đến đề tài để xác định cơ sở lí luận của việc sử dụng biện
pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông.
- Điều tra, khảo sát thực trạng dạy học thơ Xuân Diệu trong trường trung học phổ thông.
- Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 ban cơ
bản ở trường trung học phổ thông.
- Thiết kế phương án dạy học cho bài thơ “Vội vàng” - Xuân Diệu - Ngữ văn 11 cơ bản có sử dụng
biện pháp so sánh.
- Thực nghiệm sư phạm, kiểm nghiệm tính hiệu quả của việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy
học thơ Xuân Diệu trong sách giáo khoa ngữ văm 11 ban cơ bản ở trường trung học phổ thông.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
trong quá trình nghiên cứu tạo ra sự cộng hưởng về hiệu quả.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3
chương với nhiệm vụ cụ thể sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về biện pháp so sánh trong dạy học văn ở trường trung
học phổ thông.
Chƣơng 2: Sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học thơ Xuân Diệu ở trường trung học phổ thông.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm.
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BIỆN PHÁP SO SÁNH
TRONG DẠY HỌC VĂN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lý luận
Thuyết trình kiểu so sánh, tổng hợp: Nếu nội dung của vấn đề trình bày chứa đựng những mặt
tương phản thì giáo viên cần xác định những tiêu chí để so sánh từng mặt, thuộc tính hoặc quan hệ
giữa hai đối tượng đối lập nhau nhằm rút ra kết luận cho từng tiêu chí so sánh. Mặt khác, giáo viên
có thể sử dụng số liệu thống kê để phân tích, so sánh rút ra kết luận nhằm góp phần làm tăng tính
chính xác và tính thuyết phục của vấn đề.
1.1.1. Biện pháp dạy học so sánh
1.1.1.1. So sánh
Khái niệm so sánh
So sánh chính là một thao tác của hoạt động tư duy lôgíc nhằm giúp con người tìm ra những
điểm tương đồng và khác biệt khi đưa đối tượng này ra đối chiếu với đối tượng khác dựa trên một tiêu
chí nào đó, từ đó nhận thức sâu sắc và làm nổi bật đối tượng. 8
1.1.1.2.Biện pháp so sánh trong dạy học
Trong dạy học ở các cấp học nói chung và ở trường trung học phổ thông nói riêng biện pháp
Nhóm so sánh thứ hai
So sánh đối tượng phân tích với cuộc sống lớn và nhỏ của tác phẩm.
Có khi so sánh trực tiếp với sự kiện thực làm cơ sở cho tác phẩm
9
Có khi cũng cần so sánh nhân vật trong tác phẩm với nguyên mẫu:
Có khi so sánh nội dung tác phẩm với những sự kiện hay nhân vật điển hình của thời đại.
Cũng có thể phân tích bằng cách so sánh với những tác phẩm cùng chủ đề, cùng đề tài của
bản thân tác giả hoặc của những tác giả khác.
Nhóm so sánh thứ ba
Nhóm so sánh những yếu tố trong bản thân tác phẩm.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Thực trạng dạy văn, học văn ở nhà trường trung học phổ thông
Văn học là bộ môn nghệ thuật dễ lôi cuốn và hấp dẫn song không thể phủ nhận một thực tế
đáng buồn: Trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước học sinh càng lên lớp trên càng
không có hứng thú học văn, đó là mối băn khoăn không chỉ riêng của nhà giáo và ngành giáo dục mà
đã trở thành mối quan tâm chung của xã hội.
1.2.2. Điều tra thực trạng
1.2.2.1. Mục đích điều tra
Đánh giá chung những việc đã làm được và cả những tồn tại trong quá trình DH.
Tìm nguyên nhân và đưa ra giải pháp hiệu quả (Định hướng phân tích tác phẩm “Vội vàng”
theo biện pháp so sánh)
1.2.2.2. Đối tượng điều tra
GV, HS lớp 11 tại một số trường trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Tài liệu học tập, thiết bị phục vụ dạy học “Vội vàng”.
1.2.2.3. Phạm vi điều tra
- Việc dạy học của GV và HS lớp 11 THPT.
- Những thuận lợi, khó khăn khi giáo viên dạy “Vội vàng”
- Phương hướng khai thác “Vội vàng” hiện nay.
1.2.2.4. Tư liệu điều tra
tài. Các cơ sở lí luận đã nghiên cứu:
- Biện pháp so sánh và việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học văn.
- Thực tiễn dạy và học văn ở nhà trường phổ thông hiện nay.
- Khảo sát đánh giá của giáo viên về việc dạy tác gia Xuân Diệu và bài thơ “Vội vàng” trong chương
trình Ngữ văn lớp 11.
- Khảo sát việc học văn ở trường THPT đối với học sinh và phân tích thực trạng học văn ở trường
THPT.
Từ việc phân tích cơ sở lí luận chúng tôi nhận thấy việc sử dụng biện pháp so sánh trong dạy học văn
nói chung và trong dạy học bài thơ “Vội vàng” nói riêng ở nhà trường THPT kết hợp với các biện
pháp dạy học khác là cần thiết. Việc so sánh vừa làm học sinh hiểu được sâu sắc hơn về tác phẩm
đang học, mặt khác còn đặt tác phẩm đang học trong mối quan hệ với các tác phẩm văn chương khác,
với đời sống hiện thực, với bối cảnh ra đời… Từ đó, làm tăng hứng thú học tập của học sinh.
Từ đó chúng tôi đã đưa ra hướng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu Sử dụng biện pháp so sánh
trong dạy học bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu. Để thực hiện được theo hướng nghiên cứu này,
chúng tôi cũng đã dựa trên cơ sở lí luận về biện pháp so sánh và những yêu cầu, nguyên tắc của nó
để thực hiện trong việc so sánh lịch đại và so sánh đồng đại về đặc điểm thơ Xuân Diệu và định
hướng dạy học bài thơ “Vội vàng”.
11
CHƢƠNG 2
SỬ DỤNG BIỆN PHÁP SO SÁNH TRONG DẠY HỌC THƠ XUÂN DIỆU
Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1. Vị trí nhà thơ Xuân Diệu
2.1.1. Vị trí nhà thơ Xuân Diệu trong văn học Việt Nam
* Tiểu sử Xuân Diệu
* Con người Xuân Diệu
2.1.2. Vị trí nhà thơ Xuân Diệu trong nhà trường THPT Việt Nam
Trước 1980 Xuân Diệu và những nhà thơ lãng mạn Việt Nam cũng như thơ của các ông
không được đưa vào giảng dạy ở bậc học phổ thông. Sau 1980 một số nhà thơ này và các sáng tác
của họ dần dần đã có chỗ đứng trong chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Từ thập kỷ 90 của
Về văn xuôi, đã để lại nhiều trang viết đáng được gọi là kiệt tác. Nhìn chung văn xuôi Xuân
Diệu giàu chất thơ trữ tình, cảm hứng lãng mạn là chủ đạo, tuy không có những trang viết nghiêng về
cảm hứng hiện thực.
2.2.1.2. Sau Cách mạng tháng Tám
Sau Cách mạng, hồn thơ Xuân Diệu mở rộng như muốn hòa nhập tâm hồn mình vào cuộc đời
mới. Thơ Xuân Diệu thể hiện sự nỗ lực muốn hòa nhập cái tôi vào cái ta chung rộng lớn của Đất
nước.
Xuân Diệu làm việc với một cường độ phi thường, số lượng tác phẩm của ông rất lớn. Ngoài
mạng thơ chiến đấu, Xuân Diệu trở lại với thơ tình yêu trong âm điệu reo vui, đằm thắm, trữ tình.
Đến nay, Xuân Diệu được mệnh danh là "Ông hoàng của thơ tình".
2.2.2. Một số đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ Xuân Diệu
2.2.2.1. Xuân Diệu- nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới
Thế giới nghệ thuật trong thơ trữ tình Xuân Diệu mang đặc tính thẩm mĩ cao, những hình tượng
thiên nhiên và phụ nữ thoả mãn nhu cầu hưởng thụ cái đẹp trong cuộc đời. Vẻ đẹp của người đàn bà trong
sứ mệnh và thiên chức của mình biểu tượng cho cái đẹp - hạnh phúc cao cả của nhân loại.
2.2.2.2. Xuân Diệu – nhà thơ của tuổi trẻ, tình yêu
Trong thơ Xuân Diệu thể hiện tình yêu mãnh liệt, nhiều cung bậc tình cảm khác nhau: khi
mạnh mẽ, khi tha thiết, khi rạo rực, lắng sâu, hơn nữa yêu còn gắn liền với cảm xúc nhục dục.
2.2.3. Định hướng sử dụng biện pháp so sánh khi dạy thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám
2.2.3.1. So sánh lịch đại
Thơ Xuân Diệu với thơ Trung đại
Về quan niệm thẩm mỹ Trong thơ xưa nói đến cái đẹp không thể không nhắc tới tùng, cúc, trúc,
mai, long, ly quy, phượng. Còn trong thơ Xuân Diệu, lần đầu tiên ta bắt gặp cảm giác mới mẻ chưa
từng thấy khi trời xanh non, hoa lá cỏ cây, ong bướm tất cả đều mê say. Thế nhưng hoa lá cỏ cây
cũng chưa thể đẹp, mê hồn bằng thế giới của tuổi trẻ và tình yêu.
Về tƣ tƣởng cảm xúc trong thơ Xuân Diệu không giống tư tưởng cảm xúc thơ trung đại. Nếu
như thơ trung đại chịu sự chi phối mạnh mẽ của tư tưởng kinh điển, tôn giáo và học thuyết Phật,
Nho, Đạo đã ảnh hưởng và tạo nên những nét đặc thù trong quan niệm của người trung đại về bản
13
Tiểu kết 2
Trong phần này, chúng tôi xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng biện pháp so
sánh trong dạy học văn và những tồn tại của việc dạy học văn ở trường THPT. Từ đó đưa ra những
đặc trưng thơ Xuân Diệu theo hướng nghiên cứu của đề tài.
14
Để làm nổi bật về phong cách thơ Xuân Diệu và đưa ra định hướng dạy học bài thơ “Vội
vàng”. Chúng tôi đã trình bày về tác gia Xuân Diệu và vị trí của nhà thơ Xuân Diệu trong nền văn
học Việt nam. Thực hiện việc so sánh theo hai hướng lịch đại và đồng đại. Trong so sánh lịch, đại
chúng tôi thực hiện việc so sánh quan niệm thẩm mỹ, quan niệm về thời gian, về thi pháp của Xuân
Diệu với thơ Trung đại. Trong so sánh đồng đại, chúng tôi thực hiện việc so sánh thơ Xuân Diệu với
thơ của một số nhà thơ cùng thời như Nguyễn Bính, Hàn Mạc Tử, Lưu Trọng Lư về quan niệm tình
yêu, tuổi trẻ, thi pháp, không gian, ngôn ngữ, Và đặc biệt chúng tôi đi sâu hơn về việc so sánh
phong cách thơ Xuân Diệu với phong cách thơ Nguyễn Bính để làm nổi bật được phong cách “Tây”
của thơ Xuân Diệu.
Từ đó, chúng tôi nhận thấy việc sử dụng biện pháp so sánh kết hợp với các biện pháp khác
trong dạy học văn là hoàn toàn phù hợp và đưa ra định hướng sử dụng biện pháp này trong dạy học
bài thơ “Vội vàng” ở chương trình lớp Ngữ văn 11 THPT ban cơ bản.
CHƢƠNG 3
THỂ NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Những vấn đề chung
3.1.1. Yêu cầu thực nghiệm
- Thực nghiệm bằng thiết kế trong đề tài
- Thực nghiệm đối chứng
- Đánh giá kết quả thực nghiệm.
3.1.2. Mục đích của việc thực nghiệm
- Xác định tính khả thi của việc sử dụng biện pháp dạy học so sánh trong dạy học văn.
- Điều chỉnh, bổ sung đi đến khẳng định những hình thức đã nêu.
- Hiệu quả của việc thể nghiệm sẽ tạo một phần cơ sở để mạnh dạn phát huy, triển khai vận
*Khái quát những nội dung chính
- Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm.
- Đọc-hiểu tác phẩm:
+ Những cảm nhận độc đáo về thiên nhiên tươi đẹp
+ Quan niệm mới mẻ về thời gian và tuổi trẻ
+ Thái độ của nhà thơ trước cuộc đời
+ Những thi pháp nghệ thuật độc đáo.
B. Phƣơng pháp, phƣơng tiện, tài liệu học tập
1. Phƣơng pháp dạy học chủ yếu
- So sánh
- Thuyết trình kết hợp đàm thoại.
- Câu hỏi gợi mở kết hợp phần luyện tập trong SGK.
- Đọc sáng tạo
2. Phƣơng tiện, tài liệu học tập
- SGK ngữ văn 11 cơ bản (tập 2), SGV ngữ văn 11 cơ bản (tập 2), tập thơ Xuân Diệu.
- Giáo án cá nhân.
16
C. Tiến trình dạy học
3.3. Kết quả thực nghiệm
3.3.1. Nhận xét giáo án đối chứng
3.3.2. Nhận xét giáo án thực nghiệm
3.3.3. Kết quả thực nghiệm
Để so sánh tính khả thi của biện pháp dạy học so sánh người viết cho thực hiện giảng dạy đối
chứng và tiến hành so sánh kết quả tiếp nhận tác phẩm, khả năng nhận thức, tư duy của học sinh ở
các lớp thực nghiệm. GV kiểm tra thông qua một đề cụ thể.
Về mặt định tính: HS ở các nhóm TN đã tích cực, chủ động và tự lực hơn khi học bài so với
HS ở lớp ĐC. HS tỏ ra rất hứng thú và tập trung cao trong giờ học.
viên còn hiểu rất sơ giản. Qua thời gian nghiên cứu chúng tôi nhận thấy: Sử dụng biện pháp so sánh
có thể thực thi đạt hiệu quả trong dạy học thơ Xuân Diệu ở nhà trường.
Hoạt động so sánh có thể tiến hành trên hai chiều lịch đại và đồng đại.
1.1.So sánh quan niệm về thời gian trong thơ Xuân Diệu với quan niệm về thời gian trong thơ trung
đại để HS thấy được: thời gian trong thơ trung đại là thời gian tuần hoàn còn Xuân Diệu quan niệm
thời gian tuyến tính một đi không trở lại.
1.2. So sánh quan niệm về thời gian của nhà thơ cùng thời Hàn Mạc Tử, để học sinh nhận thấy sự
khác biệt: thời gian trong thơ Hàn Mạc Tử được ông “nghiệm sinh” ngay trên cuộc đời của chính
mình còn Xuân Diệu là thời gian triết lý.
1.3. So sánh quan niệm thẩm mỹ trong thơ Xuân Diệu với quan niệm thẩm mỹ trong thơ trung đại để
học sinh nhận thấy sự khác biệt: thơ trung đại lấy thiên nhiên làm chuẩn, làm thước đo cho cái đẹp
thì ngược lại Xuân Diệu lấy con người làm chuẩn, làm thước đo cho cái đẹp.
1.4. So sánh quan niệm sống, tình yêu, tuổi trẻ của Xuân Diệu với quan niệm sống, tình yêu tuổi trẻ
của một số nhà thơ cùng thời: Hàn Mạc Tử đặc biệt tập trung so sánh với Nguyễn Bính; cùng là cái
tôi cô đơn, cùng khát khao yêu thương nhưng mỗi nhà thơ lại có một phong cách khác nhau Nguyễn
Bính e ấp, nhẹ nhàng, bóng gió xa xôi rất chân quê còn Xuân Diệu thăng thắn, táo bạo mang đậm
phong cách Tây.
1.5. So sánh một số yếu tố của hình thức thơ trong thơ Xuân Diệu với thơ ca trung đại và nhà thơ
cùng thời Nguyễn Bính.
- Thơ trung đại gò bó trong luật khắt khe của thơ Đường, ngược lại thơ Xuân Diệu phóng khoáng, tự
do từ kết cấu đến vần đến nhịp
- Thơ Nguyễn Bính mang âm hưởng của thơ ca dân gian, ngôn ngữ đậm trong không gian của làng
quê Bắc Bộ; Xuân Diệu đậm đà phong cách mới lạ của phương Tây: tự do độc đáo- mới nhất trong
các nhà thơ mới.
Những so sánh trên đậy gắn với thao tác hướng dẫn trong hoạt động dạy học cụ thể nhằm tập trung
làm nổi bật những nét đặc sắc, những đóng góp nghệ thuật của thơ Xuân Diệu nói chung và bài thơ
“Vội vàng” nói riêng.
Hoạt động so sánh với những nội dung trên đây phải được thực hiện trong sự phối hợp với nhiều
biện pháp, phương pháp dạy học khác một cách đồng bộ trong hoàn cảnh cụ thể của giờ học mới
mong đạt hiệu quả cao nhất.